Luận văn thạc sĩ : Quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động theo pháp luật lao động Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG
THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Hoài Thu



Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH
LAO ĐỘNG
5
1.1.
Lược sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật trong
lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động ở nước ta hiện nay
5
1.2.
Quan niệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ
sinh lao động
8
1.3.
Nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn vệ
sinh lao động
13
1.4.
Các nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn,
vệ sinh lao động
27

lao động
53
2.2.1.
Ý nghĩa, mục đích của thanh tra an toàn - vệ sinh lao động
53
2.2.2.
Đối tượng và nội dung cơ bản thanh tra về an toàn, vệ
sinh lao động
54

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC AN
TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG
62
3.1.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động
62
3.2.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về vệ
sinh, an toàn lao động
63
3.2.1.
Hoàn thiện pháp luật về vệ sinh, an toàn lao động
63
3.2.2.
Đổi mới việc tổ chức thực hiện việc thực thi pháp luật
về vệ sinh, an toàn lao động
74
3.2.3.
Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG
LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG
5
1.1.
Lược sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật trong lĩnh
vực an toàn vệ sinh lao động ở nước ta hiện nay
5
1.2.
Quan niệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao
động
8
1.3.
Nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao
động
13
1.4.
Các nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ
sinh lao động
27
1.4.1.
An toàn, vệ sinh lao động được thực hiện đồng bộ, toàn diện
29

2.2.2.
Đối tượng và nội dung cơ bản thanh tra về an toàn, vệ sinh
lao động
54

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH LAO
ĐỘNG
62
3.1.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong
lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động
62
3.2.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về vệ
sinh, an toàn lao động
63
3.2.1.
Hoàn thiện pháp luật về vệ sinh, an toàn lao động
63
3.2.2.
Đổi mới việc tổ chức thực hiện việc thực thi pháp luật về vệ
sinh, an toàn lao động
74
3.2.3.
Tăng cường thực hiện chế độ kiểm tra, thanh tra, giám sát
việc tuân thủ các quy định của pháp luật về vệ sinh, an toàn
lao động
83
3.2.4.


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn,
vệ sinh lao động ngày càng liên quan chặt chẽ đến sự thành đạt của mỗi doanh
nghiệp, góp phần quyết định đến sự phát triển kinh tế bền vững của mỗi quốc
gia. Xây dựng một nền sản xuất an toàn với những sản phẩm có tính cạnh tranh
cao gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe của người lao động là yêu cầu tất yếu của sự
phát triển kinh tế bền vững và đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu hóa.
Cùng với những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, thời gian
qua công tác an toàn, vệ sinh lao động ở nước ta đã có những chuyển biến
đáng kể về hệ thống văn bản pháp luật và bộ máy tổ chức. Chỉ thị số
132CT/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng nhấn mạnh: Ở đâu, khi nào có
hoạt động lao động sản xuất, thì ở đó, khi đó phải tổ chức công tác bảo hộ lao
động theo đúng phương châm: "Bảo đảm an toàn để sản xuất - Sản xuất phải
đảm bảo an toàn lao động" [20].
Thể chế hóa đường lối của Đảng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật lao động năm 2002 đã dành chương IX quy định về an toàn, vệ sinh lao
động. Trên thực tế, rất nhiều ngành, nhiều địa phương, doanh nghiệp và người
sử dụng lao động đã có những biện pháp, sáng kiến cải thiện điều kiện làm
việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động và môi trường sản xuất kinh doanh.
Tuy vậy, công tác bảo hiểm lao động nói chung và công tác an toàn,
vệ sinh lao động nói riêng ở nước ta còn quá nhiều khó khăn và tồn tại cần
giải quyết. Nhiều doanh nghiệp mới chỉ được quan tâm đầu tư phát triển sản
xuất, thu lợi nhuận, thiếu sự đầu tư tương xứng để cải thiện điều kiện làm việc
an toàn cho người lao động. Vì vậy, Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ tai nạn lao
động làm chết và bị thương nhiều người, thiệt hại tài sản của Nhà nước và
doanh nghiệp. Trong năm 2008 đã xảy ra 5836 vụ tai nạn lao động làm 6.047
người bị nạn, có 508 vụ tai nạn lao động chết người làm 573 người chết,

