BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Hoàng Kim Oanh
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS - TS. NGUYỄN THỊ THANH XU
ÂN
Nói đến truyện ngắn Việt Nam đương đại, không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp -
người đã góp phần làm cho đời sống văn học thời kì đổi mới trở nên sôi nổi và khởi sắc hơn
bao giờ hết. Tràn đầy tinh thần cách tân
, Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng một cách tối đa khả
năng của ngôn ngữ và đặc trưng của thể loại để biểu đạt một cách cao nhất ý tưởng, tình cảm
của mình. Chính vì sự mới mẻ ấy mà từ khi xuất hiện đến nay, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên
dư luận. Ý kiến về truyện ngắn của ông, dù khen hay chê, tất thảy đều mạnh mẽ, quyết liệt v
à
thậm chí trái ngược nhau như nước với lửa. Thời gian trôi qua, những xúc cảm nóng bỏng về
những gì ông viết ở người đọc chuyển dần sang sự nghiền ngẫm kĩ lưỡng. Nhiều người bắt đầu
đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá tài năng văn chương của ông một cách khách quan hơn qua
những trang viết thận trọng.
Sau đúng hai mươi năm xuất hiện trên văn đàn, ngày 9 tháng 7 năm
2007, đại sứ Pháp tại
Việt Nam đã tổ chức trọng thể buổi lễ trao tặng huân chương Văn học nghệ thuật của Pháp cho
Nguyễn Huy Thiệp. Huân chương này là một phần thưởng đầy vinh dự cho Nguyễn Huy Thiệp,
điều không phải bất kì nhà văn nào cũng có thể đạt được. Nó cũng còn là một minh chứng cho
tầm ảnh hưởng rộng lớn của tác phẩm văn chương của Nguyễn Huy Thiệp đối với độc giả trên
thế giới.
Đó là những lí do chính thôi thúc chúng t
ôi lựa chọn truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp làm đề
tài nghiên cứu cho bản luận văn này.
2. Lịch sử vấn đề
Xuất hiện vào những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, Nguyễn Huy Thiệp đã
khuấy động cả một bầu không khí sinh hoạt văn hoá, văn nghệ nước n
hà. Tác phẩm của ông,
với những hiệu ứng mà nó gây nên, đã góp phần phá vỡ thế bình ổn của văn học dân tộc trong
suốt hai cuộc kháng chiến, đồng thời tạo nên sự chuyển nhịp, tăng tốc cho những bước đi vốn
bình thường, chậm rãi của lí luận và phê bình văn học đương đại Việt Nam. Các ý kiến xung
Ở xu hướng khẳng định Nguyễn Huy Thiệp, người phê bình t
hường đưa ra các lập luận xác
đáng, dựa trên cơ sở phân tích thấu đáo những đóng góp của nhà văn trên cả hai phương diện tư
tưởng và nghệ thuật. Đặc biệt, nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: trong những sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp, những cách tân nghệ thuật là rất cần thiết cho một khuynh hướng văn học
mới. Năm 2001, trong lời tựa cuốn Đi tìm
Nguyễn Huy Thiệp (cuốn sách tập hợp khá nhiều bài
viết về Nguyễn Huy Thiệp), Phạm Xuân Nguyên khẳng định: “…một hướng kết tinh đầy ấn
tượng của thời kì đổi mới văn học là sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Hiện tượng Nguyễn Huy
Thiệp – đó là thành quả của đổi mới”. [42, tr. 5]
Lại Nguyên Ân là một trong những người đầu tiên bênh vực Nguyễn Huy Thiệp. Phản bác
lại các ý kiến phê phán đã nói ở trên, ông viết : “đọc văn phải khác với đọc lịch sử”, và mạnh
dạn đưa ra quan điểm riêng của mình: “qua những Kiếm sắc, Vàng lửa. Tôi nghĩ l
à anh có điểm
nhấn riêng, theo kiểu văn học” [42, tr. 186, 187]. Văn Tâm khẳng định: “không thể đọc truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp (những sáng tạo thẩm mỹ) bằng đôi mắt sử ký giáo khoa thư như nhà
nghiên cứu Tạ Ngọc Liễn đã làm” [42, tr. 287]. Nguyễn Văn Lưu cho rằng: Nguyễn Huy Thiệp
không hề “bôi đen” hay “xuyên tạc lịch sử”. Anh chỉ viết theo cách cảm, cách nghĩ của riêng
m
ình. Nguyễn Huy Thiệp chỉ mượn lịch sử để bộc lộ “thái độ đối với hiện tại” [42, tr.311].
