1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THÙY LINH
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG TRƯỜNG HỢP PHÁT HÀNH THƯ TÍN DỤNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Thanh Thủy
HÀ NỘI - 2013 3
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo
độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của
luận văn cha từng đợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
1.1.1.
Lịch sử ra đời của thư tín dụng 6
1.1.2.
Khái niệm, vai trò và đặc điểm pháp lý của thư tín dụng 7
1.1.3.
Nội dung và tính chất của thư tín dụng 11
1.2. Phân loại thư tín dụng 15
1.2.1.
Theo tính chất có thể hủy ngang 15
1.2.2.
Theo cách thức thực hiện thanh toán 16
1.2.3.
Theo thời hạn thanh toán của thư tín dụng 22
1.3. Quyền, nghĩa vụ của ngân hàng thương mại trong các quan hệ
pháp luật liên quan đến phát hành thư tín dụng
27
1.3.1.
Ngân hàng thương mại và các chủ thể khác tham gia quy trình
thanh toán thư tín dụng
27
1.3.2.
Quyền, nghĩa vụ của ngân hàng thương mại trong trường hợp
Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng
trong trường hợp phát hành thư tín dụng
58
2.2. Thực trạng phát hành thư tín dụng theo pháp luật Việt Nam 62
2.2.1.
Hạn chế của ngân hàng thương mại Việt Nam trong các
nghiệp vụ thanh toán quốc tế
62
2.2.2.
Rủi ro mà ngân hàng thương mại gặp phải trong quá trình
phát hành thư tín dụng
66
2.2.3.
Tranh chấp mà ngân hàng thương mại gặp phải trong quá
trình phát hành thư tín dụng
74
Chương 3:
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH THƯ TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
84
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về phát hành thư tín dụng
của ngân hàng thương mại Việt Nam
84
3.1.1.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
120
PHỤ LỤC
124 8
MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ngân hàng, với chức năng và nhiệm vụ của mình đóng một vai trò rất
quan trọng và không thể thiếu được đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.
Các ngân hàng, nhất là ngân hàng thương mại ở nước ta hiện nay đang trong
quá trình thực hiện chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh trước yêu cầu
mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, hội nhập quốc tế, thực hiện các cam kết
trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trọng tâm của chiến
lược này là hiện đại hóa công nghệ, phát triển dịch vụ, nâng cao trình độ
quan hệ điều hành theo chuẩn mực quốc tế. Bởi vậy, phát triển và đa dạng hóa
dịch vụ ngân hàng trở thành vấn đề tất yếu khách quan, là vấn đề cấp bách
đối với tất cả các ngân hàng thương mại trong nước. Các dịch vụ mà ngân
hàng cung cấp hiện nay cũng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của xã hội
cũng như của ngân hàng.
Phát hành thư tín dụng là một trong những dịch vụ mà các ngân hàng
thương mại đang hướng tới, là một dạng dịch vụ ngân hàng hiện đại. Dạng
dịch vụ này xuất hiện khi các bên tham gia thương mại, đặc biệt là ngân hàng
đã phát triển các kĩ thuật nghiệp vụ và các phương pháp sử dụng thư tín dụng
trong tài chính, thương mại quốc tế và đã được Phòng Thương mại Quốc tế
trong trường hợp phát hành thư tín dụng cũng để có cái nhìn đầy đủ nhất về
những việc mà ngân hàng thương mại được hưởng cũng như phải thực hiện
khi tham gia vào quan hệ pháp luật là phát hành thư tín dụng cũng như thấy
được những rủi ro, tranh chấp mà các ngân hàng này phải đối mặt trong quá
trình hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ của mình, từ đó có những giải pháp
để ngân hàng thương mại có thể phát huy tối đa năng lực của mình trong việc
thực hiện quyền, nghĩa vụ, hạn chế những rủi ro, tranh chấp và phát triển dịch
vụ phát hành thư tín dụng cho hoàn thiện nhằm phục vụ không những nhu cầu
của khách hàng trong nước mà còn đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc
10
tế, tăng uy tín của ngân hàng thương mại trong nước nói riêng, phát triển kinh
tế nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, cho đến nay, thanh toán bằng thư tín dụng vẫn là một đề
tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu như sau:
- "Vận dụng UCP 500 để giải quyết các tranh chấp trong thanh toán
xuất nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ", của Nguyễn Xuân Thu,
Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương, 1998. Với đề tài
này, tác giả đi sâu vào phân tích những tranh chấp có thể có trong hoạt động
thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ theo UCP và vận dụng những quy
định của UCP để giải quyết những tranh chấp đó.
