Xác lập và thực hiện quyền sở hữu tài sản của Công ty Cổ phần theo pháp luật Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


TẠ THỊ TUYẾT NHUNG

XÁC LẬP VÀ THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU
TÀI SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘi – 2012
TẠ THỊ TUYẾT NHUNG LUẬT KINH TẾ Hµ néi - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiến cứu đề tài 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
6. Nội dung của luận văn 4
7. Kết cấu của luận văn 4
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CHUNG VỀ XÁC LẬP
VÀ THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN 5
1.1. Quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần 5
1.1.1. Khái niệm quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần. 5
1.1.2. Chủ thể quyền sở hữu tài sản trong công ty cổ phần 7
1.1.3. Khách thể quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần 10
1.1.4. Nội dung quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần. 13
1.2. Xác lập quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần 15
1.3. Thực hiện quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần 19
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XÁC LẬP VÀ
THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
Ở VIỆT NAM 24
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về xác lập quyền sở hữu tài sản
của của công ty cổ phần 24
2.1.1. Các chủ thể tham gia xác lập quyền sở hữu tài sản của công ty cổ
phần theo pháp luật Việt Nam 24
2.1.2. Thực trạng pháp luật về xác lập quyền sở hữu tài sản của công ty
cổ phần từ góp vốn 29
2.1.3. Thực trạng pháp luật về xác lập quyền sở hữu tài sản của công ty

trên phần vốn góp của các thành viên tham gia. Đặc điểm quan trọng nhất của
loại hình công ty cổ phần là công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty bằng tài sản của công ty. Các cổ đông trong công ty chỉ chịu trách
nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của họ trong công ty. Trong những chế
định pháp luật về công ty, quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần là một
trong những chế định trung tâm chi phối toàn bộ quá trình hình thành, tồn tại,
phát triển và chấm dứt hoạt động của công ty. Nghiên cứu chế định quyền sở
hữu tài sản của công ty cổ phần sẽ góp phần làm rõ các quy định của pháp
luật điều chỉnh các quan hệ liên kết, góp vốn trong công ty cổ phần đồng thời
góp phần xác lập một hình thức pháp lý thích hợp về các mới quan hệ trong
nội bộ công ty, các quan hệ giữa công ty với bên thứ ba cả về lý luận và thực
tiễn hoạt động của công ty
Nghiên cứu sự điều chỉnh pháp luật đối với quyền sở hữu tài sản của
công ty cổ phần không chỉ đặt ra đối với các nhà doanh nghiệp mà còn là một
nhu cầu cấp thiết đối với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành hệ thống hóa
pháp luật, cả đối với cán bộ quản lý kinh tế, các nhà khoa học. Đề tài “ Xác
lập và thực hiện quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần theo pháp luật
Việt Nam” được nghiên cứu nhằm đáp ứng một phần những yêu cầu mà lý
luận và thực tiễn đã và đang đặt ra.

2
2. Tình hình nghiến cứu đề tài
Trên thế giới, công ty và việc nghiên cứu về công ty đã có từ lâu và ở
nhiều mức độ khác nhau. Ở nước ta, vấn đề quyền sở hữu tài sản của công ty
cổ phần vẫn còn là vấn đề phức tạp đối với việc nghiên cứu về công ty.
Trong điều kiện nước ta mới bước sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động công ty và nghiên cứu về công ty là một
vấn đề còn nhiều mới mẻ. Vì vậy, trong những phạm vi và mức độ nhất định
cũng mới có một số công trình khao học của một số tác giả nghiên cứu về
công ty dưới các giác độ khác nhau về kinh tế, pháp lý… Tuy nhiên các tác

việc xác lập, thực hiện quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần ở Việt Nam
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quyền sở hữu tài sản của công ty
cổ phần ở Việt Nam, cụ thể là nghiên cứu về quá trình xác lập và thực hiện
quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn được nghiên cứu trong phạm
vi lý luận chung của quốc tế về quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần và
thực trạng của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề này. Cụ thể, luận văn
đề cập các căn cứ xác lập và việc thực hiện quyền sở hữu tài sản của công ty
cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản pháp luật liên quan.
Tác giả của luận văn cũng ý thức được rằng trong khuôn khổ một luận văn
thạc sĩ luật học không thể luận giải mọi khía cạnh và phương diện về quyền
sở hữu tài sản của công ty cổ phần ở nước ta. Vì vậy có những vấn đề khác
chẳng hạn như: vấn đề xác lập quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần từ
quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, công ty cổ phần theo quy định của Luật
đầu tư… là những vấn đề phức tạp cần phải được nghiên cứu, luận giải một
cách chuyên biệt ở các công trình nghiên cứu khoa học khác.