Nguyễn Văn Bổng cũng quả quyết “anh không định qua các nhân vật ấy đánh giá lại lịch sử,
đánh giá lại bản thân các nhân vật. Anh chỉ mượn các nhân vật và hoàn cảnh lịch sử để nói
chuyện khác” [42, tr. 148]. Các ý kiến của Lê Xuân Giang, Trịnh Bá Đĩnh cũng có những phát
hiện khá lí thú về hình tượng nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, họ chứng m
inh rằng thông qua
việc xây dựng hình tượng nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp nhằm đối thoại với bạn đọc. Như vậy,
trong sáng tác của mình, Nguyễn Huy Thiệp không đi chệch ra khỏi những vấn đề liên quan
đến con người. Và ở các tác phẩm lấy cảm hứng từ lịch sử, những gì nhà văn thể hiện cũng
không nằm ngoài mục đích ấy.
sáng tác, T.N.Filimonova đã có hẳn một bài viết dài 15 trang. Ở đó, nhà nghiên cứu người Nga
này khẳng định: khi sử dụng thủ pháp này, Nguyễn Huy Thiệp đã “làm cho văn của anh trở nên
rất đặc biệt, dễ nhận ra” và đưa ra nhận xét “Hầu như mỗi truyện ngắn của anh đều hiện diện
vết tích của các huyền thoại, truyền thuyết, dân ca, tục ngữ … yếu tố dân gian t
rong tác phẩm
của anh là một đề tài rộng lớn” [42, tr. 156]. Theo ông, việc Nguyễn Huy Thiệp sử dụng các
yếu tố dân gian và hiện đại hoá, cách điệu hoá chúng không gì khác hơn là để “nêu bật được
những vấn đề vĩnh cửu về cái thiện và cái ác, về số phận đang dằn vặt con người hiện đại”.
[42, tr. 164]
Về cách viết của Nguyễn Huy Thiệp, tiến sĩ sử học người Úc – Greg Lockhart đã nhận xét:
“cách viết của Nguyễn Huy Thiệp là cách viết của một nghệ sĩ khách quan đứng ở ngoài truyện
nhìn vào. Anh ấy không bị vướng chân vào đời sống nhân vật, vừa nói về đời sống vĩ đại của
vua Gia Long, vừa nói về đời sống của một đồ tể, của một bác sĩ phá thai, thậm chí vừa nói đến
một người Tây, thì số phận con người tự bộc lộ chỉ qua lời khái quát và hành động của nó” [4
2,
tr. 112]. Để lí giải vì sao lại chọn dịch tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh, ông
khẳng định: tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp không chỉ là đóng góp cho văn học Việt Nam mà
“cũng l
à đóng góp cho văn học thế giới”, sở dĩ như vậy “chính là vì tính chất nhân bản của
chúng”. [42, tr. 115]
Một điều thật thú vị cần phải nói thêm rằng, ngay cả những người từng lên án chỉ trích gay
gắt ông vẫn không thể không thừa nhận tài năng của cây bút truyện ngắn độc đáo này. Bên cạnh
những lời phê phán Nguyễn Huy Thiệp, nhà sử học Tạ Ngọc Liễn viết: “mặc dầu mới xuất
hiện, song anh đã sớm chứng tỏ được mình là một nhà văn có bản sắc riêng, mới mẻ, bạo dạn,
súc tích gây được chú ý thật sự của độc giả”. [42, tr. 170]
Cùng với các bài viết đã được công bố rộng rãi trên sách báo mà những người yêu mến
Nguyễn Huy Thiệp biết tới, còn một số lượng khá lớn các bài viết được đưa lên mạng internet
rải rác trong khoảng hơn chục năm gần đây. Những tác phẩm đã từng một thời gây bao sóng gió
những câu chuyện thể hiện tâm trạng và cảm quan hậu hiện đại”. Không chỉ vậy, ông còn c
ó
những phát hiện xác đáng: “Khó tìm thấy nhân vật chính diện trong sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp và Phạm Thị Hoài. Đọc truyện ngắn, truyện dài của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy
Thiệp ta thường nghe thấy một giọng điệu kể chuyện lạnh lùng, khinh bạc, thậm chí tàn nhẫn…
“Cuộc đời vô nghĩa” là tứ truyện chi phối mạch vận động của câu chữ, hình ảnh trong sáng tác
của Nguyễn Huy Thiệp.” [20]. Và hơn thế nữa, ông cho rằng,
cùng với Phạm Thị Hoài, Nguyễn
Huy Thiệp là người khởi xướng ra một xu thế mới trong kĩ thuật viết truyện ngắn: “khi Nguyễn
Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài xuất hiện, ta thấy có những dấu hiệu về một cuộc chia tay với
nguyên tắc dụ ngôn cùng với những vị ngữ bất biến, quen thuộc của nó... Khi sự hồ nghi tồn tại
đã thấm sâu vào cảm quan nghệ thuật, chắc chắn nhà văn sẽ tìm đến nguyên tắc lạ hoá làm nền
tảng cấu t
rúc hình tượng”. Nguyễn Thị Minh Thái cũng đánh giá rất cao thủ pháp “lạ hoá”
trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp: “Tiếng Việt được viết lạ chưa từng thấy. Cung cách
tưởng tượng và phản ánh hiện thực cuộc sống người Việt được “lạ hoá” một cách hiện đại
cũng chưa từng t
hấy” “Nguyễn Huy Thiệp kể một cách trầm tĩnh, ém nhẹm một cái buồn nhân
thế dưới cái nhìn “Dân chủ hoá”. Dường như nhà văn này thật kinh hãi sự giáo huấn thô lậu,
lộ liễu và chỉ muốn khơi dậy, đánh thức sự bất ổn trong người đọc” [68]. Châu Minh Hùng
cũng tìm thấy ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp những điểm cách tân độc đáo: “Đến Nguyễn
Huy Thiệp, hình thức đa thanh như một tổ chức nghệ thuật mới được phát huy một cách triệt
để. Nguyễn Huy Thiệp tạo ra nhiều tiếng nói
của nhiều quan điểm, tư tưởng khác nhau bên
ngoài môi trường xã hội để tạo ra cuộc đối thoại không khoan nhượng giữa các nhân vật”. [24]
Trên đây, chúng tôi đã điểm qua một số ý kiến khen chê có thể được coi là khá tiêu biểu về
sáng tác Nguyễn Huy Thiệp. Mặc dù mỗi bài có những phát hiện và cách lí giải ri
êng nhưng tựu
trung lại, đa số các ý kiến đó đều gặp nhau ở chỗ thừa nhận: Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng
ngọn gió Hua Tát” (gồm 10 truyện nhỏ), “Con gái Thủy thần” (gồm
3 truyện), “Chút thoáng
Xuân Hương” (gồm 3 truyện), chùm “Kiếm sắc – Vàng lửa – Phẩm tiết”… Trong khuôn khổ
đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát toàn bộ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, trong tương
quan so sánh với truyện ngắn của một số nhà văn khác, để từ đó rút ra những đặc trưng cơ bản
của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài Đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã vận dụng
những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này giúp chúng tôi t
iếp cận và khảo sát
trực tiếp văn bản và đưa ra những luận điểm khái quát của luận văn.
Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc tác phẩm, tìm ra
nguyên tắc chi phối sự hình thà
nh của chúng. Từ đó, rút ra kết luận về nguyên tắc chi phối việc
sáng tạo toàn bộ cấu trúc tác phẩm.
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Là phương pháp chính, nhằm làm nổi bật sự khác biệt
của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp so với các nhà văn khác trên các phương diện: cảm hứng
nghệ thuật, phương pháp sáng tác, nghệ thuật biểu hiện…
Những phương pháp này sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình
nghiên cứu.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ tiếp cận được những khía cạnh cơ bản nhất đã làm
nên đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, để từ đó có t
hể xác định những đóng góp của
nhà văn trong lịch sử truyện ngắn nói riêng, trong đời sống văn học nói chung, cũng như chỉ ra
được sự thống nhất trong quan điểm nghệ thuật và thực tiễn sáng tác của ông.
5. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm
Nguyên Ân: “Một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các
phương diện của đời sống con người và xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là dung lượng; t
ác
phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không
nghỉ”. [53, tr.1846 - 1847]
Có chung tính chất là tự sự, ranh giới giữa truyện ngắn và tiểu thuyết khá mong m
anh.