- "Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam và thực tiễn
áp dụng", của Đỗ Văn Sử, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2004. Trong đề tài này, tác giả đã tìm hiểu các quy định
hiện hành về thanh toán bằng thư tín dụng, so sánh, đối chiếu với thông lệ
quốc tế và tìm kiếm giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
thanh toán bằng tín dụng chứng từ.
- "Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam trong điều
- Đề xuất những giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, hạn chế tranh chấp
trong quá trình ngân hàng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi phát
hành thư tín dụng, từ đó hoàn thiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực này.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam, đề tài nghiên cứu
quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thương mại trong trường hợp phát hành thư
tín dụng theo pháp luật Việt Nam.
12
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu đề tài dưới góc độ pháp luật ngân hàng, chủ yếu
trên cơ sở các quy định của luật ngân hàng Việt Nam về quyền và nghĩa vụ
của ngân hàng thương mại phục vụ bên trả tiền và ngân hàng thương mại
phục vụ bên thụ hưởng khi phát hành thư tín dụng; đề tài cũng tập trung làm
rõ một số rủi ro, tranh chấp mà ngân hàng thương mại thường gặp trong quá
trình thực hiện quyền và nghĩa vụ đó. Các rủi ro, tranh chấp phát sinh giữa
bên mua - bên bán trong quá trình mua bán và cách giải quyết sẽ không thuộc
phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
6. Phương pháp nghiên cứu
Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài
chính, ngân hàng, đề tài nghiên cứu đã được học viên sử dụng các phương
pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá tình trạng pháp lý của
các ngân hàng thương mại, các lợi ích cũng như rủi ro của việc cung cấp dịch
vụ phát hành thư tín dụng cho khách hàng của ngân hàng thương mại và đưa
ra giải pháp nhằm hạn chế rủi ro từ đó nhằm hoàn thiện các quy định của
pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 03 chương:
bên. Có nhiều phương thức và với mỗi phương thức có phương tiện tương
ứng để thực hiện thanh toán. Nhưng với những ưu điểm vượt trội thì phương
thức tín dụng chứng từ với phương tiện là thư tín dụng được sử dụng thông
dụng và phổ biến hơn cả so với các phương thức còn lại. Như vậy, phương
thức tín dụng chứng từ gắn với thư tín dụng đã ra đời là một sáng tạo trong
cung ứng dịch vụ thanh toán nhằm mục tiêu đảm bảo thực hiện hoạt động
thanh toán một cách thuận tiện, hiệu quả.
14
1.1.2. Khái niệm, vai trò và đặc điểm pháp lý của thư tín dụng
1.1.2.1. Khái niệm thư tín dụng
Thư tín dụng hay tín dụng thư, tín dụng chứng từ là một công cụ trong
thanh toán.
Điều 3 Các Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, bản
sửa đổi năm 2007, số xuất bản 600 (sau đây viết tắt là UCP 600) định nghĩa
về tín dụng chứng từ như "một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc
gọi tên thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân
hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp" [41].
Khoản 1 Điều 16 Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán (ban hành kèm theo Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN
ngày 26/03/2002 về ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán) định nghĩa như sau: Thư tín dụng là một văn
bản cam kết có điều kiện được ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng
dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng), theo đó, ngân hàng thực hiện
yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng) để:
+ Trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh
của người thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các
điều kiện của thư tín dụng, hoặc
+ Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền
theo lệnh của người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai
hàng sẽ thực hiện yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán để:
+ Trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền theo lệnh của
người thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều
kiện thanh toán của thư tín dụng.
+ Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền
theo lệnh của người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai
khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán
của thư tín dụng.
16
+ Ngân hàng phát hành phát hành một thư tín dụng cam kết thanh toán
cho người thụ hưởng một số tiền nhất định khi người thụ hưởng xuất trình bộ
chứng từ theo quy định của thư tín dụng, chứng minh người thụ hưởng hoàn
thành nghĩa vụ cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian nhất
định được quy định trong thư tín dụng. Khi đó, sau khi người thụ hưởng hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng hóa hoặc dịch vụ, lập bộ chứng từ, xuất trình bộ
chứng từ cho ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng chỉ định trong khoảng thời
gian quy định của tín dụng thư để được thanh toán.
Thư tín dụng được coi như là "linh hồn" của phương thức tín dụng
chứng từ. Nếu phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận thì thư tín
dụng chính là văn bản pháp lý thể hiện và đảm bảo cho sự thỏa thuận đó.
1.1.2.2. Vai trò của thư tín dụng trong hoạt động thanh toán quốc tế
nói chung và ở Việt Nam nói riêng
- Với ưu thế về sự đảm bảo an toàn trong thanh toán, thư tín dụng đã
có vai trò trong việc thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia. Sự
tin tưởng giữa các bên trong hoạt động mua bán ngoại thương xuất phát từ
chính cam kết chắc chắn thanh toán của ngân hàng phát hành khi hai bên thỏa
thuận áp dụng thư tín dụng trong quá trình mua bán của mình sẽ làm thúc đẩy
mối quan hệ xuất nhập khẩu giữa các bên.
- Thư tín dụng được phát hành đã giải quyết được mâu thuẫn về lợi ích
hợp đồng như thế ngay cả khi thư tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó.
Về bản chất, thư tín dụng là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp
đồng ngoại thương hoặc hợp đồng khác (những hợp đồng là cơ sở hình thành
giao dịch thư tín dụng). Trong mọi trường hợp, ngân hàng không bị ràng buộc
bởi những hợp đồng này. Một số nhà nhập khẩu không hiểu hoặc bỏ qua
nguyên tắc này, khi gặp rủi ro trong giao dịch hợp đồng cơ sở đã khiếu nại
và/hoặc ngăn cản việc ngân hàng thanh toán bộ chứng từ xuất trình phù hợp.
Điều này là không phù hợp với thông lệ quốc tế.
18
- Thư tín dụng chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ
vào chứng từ
Điều 5 UCP 600 quy định: Các ngân hàng làm việc với nhau trên cơ
sở chứng từ chứ không quan tâm đến hàng hóa, dịch vụ. Cho dù người bán
giao hàng bị thiếu, hàng kém chất lượng, giao hàng sai nhưng nếu trên bề mặt
chứng từ thể hiện phù hợp với thư tín dụng, UCP, ISBP thì ngân hàng phát
hành phải thanh toán cho người thụ hưởng. Các bên tham gia trong thư tín
dụng không được lợi dụng vào tình trạng hàng hóa, dịch vụ được giao để
trì hoãn việc thanh toán.
Các chứng từ trong giao dịch thư tín dụng có tầm quan trọng đặc biệt.
Nó là bằng chứng về việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng
hóa đã được giao, do đó, trở thành căn cứ để ngân hàng thanh toán, là căn cứ để
nhà nhập khẩu hoàn trả tiền cho ngân hàng, là chứng từ đi nhận hàng của nhà
nhập khẩu. Khi chứng từ xuất trình là phù hợp thì ngân hàng phát hành phải
thanh toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu mặc dù trên thực tế hàng hóa có thể
không được giao hoặc được giao không đúng như ghi trên chứng từ.