4
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm, đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nội dung của luận văn
được nêu và phân tích dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước, các
văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và các tài liệu pháp lý. Đồng thời tác
giả đã đặc biệt chú ý đến việc vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp
so sánh, đối chiếu, dẫn giải quy nạp … để nghiên cứu nội dung luận văn
6. Nội dung của luận văn
Với mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra, luận văn có những nội dung sau:

Điều 164 Bộ luật dân sự quy định: “ Quyền sở hữu tài sản bao gồm
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu
theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản”
Định nghĩa trên cho thấy quan niệm về quyền sở hữu bằng cách liệt kê
những nội dung của quyền sở hữu và chủ thể của quyền này. Qua đó, Bộ luật
dân sự đã coi chiếm hữu là một quyền năng, là một trong ba bộ phận cấu
thành quyền sở hữu. Liên quan đến vấn đề này, ở Việt Nam hiện nay đang
còn nhiều tranh luận. Tựu trung lại có hai quan điểm phổ biến sau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền sở hữu chỉ bao gồm hai nội dung:
quyền sử dụng và quyền định đoạt. Còn chiếm hữu thực ra là một tình trạng
chứ không phải là một quyền năng. Chiếm hữu là hình thức biểu hiện ra bên
ngoài của quyền sở hữu. Đây cũng là quan điểm trong luật dân sự của đa số
các nước trên thế giới như Đức, Pháp, Nhật Bản

6
Quan điểm thứ hai cho rằng cách quy định như Điều 164 Bộ luật dân
sự hiện nay là hoàn toàn hợp lý. Những người theo quan điểm này lý giải
chiếm hữu là sự nắm giữ vật, tuy nhiên do sự phát triển của khoa học kỹ thuật
mà hiện nay có những vật không thể nắm giữ được (như năng lượng, sóng
truyền hình). Vấn đề chiếm hữu đã có từ thời nguyên thuỷ, từ khi chưa có
pháp luật thì loài người đã chiếm hữu những vật sẵn có trong thiên nhiên. Khi
có pháp luật rồi thì mới phát sinh khái niệm quyền chiếm hữu. Muốn chứng
minh mình là chủ sở hữu thì tuỳ từng trường hợp: đối với bất động sản phải
dựa vào việc đăng ký tài sản, còn đối với động sản thì bản thân sự chiếm hữu
cũng là một cách thức để chứng minh. Không nên để „„tình trạng chiếm hữu‟‟
như là khi xã hội chưa có luật pháp. Tuy nhiên ở đây chúng ta không đi sâu
quá vào vấn đề này. Ở đây chúng ta chỉ xem xét việc quy định quyền sở hữu
cho công ty cổ với tư cách là một pháp nhân để nhằm mục đích gì. Như chúng

Chủ thể quyền sở hữu của công ty cổ phần chính là công ty cổ phần. Vì
công ty cổ phần là một pháp nhân nên chủ thể này mang những đặc trưng riêng.
Thứ nhất: công ty cổ phần phải được đăng ký kinh doanh theo quy định
pháp luật.
Theo đặc điểm của loại hình công ty thì công ty cổ phần là một dạng
của công ty đối vốn. Chính vì vậy công ty cổ phần có sự tách bạch giữa tài
sản của công ty và tài sản của chủ sở hữu công ty. Trong quá trình thành lập,
khi thực hiện xong nghĩa vụ góp vốn thì phần vốn góp của thành viên chuyển
thành sở hữu của công ty, công ty cổ phần phải chịu trách nhiệm hữu hạn
bằng tài sản của công ty.
Sự thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty cổ phần thể hiện tình trạng
tách bạch về quyền sở hữu tài sản của nó với quyền sở hữu tài sản của cổ
đông đã thành lập ra nó. Điều đó đòi hỏi trong việc góp vốn vào công ty,

8
quyền sở hữu vốn và tài sản góp vốn của thành viên góp vốn phải được
chuyển sang cho công ty và lúc đó công ty cổ phần với tư cách là một pháp
nhân sẽ là chủ thể quyền sở hữu vốn và tài sản đã góp đó. Việc chuyển quyền
sở hữu tài sản góp vốn được quy định tại Điều 29 Luật doanh nghiệp 2005.
Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông
công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo
quy định sau đây:
a) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì
người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền
sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải
được thực hiện
c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt
Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi
quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.”

pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.”
Đăng ký kinh doanh là khâu cuối cùng để công ty có thể chính thức đi
vào hoạt động. Chỉ sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,
công ty mới được pháp luật thừa nhận một cách chính thức. Bên cạnh đó pháp
luật cũng quy định mỗi một công ty phải có tên gọi riêng và và không được
trùng với tên của các công ty khác. Chính vì vậy tên của một công ty là duy
nhất và đây chính là tên gọi được dùng trong các hoạt động kinh doanh của
công ty. Quyền sở hữu vốn và tài sản của công ty phải mang tên chủ sở hữu là
tên của công ty.
Thứ ba, Công ty cổ phần thực thi quyền sở hữu tài sản của mình thông
qua bộ máy điều hành của công ty.

10
Khác với chủ sở hữu là cá nhân có thể thực hiện quyền sở hữu của
mình một cách trực tiếp thì với tư cách là một pháp nhân, công ty cổ phần
thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu theo một cơ chế. Cơ chế này được
thực hiện thông qua bộ máy tổ chức. Bộ máy tổ chức này phụ thuộc vào sự
thỏa thuận của các thành viên trong công ty. Các thành viên trong công ty
phải bàn bạc với nhau để có thể đưa ra một mô hình quản lý công ty tốt nhất
nhằm đảm bảo an toàn cho các chủ sở hữu yên tâm đầu tư vào công ty đó.
Trong công ty cổ phần, tỷ lệ cổ phiếu mà cổ đông sở hữu thường sẽ chi
phối đến hoạt động hoặc tham gia quản lý điều hành của chủ sở hữu đó. Các
thành viên trong công ty cổ phần thường là rất đông. Vì vậy một bộ máy quản
lý tốt là rất cần thiết để tránh việc quyền lực chỉ thuộc vào một số ít cổ đông
làm nảy sinh sự tranh chấp lợi ích.
1.1.3. Khách thể quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần
Khách thể quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần chính là tài sản của
công ty được biểu hiện ở các hình thái khác nhau. Từ nhu cầu điều chỉnh khai
thác lợi ích của chủ sở hữu công ty, tài sản của công ty được nghiên cứu dưới
nhiều góc độ khác nhau. Các nhà tài chính học đã phân loại tài sản thành tài

- Tài sản cố định phúc lợi
- Tài sản cố định khác
Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất cụ
thể, như chi phí thành lập doanh nghiệp, bằng phát minh sáng chế, chi phí
nghiên cứu phát triển doanh nghiệp. Những tài sản này không có hình thái vật
chất nhưng có thể tạo ra được những lợi thế và quyền hạn để mang lại giá trị
kinh tế cho người sở hữu [32].
Tài sản vô hình là những tài sản không mang hình thái cụ thể, chúng ta
không thể cầm nắm được. Nó không thể nhìn thấy được, cảm nhận được bằng

12
mùi vị, màu sắc nhưng chúng ta có thể cảm nhận nó bằng trực giác của mình.
Nó mang lại những giá trị khác với giá trị sử dụng thông thường. Giá trị của
tài sản vô hình có liên hệ mật thiết với tính mới của dòng sản phẩm mà công
ty sản xuất.
Vd: Một dòng máy tính mới ra đời và có một tính năng ưu việt về công
nghệ vượt xa những sản phẩm trước đó sẽ có giá trị vô hình lớn, mang lại giá
trị về thương hiệu, uy tín, vị thế lớn cho hãng sản xuất ra nó. Nhưng khi
những hãng đối thủ cũng áp dụng công nghệ mới này thì nó lại phải giảm giá
nhanh chóng để cạnh tranh, tránh mất thị phần về tay đối thủ.
Hình thái giá trị của tài sản cố định là vốn cố định. Việc thu hồi vốn cố
định thường kéo dài, thời gian hoàn vốn lâu nên nếu thiếu tính toán khao học
thì rất dễ làm thất thoát vốn cố định. Quyết định số phận pháp lý đối với tài
sản này có thể và thường là thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông hoặc
Hội đồng quản trị.
Tài sản lƣu động
Ngoài tài sản cố định, doanh nghiệp còn có tài sản lưu động. Tài sản lưu
động là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử
dụng, thu hồi, luân chuyển thường là trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất
kinh doanh. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu tài sản lưu động

công ty được thể hiện trong sổ sách kế toán, thống kê của công ty. Do vậy chủ
sở hữu công ty thực hiện quyền năng này thông qua việc kiểm tra, nắm bắt
được tình hình vốn, tài sản cũng như sự biến động của hoạt động kinh doanh.
Quyền chiếm hữu liên quan chặt chẽ đến quyền sử dụng tài sản công ty.
Công ty cổ phần thuộc sở hữu của các cổ đông, nhưng bản thân công ty lại là
một chủ thể pháp lý độc lập và là chủ sở hữu tài sản công ty. Do đó, thực hiện
quyền sử dụng tài sản của công ty chính là đưa các tài sản dưới hình thức hiện