- Báo cáo công tác y tế lao động 6 tháng đầu năm 2011 (Cục Quản lý
Môi trường Y tế đã tổng hợp số liệu báo cáo sơ kết công tác y tế lao động 6
tháng đầu năm 2011 của 71 đơn vị).
Luận văn đi vào tìm hiểu, tổng hợp một vấn đề mới với hy vọng đóng
góp một góc nhìn khái quát hơn cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành
pháp luật lao động liên quan đến sự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực an
toàn, vệ sinh lao động.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ vấn đề lý luận quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ
sinh lao động theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam.
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh
lao động. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong
lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm
vụ cụ thể sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bản của quản lý nhà
nước trong lĩnh vực an toàn và vệ sinh lao động, đặc biệt là nội dung pháp
luật trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao theo pháp luật lao động Việt Nam.
Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật trong lĩnh vực an
toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động và việc thực thi trên thực tế, đánh
giá những kết quả cũng như sự bất cập, nguyên nhân của sự bất cập, tồn tại.
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả, hiệu lực của
quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động.
4. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
Do tính chất, phạm vi của đề tài luận văn là vấn đề rộng, trong khuôn
khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu

giữ gìn sức khỏe cho công nhân. Các nhà máy, dụng cụ phải được sắp đặt và
giữ gìn như thế nào cho phù hợp với sự bảo an" [12].
Điều 134: "Công nhân hay thợ học nghề làm trong các giấy mỏ, các
ống dẫn hơi, các ống dẫn khói, các nhà tiêu, các thùng chứa chất độc v.v
đều phải có các dụng cụ thiết bị để bảo vệ sinh mệnh và tránh tai nạn" [12].
Điều 140: "Những nơi làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và có ánh
sáng mặt trời. Những nơi làm việc phải cách ly hẳn với nhà tiêu, những cống
rãnh để tránh mùi hôi thối" [12].
Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã xác định những quyền lợi mà người
lao động được đảm bảo như quyền làm việc, có quyền nghỉ ngơi, được bảo
hiểm xã hội, cứu tế, y tế. Phụ nữ lao động được nghỉ ngơi trước và sau khi
sinh con, bảo vệ quyền người mẹ và trẻ em (các điều 24, 30, 31, 32, 39).
Tháng 9/1991, Hội đồng Chính phủ đã thông qua và công bố ban hành
Pháp lệnh Bảo hộ lao động. Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 1/1/1992.
Ngày 23/6/1994 Bộ luật lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ
họp thứ IX và có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 đã đáp ứng kịp thời để điều chỉnh
các quan hệ lao động trong cơ chế thị trường, trong đó Bộ luật lao động dành
chọn Chương IX từ điều 95 đến điều 108 để điều chỉnh các quan hệ lao động
trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động.
Tuy nhiên, nội dung chính sách nhất là các biện pháp và các quy định về
an toàn, vệ sinh lao động là rất nhiều, sự phức tạp trong cơ chế quản lý của nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các chủ sở hữu thì rất đa dạng và phong phú,
dẫn tới hệ quả là để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ về an toàn, vệ sinh lao
động cần thiết phải nghiên cứu thật kỹ về mặt lý luận để có được những quy
định về pháp lý phù hợp. Tiếp đó ngày 31/12/1994 Chính phủ ban hành Nghị
định số 195/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ
luật lao động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động.
Ngày 26/3/1998, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 13/CT/TTg nhằm
tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong tình
hình xã hội mới.

trong doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh.
Thông tư liên tịch số 10/1999 TTLT-BYT-TLĐLĐVN ngày 17/03/1999
hướng dẫn chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc
với các yếu tố nguy hiểm, độc hại. Ngày 23/6/1994 Quốc hội đã thông qua Bộ
luật lao động. Đây là Bộ luật lao động đầu tiên điều chỉnh mối quan hệ làm
công ăn lương với các tổ chức và cá nhân có thuê mướn và sử dụng lao động
trên cơ sở của giao kết hợp đồng lao động và các quan hệ khác có liên quan
đến quan hệ lao động, trong việc tạo lập thị trường lao động đồng bộ, thống
nhất. Có thể nói an toàn, vệ sinh lao động đã qui định thành một chương riêng
trong Bộ luật lao động (cụ thể là chương IX với 18 điều) các qui định pháp
luật trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động đã thể hiện quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta xuất phát từ con người mà trong đó sức lao động là vốn quí.
Trên cơ sở các qui định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng
dẫn thi hành, các Bộ, ngành, đơn vị sử dụng lao động trong phạm vi hoạt
động, tính chất nghề nghiệp xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao động
của ngành (đơn vị) mình.
1.2. Quan niệm quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh
lao động
Trong khoa học quản lý, quản lý nhà nước thường được hiểu: là sự tác
động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua hệ
thống các cơ cấu của nhà nước) lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con
người nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó, dựa trên cơ
sở quyền lực của nhà nước.
Quản lý nhà nước thực chất là sự biểu hiện khả năng của nhà nước
trong việc tổ chức và điều chỉnh đời sống xã hội. Quản lý không phải là một
cái gì nằm trên xã hội, bên ngoài xã hội, bên ngoài con người mà nằm bên
trong xã hội. Quản lý biểu hiện chất lượng xã hội. Trong thiên nhiên, các hiện
tượng tự nhiên xảy ra một cách tự phát theo quy luật tự nhiên, dựa trên các
quy luật sinh học mà thế giới động vật, thực vật đã phát triển một cách tự
nhiên. Nhưng xã hội chỉ có thể phát triển được nhờ ý thức, tri thức của con