1.1.3. Nội dung và tính chất của thư tín dụng
1.1.3.1. Nội dung của thư tín dụng
Thông thường, trong một thư tín dụng sẽ có các nội dung như sau:
- Số hiệu của thư tín dụng nhằm tạo thuận tiện trong việc trao đổi
hợp đồng thương mại đã ký kết. Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn
hiệu lực của thư tín dụng (nếu trả tiền ngay) hoặc nằm ngoài thời hạn hiệu lực
(nếu trả chậm). Trong trường hợp này, cần lưu ý là hối phiếu có kỳ hạn phải
được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn có hiệu lực của thư tín dụng.
- Thời hạn giao hàng được ghi trong thư tín dụng và cũng do hợp đồng
mua bán ngoại thương quy định. Đây là thời hạn quy định bên bán phải
chuyển giao xong hàng cho bên mua kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực. Thời
hạn giao hàng liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của thư tín dụng. Nếu
20
hai bên thỏa thuận kéo dài thời gian giao hàng thêm một số ngày thì ngân
hàng mở thư tín dụng cũng sẽ hiểu rằng thời hạn hiệu lực của thư tín dụng
cũng được kéo dài thêm một số ngày tương ứng.
- Những nội dung liên quan tới hàng hóa như tên hàng, số lượng,
trọng lượng, giá cả, quy cách, phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu…
- Những nội dung về vận chuyển, giao nhận hàng hóa: Điều kiện cơ sở
về giao hàng (FOB, CIF…), nơi giao hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng…
cũng được thể hiện đầy đủ và cụ thể trong nội dung thư tín dụng.
- Các chứng từ mà người hưởng lợi phải xuất trình. Đây cũng là một
nội dung rất quan trọng của thư tín dụng. Bộ chứng từ thanh toán là căn cứ để
ngân hàng kiểm tra mức độ hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa của
người xuất khẩu để tiến hành việc trả tiền cho người hưởng lợi. Ngân hàng
mở thư tín dụng thường yêu cầu người hưởng lợi đáp ứng những yếu tố liên
quan tới chứng từ sau đây:
+ Các loại chứng từ phải xuất trình căn cứ theo yêu cầu đã được thỏa
thuận trong hợp đồng thương mại. Thông thường, một bộ chứng từ gồm:
• Hối phiếu thương mại (commercial bill of exchange)
• Hóa đơn thương mại (commercial invoice)
• Vận đơn hàng hải (Ocean bill of lading)
• Chứng nhận bảo hiểm (insurance policy)
hảo, ngân hàng phát hành đã thanh toán, song khi nhận hàng, nhà nhập khẩu
phát hiện hàng hóa không đúng quy định trong hợp đồng đã ký kết, thì mọi
tranh chấp sẽ do hai bên mua bán tự giải quyết, các ngân hàng được miễn
trách nhiệm. Điều 4 UCP 600 có ghi: "Cam kết của ngân hàng về việc thanh
toán, chiết khấu hay thực thi bất cứ nghĩa vụ nào của thư tín dụng không phụ
thuộc vào sự khiếu nại hoặc biện hộ của người mở phát sinh từ mối quan hệ
của người mở với ngân hàng phát hành hoặc với người hưởng" [41]. Vì vậy,
22
trong giao dịch thư tín dụng, tất cả các bên tham gia chỉ căn cứ vào chứng từ
mà không căn cứ vào hàng hóa, dịch vụ và/hoặc các thực hiện khác mà các
chứng từ có thể liên quan. Trong thực tế, một số nhà nhập khẩu có thể sử dụng
thư tín dụng như là công cụ dự phòng để cụ thể hóa, chi tiết hóa hoặc bổ sung
những điều khoản mà hợp đồng thương mại còn sót. Ngoài ra, nó còn để đính
chính, sửa chữa những nội dung bất lợi trong hợp đồng ngoại thương đã ký kết.