14
vật, giá trị hoặc các giá trị phi vật chất vào hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty nhằm mục đích sinh lời. Quyền sử dụng là quyền công ty trực tiếp
thực hiện khai thác công dụng, hưởng lợi tức từ tài sản theo ý chí công ty
phục vụ cho mục đích kinh doanh với điều kiện không vi phạm điều cấm của
pháp luật. Trong quá trình kinh doanh, công ty có thể có rất nhiều hoạt động
kinh doanh với các đối tác khác. Hoạt động kinh doanh của một công ty luôn
tiềm ẩn những rủi ro do khách quan cũng như chủ quan mang lại. Chính vì
vậy, bộ máy quản lý công ty phải có những thông tin cần thiết để có sự lựa
chọn đầu tư đúng đắn.
Quá trình sử dụng vốn và tài sản của công ty được thực hiện thông qua
cơ chế pháp lý quy định trong luật và trong điều lệ công ty. Ví dụ theo quy
định của pháp luật thì khi đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn
hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của
công ty thì phải do Đại hộ đồng cổ đông quyết định nếu điều lệ công ty không
quy định một tỷ lệ khác [25, Điều 96].
Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài
sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Công ty cổ phần
thuộc sở hữu chung của nhiều cổ đông, vì vậy việc định đoạt tài sản của công ty
có những đặc trưng riêng. Do công ty cổ phần có tài sản độc lập với tài sản của
cổ đông, nên công ty có quyền định đoạt đối với tài sản công ty thông qua cơ chế
đại diện. Công ty thực hiện quyền định đoạt của mình theo hai phương thức:

công ty. Chính bởi vậy, cổ đông sáng lập có vai trò đặc biệt quan trọng. Họ
chính là người am hiểu về thị trường, có kiến thức trong kinh doanh, họ thực
hiện các thủ tục pháp lý cần thiết tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
đáp ứng các yêu cầu cho việc thành lập công ty cổ phần.

16
Nhằm chống việc lợi dụng thành lập công ty để lừa đảo ngoài sự ràng
buộc bằng hợp đồng và Điều lệ công ty, pháp luật còn đưa ra những quy định
để ràng buộc các cổ đông sáng lập khi họ thực hiện các giao dịch pháp lý
trong một thời hạn nhất định. Ví dụ, Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005 quy
định: “ Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số
cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã
đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.
Trong quá trình thành lập công ty các cổ đông sáng lập thường phải ký
kết các hợp đồng liên quan đến việc thành lập công ty như: hợp đồng thuê trụ
sở, hợp đồng mua tài sản. Vấn đề đặt ra ở đây là ai là người sẽ chịu trách
nhiệm về các hợp đồng đó bởi giai đoạn này mới là giai đoạn tiến hành thành
lập công ty chứ công ty chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
tức là chưa có tư cách pháp nhân. Chính bởi vậy tại Điều 14 Luật doanh
nghiệp 2005 đã quy định về điều này. Theo quy định đó thì nếu doanh nghiệp
được thành lập thì doanh nghiệp là người tiếp nhận quyền và nghĩa vụ phát
sinh từ hợp đồng mà các cổ đông sáng lập đã ký kết. Còn trong trường hợp
doanh nghiệp không được thành lập thì các sáng lập viên liên đới chịu trách
nhiệm tài sản về việc thực hiện các hợp đồng đó.
Chúng ta có thể thấy Điều lệ công ty là văn bản quy định những vấn đề
chung nhất, cơ bản nhất về công ty như tổ chức, quản lý nội bộ cũng như
những vấn đề khác của công ty bao trùm mọi quan hệ phát sinh trong quá
trình công ty thành lập, hoạt đông, quản lý điều hành công ty. Điều lệ công ty
là một văn bản quan trọng đối với công ty cổ phần nói riêng và các loại hình

góp vốn mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của thành viên với công ty.
Trong đó, nếu công ty chưa đăng ký kinh doanh thì quyền yêu cầu là quyền