này hay tổ chức khác. Tổ chức không phải là những hoạt động mà tổ chức
chính là tạo ra các điều kiện cho các hoạt động thực tiễn. Thực tiễn đã chỉ ra
rằng không ít trường hợp nhiều khi chúng ta thành lập ra vô số các tổ chức,
các bộ phận cấu thành của cơ quan, tổ chức nhà nước mà thành lập ra không
biết để làm gì, từ đó dẫn đến tình trạng làm cho bộ máy nhà nước cồng kềnh,
kém hiệu quả, nhiều cơ quan của nó hoạt động mang tính hình thức.
Hai là, quản lý nhà nước mang tính điều chỉnh; mang tính chất quyền
lực; quản lý nhà nước tính khoa học; quản lý mang tính liên tục.
Để hiểu quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động cần
phải làm rõ một số khái niệm có liên quan: vệ sinh lao động, điều kiện lao
động, kỹ thuật an toàn.
Vệ sinh lao động được hiểu là: Tổng thể các tiêu chuẩn môi trường lao
động (ánh sáng, chống bụi, nóng lạnh, gió, tiếng ồn, độ ẩm…); bảo hộ an toàn
lao động, trang thiết bị bảo hộ lao động, máy móc, thiết bị sản xuất, chế độ ăn
uống tối ưu thích hợp với mỗi loại lao động; vệ sinh cá nhân của người lao
động; nhà ở và các tiện nghi sinh hoạt; quản lý sức khỏe cho người lao động
và gia đình
Việc nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố có hại đối với sức khỏe người
lao động để đề xuất các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc bảo vệ sức
khỏe, nâng cao khả năng lao động và phòng ngừa bệnh nghề nghiệp. Vệ sinh
lao động là nghiên cứu đặc điểm các yếu tố có hại trong sản xuất, những biến
đổi sinh lý, sinh hóa, tâm - sinh lý của người lao động để đề ra các biện pháp
đề phòng hạn chế ảnh hưởng tác hại; xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh, chế độ,
kiểm tra thực hiện; xây dựng tiêu chuẩn khám tuyển, khám sức khỏe định kỳ,
bệnh nghề nghiệp.
Điều kiện lao động được hiểu là tổng thể các yếu tố về kinh tế, xã hội,
tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao
động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động, và sự tác
động qua lại giữa chúng tạo nên những điều kiện cần thiết cho hoạt động của
con người trong quá trình sản xuất.

lao động tránh khỏi chấn thương.
Phương tiện kỹ thuật bao gồm máy móc, thiết bị, bộ phận, chi tiết
trang bị, dụng cụ
Chấn thương gây ra tai nạn, biểu hiện cụ thể là vết thương hoặc sự hủy
hoại cơ thể con người. Chấn thương có thể dẫn đến chết người, làm mất khả
năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn. Phương tiện kỹ thuật và thao tác làm
việc là hai yếu tố kỹ thuật an toàn, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu
được trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, đồng bộ mà thao tác làm việc
không tuân thủ quy trình, quy phạm thì dễ gây sự cố, tai nạn. Ngược lại, nếu
người lao động làm việc theo trình tự, quy trình, quy phạm mà phương tiện
kỹ thuật cũ, lạc hậu, thiếu đồng bộ cũng dễ xảy ra sự cố tai nạn. Vì vậy nếu
trang bị phương tiện kỹ thuật phải đồng thời với việc thao tác theo quy trình.
Được góc độ pháp lý, cần phải xây dựng nội quy, quy trình, các quy phạm an
toàn và trong quá trình sản xuất phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, quy
phạm này.
Như vậy, an toàn, vệ sinh lao động là tình trạng, điều kiện lao động
không gây ra sự nguy hiểm trong sản xuất. Từ góc độ luật học có thể hiểu, an
toàn, vệ sinh lao động là một chế định pháp luật là tổng hợp những quy phạm
của Nhà nước quy định các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, nhằm ngăn
ngừa tai nạn lao động và khắc phục những hậu quả của tai nạn lao động, cải
thiện điều kiện lao động cho người lao động
Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu: quản lý nhà nước trong lĩnh
vực an toàn, vệ sinh lao động là sự tác động mang tính tổ chức và điều chỉnh
của nhà nước (thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước) đến việc bảo đảm an
toàn, vệ sinh lao động nhằm bảo đảm điều kiện lao động không gây ra sự
nguy hiểm cho người lao động trong sản xuất, chấn chỉnh trật tự, duy trì, hoạt
động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động dựa trên cơ sở quyền lực của nhà
nước bằng pháp luật.
1.3. Nội dung quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động
Có thể thấy quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động