Nhiều người ghi nhận hiện tượng này: truyện ngắn “ít nhiều mang những đặc tính của tư duy
tiểu thuyết” (Lại Nguyên Ân), là “một bộ phận của tiểu thuyết” (Bùi Việt Thắng), hay là “một
dạng tiểu thuyết đặc biệt” (Vương Trí Nhàn).
Các nhà văn, với trải nghiệm thực tế của mình, đã đưa ra những cảm nhận cụ thể và một số
đúc kết đa dạng. Pautopxki đã phát biểu: “Truyện ngắn là truyện viết ngắn gọn, t
rong đó cái
không bình thường hiện ra như một cái bình thường và cái gì bình thường hiện ra như một cái
không bình thường” [44, tr 105]. Aimatov chú ý đến đặc trưng lao động nghệ thuật: “Truyện
ngắn giống như một thứ tranh khắc gỗ, lao động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ, cô đúc, các
phương tiện phải được tính toán một cách kinh tế, nét vẽ phải chính xác. Đây là một việc vô
cùng tinh tế. Xoay xoả trên một mảnh đất chật hẹp, đó chính là chỗ để cho truyện ngắn phân
biệt với cá
c thể tài khác”. [44, tr. 146]. Nhấn mạnh đến chi tiết, Nguyễn Công Hoan cho
rằng “Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết” [71, tr.
186].
Xuất phát từ những quan niệm tương đối thống nhất về truyện ngắn, chúng ta có thể nêu
ra một số đặc trưng cơ bản của thể loại này.
1.1.2. Đặc trưng truyện ngắn
1.1.2.1. Đặc trưng đầu tiên, dễ thấy nhất của truyện ngắn là dung lượng nhỏ. Thế nào là
nhỏ? Có thể nói, dung lượng thông thường của một truyện ngắn co dãn khoảng từ 3 đến 50
trang. Dưới con số 3 trang, người ta gọi là “truyện ngắn mi
ni”, hoặc “truyện ngắn trong lòng
phá cao. Chỉ cần một ít trang văn xuôi, người viết có thể làm “nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ
của người đọc những điều rất sâu xa và da diết của con người, khiến người đọc phải nhớ mãi,
suy nghĩ mãi, đọc đi đọc lại mãi không chán” [71, tr. 148]. Đỗ Chu cũng có cùng ý kiến như
vậy, ông cho rằng: “một truyện ngắn hay có thể làm cho người ta cười lớn hoặc ứa nước mắt”
bởi vì “sức chứa trong truyện có thể rất nhiều, sức nổ rất lớn”. Lỗ Tấn thì lại cho rằng: truyện
ngắn có thể và cần phải trở thành “tòa đại lầu” để chứa đựng cả tinh thần của thời đại nhờ
phương thức biểu hiện qua một con mắt mà truyền đạt được cả tinh thần con người vốn có của
nó. Bằng sự trải nghiệm
trong cuộc đời cầm bút của mình, Thomas Mann khẳng định: Truyện
ngắn tuy bé nhỏ, nhưng “những cái bé nhỏ đó cũng có sức chứa nội tại lớn lao, cũng có thể
bao quát được toàn bộ đời sống, có thể đạt được kích thước anh hùng ca và có được tác dụng
nghệ thuật chẳng khác gì một sáng tác đồ sộ khác”[59]
.
Về tính chất thưởng thức, truyện ngắn khác tiểu thuyết ở chỗ, độc giả có thể đọc nó trong
một hơi không nghỉ: “Truyện ngắn l
à một tác phẩm tuỳ dài tuỳ ngắn, người ta có thể đọc trong
mười phút hoặc một giờ” [44, tr. 157].
Tính nhanh nhạy, cập nhật cũng là một đặc trưng của truyện ngắn. Là một thể loại dân
chủ, truyện ngắn gần gũi với đời sống hằng ngày. Với đặc thù ngắn gọn, súc tích, dễ đọc, truyện
ngắn thường gắn liền với hoạt động báo chí, có tác động mạnh mẽ, kịp thời tới cuộc sống. Ở
truyện ngắn, người viết không được dông dài, độ căng của tác phẩm p
hải “như mũi tên mà dây
cung đã bật, phải bay vụt về tới đích không thể có một phần nghìn dây trù trừ” [71, tr. 162].