Tóm lại, về mặt tài chính - ngân hàng, thư tín dụng là một phương
thức thanh toán liên quan đến việc xuất trình bộ chứng từ hợp lệ. Người bán
sẽ được đảm bảo thanh toán nếu xuất trình tại ngân hàng bộ chứng từ phù hợp
với những quy định đề ra. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cũng có
thể hiểu như là một khoản tạm ứng mà ngân hàng dành cho nhà nhập khẩu
hoặc nhà xuất khẩu. Từ tính chất của thư tín dụng có thể suy ra: chỉ có những
tổ chức tín dụng mới có quyền thực hiện các giao dịch này và do tính độc
quyền của hoạt động ngân hàng, giao dịch thanh toán này chỉ có thể được
thực hiện thường xuyên bởi các tổ chức tín dụng.
1.2. PHÂN LOẠI THƯ TÍN DỤNG
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, với nội dung kỹ thuật
nghiệp vụ của nó, đã đem lại cho phương thức thanh toán này những ưu việt
hơn so với các phương thức thanh toán khác. Tuy nhiên, hiệu quả của phương
thức này sẽ được thể hiện một cách đầy đủ hơn khi ta biết lựa chọn loại thư
tín dụng phù hợp với yêu cầu của từng tình huống cụ thể, trong mối quan hệ
đặc biệt này nhằm tránh hiện tượng thanh toán lại khoản tiền đã ứng trước.
Đặc điểm và trường hợp sử dụng:
+ Điều khoản này được đưa ra theo yêu cầu riêng của người mở thư
tín dụng, có thể hiểu là tiền ứng trước được lấy từ tài khoản của người mở,
nghĩa là tín dụng thương mại chứ không phải là tín dụng của ngân hàng thông
báo hay ngân hàng phát hành.
24
+ Ngân hàng thông báo chỉ thực hiện các thủ tục theo điều khoản của
thư tín dụng mà không cam kết hoặc chịu trách nhiệm về số tiền đó. Việc ứng
trước tiền do ngân hàng phát hành ủy quyền cho ngân hàng thông báo thực
hiện và được thanh toán lại bởi ngân hàng phát hành.
+ Là một hình thức cấp vốn cho bên bán để mua hàng hóa, nguyên vật
liệu từ người cung cấp khác hoặc đã mua hạn ngạch.
+ Số tiền thanh toán cuối cùng mà người xuất khẩu nhận được khi
xuất trình chứng từ giao hàng tới ngân hàng thanh toán bằng số tiền hóa đơn
trừ đi số tiền đã ứng trước.
Ưu điểm đối với các bên:
+ Về phía người bán: Người bán nhận được khoản tín dụng thương
mại, giảm gánh nặng về tài chính, có thị trường xuất khẩu ổn định.
+ Về phía người mua: Người mua hưởng được giá hàng thấp hơn và
ổn định được nguồn hàng nhập khẩu ngay cả khi giá cả quốc tế biến động, do
đã tạo được uy tín, thiện cảm đối với người bán.
1.2.2.2. Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving letter of credit)
Thư tín dụng tuần hoàn là một cam kết từ phía ngân hàng phát hành
phục hồi lại giá trị ban đầu của thư tín dụng sau khi nó đã được sử dụng. Số
lần phục hồi và khoảng thời gian còn hiệu lực phải được quy định trong thư tín
dụng. Thư tín dụng tuần hoàn có thể được tích lũy hoặc không được tích lũy.
+ Thư tín dụng tuần hoàn tích lũy: Số tiền đã sử dụng có thể được
thêm vào cho lần giao hàng kế tiếp.
người mua mua được hàng hóa trong suốt thời gian dài khi thị trường đang có
lợi thế cho mình. Bên mua cũng không muốn nhận hàng ngay cùng một lúc vì
phải tính đến chi phí lưu kho, bảo quản và việc quay tròn vốn. Khi mở thư tín
dụng tuần hoàn thì không phải yêu cầu ngân hàng mở thêm các thư tín dụng
khác cho cùng một đơn đặt hàng, giúp người mua không bị ứ đọng vốn,
không bị tính phí mở nhiều lần thư tín dụng.