yếu tố không thể thiếu để thực hiện các hoạt động lao động - hoạt động quan
trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần
của xã hội. Nhà nước phải có trách nhiệm lớn nhất trong việc tổ chức các hoạt
động kinh tế - xã hội, trong đó có việc sử dụng lao động trong các doanh
nghiệp và các đơn vị sử dụng lao động khác. Về phương diện kinh tế - xã hội,
việc quản lý lao động của Nhà nước có vai trò đặc biệt trong việc quản lý
nguồn nhân lực quốc gia, khắc phục những khía cạnh tiêu cực của lao động,
làm cho các quan hệ lao động, quá trình lao động trở nên có tổ chức và có
hiệu quả hơn. Về phương diện pháp lý, Nhà nước là chủ thể có quyền lực
pháp lý lớn nhất, có quyền ban hành và thực thi pháp luật, áp dụng các trách
nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật.
Như vậy, cơ sở của việc thiết lập quyền quản lý lao động của Nhà
nước trước hết xuất phát từ vị trí, vai trò của Nhà nước trong xã hội, đó là
thiết lập, củng cố và duy trì trật tự xã hội trên thị trường lao động, bảo đảm
việc bảo vệ liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức - những người lao động trong xã hội - thông qua quyền quản lý
nguồn nhân lực và quản lý lao động bằng pháp luật để có chính sách phát
triển, phân bố nguồn nhân lực, phát triển đa dạng các hình thức sử dụng lao
động và giới thiệu việc làm thông qua hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về
lao động các cấp; khuyến khích việc quản lý lao động dân chủ, công bằng,
văn minh trong doanh nghiệp và mọi biện pháp, kể cả việc trích thưởng từ lợi
nhuận của doanh nghiệp, làm cho người lao động quan tâm đến hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp, nhằm đạt hiệu quả cao trong quản lý lao động, sản
xuất của doanh nghiệp; hướng dẫn người lao động và người sử dụng lao động
xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự
phát triển của doanh nghiệp…
Là chủ sử dụng lao động, người sử dụng lao động có quyền quản lý
người lao động. người sử dụng lao động là người tổ chức, theo dõi, giám sát
việc thực hiện các nhiệm vụ của người lao động trong quá trình lao động. Bởi
lẽ, khi tham gia quan hệ lao động, mỗi người lao động thực hiện các nghĩa vụ

chính sách xã hội. Việc đưa ra các bảo đảm cho người lao động, nhất là về
chính sách xã hội là điều hết sức cần thiết, nhưng phải cân nhắc mức độ phù
hợp theo từng thời kỳ để nâng dần từng bước, có tính đến các khả năng kinh
tế chung của đất nước và khả năng chi trả của người sử dụng lao động, cần xét
tới phạm vi, biện pháp và bước đi nếu không sẽ có thể gây thiệt hại cho chính
bản thân người lao động, trước hết là về việc làm, sau là không đạt được mục
tiêu của chính sách, không bảo vệ được người lao động trong thực tế.
Việc thực hiện quản lý lao động của người sử dụng lao động trước hết
là sự thể hiện quyền của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động, thể
hiện quan hệ lệ thuộc của người lao động vào người sử dụng lao động, là một
trong những đặc điểm cơ bản của quan hệ pháp luật lao động.
Thông qua hoạt động quản lý lao động của người sử dụng lao động sẽ
bảo đảm việc tổ chức thực hiện quá trình lao động, theo dõi, giám sát người lao
động trong quá trình lao động theo ý đồ của họ. Bằng các hành vi quản lý, người
sử dụng lao động tiến hành việc tuyển chọn người lao động, phân công, sắp xếp
công việc, bảo đảm điều kiện làm việc, tổ chức quản lý quá trình lao động
Như vậy, mục đích của việc quản lý lao động của người sử dụng lao
động chính là bảo đảm cho quá trình lao động diễn ra có trật tự, tránh tổn thất
tài sản của người sử dụng lao động và kiểm soát hiệu quả việc sử dụng sức lao
động của người lao động nhằm đạt được lợi nhuận tối đa. Bên cạnh đó, thông
qua hoạt động quản lý lao động, người sử dụng lao động có thể nắm bắt được
tâm tư, nguyện vọng của người lao động để có biện pháp bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của người lao động hữu hiệu nhất và thông qua đó, thực hiện tốt
các nghĩa vụ mà pháp luật quy định trong quá trình lao động.
Nhà nước thực hiện quyền quản lý lao động trên cả ba mặt: ban hành
cơ chế, chính sách, pháp luật về lao động; tổ chức thực hiện pháp luật lao
động; theo dõi, kiểm tra, giám sát người sử dụng lao động trong việc tuân thủ
pháp luật lao động trong quá trình lao động; xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật lao động của các bên tham gia quan hệ lao động. Đây là hoạt động quản
lý lao động của Nhà nước nhằm tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho các