Để đạt được điều này, điều cốt yếu của truyện ngắn là phải “nhạy bén trước những đổi thay của
cuộc sống [44, tr. 146]
, truyện ngắn cần bắt nhịp nhanh với cuộc sống thời hiện tại. Truyện
ngắn là thể loại thích hợp giúp nhà văn tìm hiểu về những vấn đề mới đang được đặt ra trong
cuộc sống. Người ta có thể cho phép tiểu thuyết trở về khái quát một giai đoạn đã qua, nhưng
truyện ngắn thì không thể làm thế. Truyện ngắn phải trực tiếp đả động đến điều mọi người đang
của dòng đời”. Nếu t
iểu thuyết “diễn tả một quá trình vận động của cuộc sống” thì truyện
ngắn lại “tập trung vào một tình thế thể hiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm
trạng nhân vật”, nếu tiểu thuyết “mở ra một diện” thì truyện ngắn “tập trung xoáy vào một
điểm”. [71, tr. 73]
Về cách thức tiếp cận cuộc sống, truyện ngắn cũng có những khác biệt, nó “khái quát
cuộc sống theo chiều sâu, lấy điểm nối diện, lấy cái khoảnh khắc để nối cái vĩnh cửu”. [69, tr.
149]
Ý kiến trên được triển khai kỹ và sinh động hơn: “Tiểu thuyết thường vươn tới cái toàn
thể, truyện ngắn lại hay hướng về cái đơn nhất. Nếu ví tiểu thuyết như một căn phòng ấm áp thì
truyện ngắn có lẽ chỉ nên là một ngọn lửa nhiệt lượng tập trung thật mạnh ở nhiệt độ cao. Nếu
tiểu thuyết là một con người với đầy đủ phục sức, đường nét … thì truyện ngắn chỉ nên là một
đôi mắt nhưng đây là cửa sổ tâm hồn - hoặc thậm chí là một cá
i ngước mắt, một ánh mắt vừa
có sức cuốn hút mà độ sâu thẳm lại không thể lường được”. [71, tr. 378]
Nhiều nhà văn đã ra sức tì
m một khoảnh khắc đích đáng cho truyện ngắn của mình. Nó
có giá trị như một một điểm xoáy, một phút giao cắt, trong đó nhân vật có thể phơi mở, bộc lộ
trọn vẹn tính cách. Truyện ngắn Lặng lẽ Sapa của Nguyễn Thành Long, Kịch câm của Phan
Thị Vàng Anh, Sang sông của Nguyễn Huy Thiệp là những truyện ngắn có chứa đựng những
khoảnh khắc như vậy.
Về tính chất, điều đặc biệt ở truyện ngắn là cốt truyện của nó nhiều khi rất rõ nét,
rất li kì, hấp dẫn nhưng cũng có khi không có, hoặc mờ nhạt. Thạch Lam l
à một nhà văn có
nhiều tác phẩm có cốt truyện mơ hồ, “truyện mà không có chuyện” như thế.
Vậy có yếu tố nào khác khiến cho truyện ngắn vẫn được chấp nhận khi thiếu vắng cốt
truyện? Có lẽ, yếu tố đó chính là chi tiết.
Ở truyện ngắn, chi tiết đóng vai trò rất quan trọng. Nó góp phần tạo dựng cảnh trí, không
Theo dòng lịch sử, đã có sự thay đổi đáng kể trong cách kết thúc tác phẩm của truyện
ngắn Việt Nam, từ kết thúc đóng, chuyển sang kết thúc mở. Hơn thế nữa, để nới rộng biên độ
cho độ mở của đoạn kết và kéo người đọc vào quá trình đồng sáng tạo, một số cây viết truyện
ngắn hiện đại lão luyện còn tạo ra một khoảng trống tự do ở cuối truyện.
Nguyễn Huy Thiệp là
nhà văn sử dụng hữu hiệu sức mạnh biểu đạt của những khoảng trống này (Chúng tôi sẽ còn đề
cập đến nét độc đáo này ở phần sau của l
uận văn). Lối kết thúc mở có giá trị tạo nên dư ba, tạo
nên sức ám ảnh cho người đọc, cũng là cách làm cho tác phẩm có sức sống lâu bền với thời
gian.