18
của các thành viên khác đối với thành viên góp vốn thực hiện nghĩa vụ của
họ. Thời điểm này chưa làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của công ty vì
công ty chưa ra đời. Việc chuyển dịch quyền sở hữu tài sản từ thành viên sang
công ty chỉ có thể tính từ thời điểm công ty được chính thức thừa nhận về
mặt pháp lý tức là thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Việc góp vốn được thực hiện bằng hành vi cam kết giữa thành viên và công
ty. Người góp vốn phải đảm bảo với công ty về tài sản đem góp vốn là tài sản
thuộc quyền sở hữu của mình, không bị ai tranh chấp. Thành viên góp vốn
phải hoàn tất thủ tục pháp lý để chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty. Các
thủ tục đó được quy định cho từng loại tài sản.
- Nếu tài sản góp vốn là động sản thì quyền sở hữu tài sản của người
góp vốn được chuyển cho công ty là thời điểm công ty nhận được tài sản và
công ty cấp cho thành viên giấy chứng nhận góp vốn.
- Nếu tài sản góp vốn là tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký sở
hữu thì quyền sở hữu được chuyển giao cho công ty kể từ thời điểm hoàn
thành thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó. Vì vậy, khi thành viên góp vốn
đã bàn giao tài sản cho công ty nhưng công ty chưa đăng ký quyền sở hữu tài
sản thì quyền sở hữu tài sản ấy vẫn thuộc thành viên góp vốn. Hoặc bên góp
vốn chưa bàn giao tài sản nhưng công ty đã đăng ký quyền sở hữu đối với tài
sản đó thì quyền sở hữu tài sản của công ty đã phát sinh [1].
Như vậy, thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản của công ty thông qua
việc góp vốn bằng hiện vật là thời điểm tài sản đem góp vốn thuộc quyền sở hữu
của thành viên được chuyển giao cho công ty. Sau khi thực hiện xong thủ tục
chuyển quyền sở hữu tài sản, công ty trở thành chủ sở hữu đối với tài sản đó.
Nếu tài sản góp vốn là quyền sử dụng thì phần góp vốn chính là giá trị
được tính bằng quyền sử dụng đối với tài sản. Góp vốn bằng quyền sử dụng


20
hữu tài sản của công ty cổ phần thì ta cần tìm hiểu và hai khái niệm chủ sở
hữu công ty và chủ sở hữu tài sản của công ty, từ đó để rút ra những đặc điểm
trong việc thực hiện quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần.
Nghiên cứu vấn đề này chính là nghiên cứu về vấn đề giữa thành viên
công ty với tính cách là chủ thể góp vốn và công ty với tính cách là chủ thể
góp vốn và công ty với tính cách là thực thể pháp lý độc.
Trước khi góp vốn để thành lập công ty, những thành viên công ty là
người sở hữu tài sản và chuyển giao quyền sở hữu tài sản đó cho công ty.
Khi công ty được thành lập chính thức về mặt pháp lý thì xuất hiện mối
quan hệ pháp lý giữa công ty và thành viên công ty. Trong mối quan hệ này,
thành viên có nghĩa vụ góp vốn và góp vốn như đã cam kết vào công ty để số
vốn góp được chuyển thành vốn chủ sở hữu công ty.
Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ góp vốn, thành viên công ty được giải
phóng khỏi nghĩa vụ góp vốn và trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của
công ty đối với người thứ ba. Tuy nhiên không phải cổ đông nào cũng có
quyền sở hữu công ty cổ phần.
Khi xem xét về quyền sở hữu công ty, trước hết phải xem cổ đông
nào đang nắm quyền lực chi phối, kiểm soát, điều hành công ty; cổ đông nào
có số vốn góp chiếm tỷ lệ cao hơn sẽ được quyền chi phối, kiểm soát công ty
nhiều hơn. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra trường hợp là có cổ đông tuy
không chiếm đa số vốn của công ty nhưng thể theo điều lệ của công ty đó họ
hiện đang nắm giữ quyền lực chi phối, kiểm soát, điều hành tuyệt đối công ty
thì họ được coi là chủ sở hữu công ty tại thời điểm đó hoặc nếu điều lệ công
ty quy định họ nắm giữ một phần quyền lực chi phối, kiểm soát, điều hành
công ty thì có thể coi họ là đồng sở hữu công ty.
Công ty cổ phần có tài sản tách bạch với tài sản của thành viên công ty
và công ty chịu trách nhiệm hữu hạn bằng tài sản của công ty. Trên cơ sở này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status