18/4/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao
động về việc làm; Nghị định 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động và Luật Giáo dục
về dạy nghề; Nghị định 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng;
Người sử dụng lao động thực hiện quyền quản lý lao động của mình
thông qua các hoạt động cơ bản là tuyển chọn, sắp xếp, bố trí lao động; ban
hành nội quy, quy chế, mệnh lệnh, quyết định nhằm bảo đảm việc sắp xếp, bố
trí lao động; tổ chức, điều hành các hoạt động của người lao động; kiểm tra,
giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ đã giao cho người lao động; xử lý vi
phạm của người lao động… Thông qua các hình thức này, hoạt động quản lý
lao động của người sử dụng lao động có liên quan trực tiếp đến việc tạo lập
môi trường lao động cho người lao động. Các hình thức thực hiện quyền quản
lý lao động của người sử dụng lao động phải thực hiện trên cơ sở quy định
của pháp luật. Trong quá trình quản lý lao động nếu người sử dụng lao động
có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý.
Hoạt động quản lý lao động của Nhà nước được bảo đảm thực hiện
bằng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống các cơ quan quản lý lao động.
Pháp luật lao động hiện hành quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về lao động. Theo đó,
Ủy ban quan hệ lao động có chức năng tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về cơ
chế, chính sách, giải pháp xây dựng quan hệ lao động lành mạnh; xây dựng cơ
chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan đến vệc phòng ngừa, giải
quyết tranh chấp lao động, đình công. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực việc làm, dạy nghề, lao
động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động… trong phạm
vi cả nước theo quy định tại Nghị định 186/2006/NĐ-CP ngày 25/12/2007
của Chính phủ. Công tác quản lý nhà nước về lao động ở địa phương do Ủy
ban nhân dân các cấp thực hiện thực hiện theo quy định của Thông tư liên tịch

toàn, vệ sinh lao động có hai loại: Một là, tiêu chuẩn cấp nhà nước (áp dụng
cho tất cả các đơn vị sử dụng lao động); hai là, tiêu chuẩn cấp ngành (áp dụng
trong phạm vi ngànhh đó). Tiêu chuẩn cấp nhà nước do Bộ Khoa học Công
nghệ xây dựng và ban hành có sự tham gia của Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Với tư cách là chủ thể
lớn nhất quản lý an toàn, vệ sinh lao động. Nhà nước đã ban hành hệ thống
tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động với trên 150 loại được áp dụng trong
nhiều ngành kinh tế kỹ thuật khác nhau.
Tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động cấp ngànhh do các bộ, cơ quan
ngang bộ có trách nhiệm xây dựng, ban hành, hướng dẫn áp dụng tại các đơn
vị sử dụng lao động trong phạm vi ngànhh đó. Việc ban hành tiêu chuẩn cấp
ngànhh phải có sự tham gia của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế.
Mục đích của việc ban hành tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động cấp ngành là
hạn chế nguy cơ gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

Trích đoạn Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động Hoàn thiện pháp luật về vệ sinh, an toàn lao động Đổi mới việc tổ chức thực hiện việc thực thi pháp luật về vệ sinh, an toàn lao động Tăng cường thực hiện chế độ kiểm tra, thanh tra, giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật về vệ sinh, an toàn lao động Các giải pháp mang tính hỗ trợ tích cực cho hoạt động quản lý nhà nước về vệ sinh, an toàn lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status