Là thể loại tự sự đòi hỏi một kết cấu chặt chẽ, kết cấu truyện ngắn cũng có những nét đặc
thù riêng. Theo Nguyễn Minh Châu, “Nếu tiểu thuyết là một đoạn của dòng đời thì truyện ngắn
là cái mặt cắt của dòng đời. Vì thế mà cũng như kịch ngắn, truyện ngắn đòi hỏi người viết một
công việc tổ chức và cấu trúc truyện hết sức nghiêm ngặt. Quả thực có một thứ kĩ thuật tinh xảo
- kỹ thuật viết truyện ngắn. Nó cũng giống như kĩ thuật của người làm pháo, dồn nén tư tưởng
vào trong một cốt truyện thật ngắn gọn, tự nhiên” [8, tr. 251]
. Nhiệm vụ của kết cấu là
phải tổ chức tác phẩm sao cho chủ đề tập trung, tư tưởng thống nhất và thấm sâu vào toàn bộ
các bộ phận của tác phẩm, kể cả những chi tiết nhỏ nhất.
Gọn, cơ động, kết cấu trong truyện ngắn thường đa dạng: kết cấu theo trình tự thời gian,
kết cấu bằng cách đi thẳng vào giữa truyện, kết cấu theo hai tuyến nhân vật, kết cấu tâm
lí …
Nam Cao là một trong số các nhà văn hiện đại tìm ra được những cách kết cấu tác phẩm rất đặc
trưng, ấn tượng: kết cấu tâm lí. Hiện nay, trong thực tế sáng tác truyện ngắn, nhiều nhà văn tự
tìm ra cho mình những kiểu kết cấu phá cách độc đáo, không trùng lặp và cũng rất khó gọi tên
như Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp …
Nhân vật là
một phương diện rất quan trọng của truyện ngắn. Ở các truyện ngắn đặc sắc,
bao giờ các tác giả cũng xây dựng được những nhân vật điển hình: AQ (AQ chính truyện - Lỗ
Tấn), Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao), tướng Thuấn (Tướng về hưu - Nguyễn Huy Thiệp),
sống cùng gia đình tại Hà Nội. Ngoài công việc sáng tác, Nguyễn Huy Thiệp còn thử sức trong
nhiều công việc và ngành nghề khác nhau, gần đây nhất ông chuyển sang kinh doanh, với nhà
hàng Hoa Ban.
Nửa sau thập niên t
ám mươi, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Đất nước ta có sự
chuyển biến tích cực ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nghị quyết 05 của Hội nghị Ban
chấp hành trung ương Đảng, trong khi yêu cầu cụ thể hoá đường lối đổi mới trong lĩnh vực văn
hoá văn nghệ: “Đổi mới và nâng cao trì
nh độ lãnh đạo, quản lí văn học nghệ thuật và văn hoá,
phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới”
đã thúc đẩy việc đổi mới tư duy và dân chủ hoá xã hội. Không khí này nhanh chóng ảnh hưởng
mạnh mẽ và trực tiếp đến tinh thần của Đại hội nhà văn được tổ chức ngay sau đó. Nền văn học
của chúng ta thực sự đã có những bước chuyển m
ình đáng kể. Chưa bao giờ văn học lại trở nên
khởi sắc trong cả giới sáng tác lẫn phê bình như vậy. Trong số những tác phẩm văn học đã góp
phần thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới, có thể kể đến Nguyễn Mạnh Tuấn với
Đứng trước biển, Cù lao Tràm, Lê Lựu với Thời xa vắng, Dương Thu Hương với Bên kia bờ
ảo vọng, Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong vườn, Nguyễn Minh Châu với Chiếc thu
yền
ngoài xa… Sự xuất hiện của các tác giả và các các phẩm trên đã ghi dấu những chuyển biến hết
sức tích cực trong đời sống văn học nước nhà. Qua các tác phẩm, ta thấy cái nhìn của nhà văn
về thế giới và con người trở nên phong phú đa dạng phức tạp hơn rất nhiều. Đồng thời, các nhà
văn đã bước đầu có ý thức tìm tòi thể nghiệm n
hững cách nhìn mới, cách đánh giá mới, những
đổi mới trong thủ pháp nghệ thuật.
Xuất hiện trên văn đàn Việt Nam đúng vào lúc Đảng và nhà nước chủ trương “Cởi trói cho
văn học nghệ thuật”, Nguyễn Huy Thiệp có điều kiện để thể nghiệm một lối đi riêng cùng với
những cách tân hiện đại trong mỗi trang viết của mình. Những tác phẩm của ông đã lập tức gây
được tiếng vang lớn và ông nhanh chóng trở thành một hiện tượng độc đáo trong đời sống văn
Với Nguyễn Huy Thiệp, tất cả không đơn giản và rành mạch như vậy. Trong truyện
ngắn của mình, nhà văn để cho nhân vật phát ngôn về văn chương, và tất cả làm nên những cái
nhìn từ nhiều lăng kính khác nhau, không đơn nhất mà đa dạng, phức tạp: “văn chương có
nhiều thứ lắm. Có thứ văn chương hành nghề kiếm sống, có thứ văn chương sửa mình, có thứ
văn chương t
rốn đời, trốn việc, lại có thứ văn chương làm loạn” (Giọt máu) có lúc văn chương
“là thứ bỉ ổi nhất” (Chút thoáng Xuân Hương), nhưng cũng có khi lại “có cái gì từa tựa lẽ
phải” (Giọt máu). Để nhân vật đối thoại với nhau như vậy về văn chương, dường như Nguyễn
Huy Thiệp m
uốn nói rằng, văn chương là một thế giới đầy bí ẩn để con người phải lặn ngụp
trong hành trình tìm kiếm, có khi là đi tìm suốt cả cuộc đời. Nhưng đặc biệt, có lẽ ông muốn
bình thường hóa văn chương bằng cách nhìn, cách nói suồng sã. Khác Nam Cao, Nguyễn Huy
Thiệp không mớm cho người đọc một chân lí nào, ngay cả khi sách đã được gấp lại. Cái ông
đem đến cho người đọc chính là sự hoài nghi về chân lí. Và với những độc giả đã quen với tâm
thế đón chờ chân lí, người ta sẽ trở nên lạ lẫm trước trang văn của ông. Vì vậy, thậm chí có
người còn vội vàng kết cho ông biết bao nhiêu thứ tội. Muốn hiểu rõ về tác phẩm của Nguyễn
Huy Thiệp, ta nên phân tích kỹ các quan niệm văn chương trên trang viết của ông.
Quan niệm về văn chương của Nguyễn Huy Thiệp, trước hết được n
hà văn kí thác qua
những phát ngôn của các nhân vật. Trong truyện Chút thoáng Xuân Hương, tri huyện Thặng
từng ngạo mạn tuyên bố: “Hách chứ … không hách để văn chương các chú làm loạn à? Văn
chương là miếng đất nghịch”. Theo Thặng, văn chương có thể “làm loạn” – nó làm loạn trong
tiềm thức của con người – một cuộc nổi loạn mà không có một thế lực nào có thể dập tắt được.
Nghĩa là bản thân nó hàm
chứa một sức mạnh ghê gớm. Những con người đầy quyền uy như
Thặng dù bề ngoài luôn tỏ ra cứng rắn nhưng thật ra hắn cũng rất khiếp sợ. Cái “hách” ấy suy
cho cùng là một sự lên gân để Thặng che dấu nỗi sợ mà thôi. Cùng chung suy nghĩ và tâm trạng
với tri huyện Thặng, Nguyễn Phúc Ánh trong Kiếm sắc cũng đã từng giảng giải về văn chương,
vào câu chuyện, như một thứ “trữ tình ngoại đề”. Cuối truyện Kiếm sắc, Nguyễn Huy Thiệp
không kìm được, đã nói chõ vào: “công việc viết văn vốn rất nhọc nhằn, phức tạp,
lại buồn tẻ
nữa”. Câu nói ấy cho thấy Nguyễn Huy Thiệp ý thức sâu sắc về nghề văn, và ông thường
xuyên tự vấn. Vì thế, mỗi trang viết của ông như một sự trăn đi trở lại, như một sự dằn vặt
chính mình: “Ở trường đại học tôi đã thuyết giảng về sự vô minh của con người và thế giới,
lòng khao khát của cá nhân t
ôi với cuộc sống mà thượng đế đã ban cho. Giờ nhớ lại những
điều tôi nói hôm ấy thật xa xỉ và phù phiếm, thậm chí dối trá” (Quan âm chỉ lộ). Từng mang
khuôn mặt của một kẻ kiêu ngạo, cô đơn, Nguyễn Huy Thiệp đã ý thức được nỗi cô đơn tột
cùng trong sáng tạo. Viết văn không chỉ là một công việc khiến nhà văn đối mặt với sự nhà
m
chán, “buồn tẻ” mà còn hơn thế nữa. Trong truyện ngắn Giọt máu, ông đã từng thốt lên đau
đớn: “thằng bé mơ hồ hiểu rằng học đòi văn chương là nó bước vào một cõi mà ở đấy, nó
không thể nương tựa vào bất cứ thứ gì, ngoài bản thân nó”. Không được nương tựa vào bất cứ
thứ gì đồng nghĩa với việc nhà văn phải đối diện với “một khối cô
đơn khổng lồ”. Nguyễn Huy
Thiệp cô đơn trong sáng tạo, cô đơn để sáng tạo. Ông chấp nhận sự cô đơn để được là mình.
Chấp nhận cô đơn, dấn thân vào một cuộc “hành xác” tự nguyện, để tìm ra nghĩa lí của
cuộc đời nhưng cũng có lúc chính Nguyễn Huy Thiệp lại chua chát nhận ra sự bất lực của ngôn
từ (một phương tiện đặc thù của văn chương) trước việc thể hiện những nỗi đau nhân thế:
“Tôi nghĩ về sự đơn giản của ngôn từ
Sự bất lực của hình t
hức biểu đạt
Mà nỗi nhọc nhằn đầy mặt đất
Sự vô nghĩa trắng trợn đầy mặt đất
Những số phận hiu hắt đầy mặt đất
Bao tháng ngày trôi đi
Bao kiếp người trôi đi
đặc biệt quan tâm một phương diện nào đó, một khu vực nào đó, và thể hiện nó t
heo cách nhìn
nào đó: điều ấy tùy thuộc rất nhiều vào cảm hứng nghệ thuật. Cảm hứng nghệ thuật là một trạng
thái tình cảm ở cường độ đặc biệt, kết tinh thành tư tưởng và xu hướng, nó thúc đẩy nhà văn
cầm bút và làm ấm nóng trang viết: “Đó là trạng thái phấn hứng cao độ của nhà văn do việc
chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả. Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt
nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại xã hội” . [60, tr. 141]
Trạng thái ấy luôn biến động, chi phối nội
dung và thủ pháp của nhà văn.
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã thể hiện nhiều phương diện của đời sống, nhiều khuôn
mặt của con người, với những cảm
xúc khác nhau, chính vì vậy “các loại hiện tượng đời sống”
và các dạng cảm hứng trong tác phẩm của ông cũng hết sức phong phú, đa dạng. Dựa vào nội
dung tác phẩm, chúng tôi tạm chia truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thành 3 mảng đề tài
chính và 3 cảm hứng tương ứng: đề tài miền núi- nông thôn và cảm hứng trữ tình, đề tài thành
thị và cảm hứng phê phán, đề tài lịch sử và cảm hứng tự vấn.
1.2.3.1. Đề tài miền núi – nông thôn và cảm hứng trữ tình
Nguyễn Huy Thiệp đã từng sống ở vùng cao Tây Bắc trong suốt mười năm kể từ sau khi
tốt nghiệp đại học. Trong khoảng thời gian đó ông có điều kiện sống gần gũi với người dân
miền núi, được tiếp xúc với kho tàng văn học dân gian và trí tuệ dân gian. Đó là những nguồn
tư liệu phong phú, hữu ích góp phần làm
nên những thành công lớn cho Nguyễn Huy Thiệp khi
ông hoàn thiện chùm truyện Những ngọn gió Hua tát - những truyện ngắn đầu tay được phôi
thai từ những năm tháng ông còn là một chàng thanh niên trai trẻ mới bước vào độ tuổi hai
mươi.
Chưa từng đặt chân đến Hua Tát, song, qua lời giới thiệu của tác giả người đọc có thể
hình dung một cách khá cụ thể về nó. Hua Tát là một địa danh có thực nằm ở Vùng núi
Tây
Chùm
truyện gồm tất cả mười truyện nhỏ, mỗi truyện kể về một cuộc đời, một số phận,
và tất cả đều có một sức hấp dẫn, lôi cuốn kì diệu. Trong chùm truyện, mỗi nhân vật có một
cuộc đời riêng và mỗi cuộc đời đó lại gắn liền với một sự kiện quan trọng, quan trọng đến mức
có thể đưa số phận họ rẽ sang một hướng khác. Hầu hết các nhân vật trong chùm
truyện đều là
những nhân vật có tên tuổi rõ ràng. Song, điều giống nhau ở các nhân vật này chính là những
điều kì dị khác người ở họ. Các cô gái trong chùm truyện hoặc là rất xinh đẹp “da trắng như
trứng gà bóc, tóc mượt và dài, môi đỏ như son” nhưng lại bị liệt hai chân “suốt năm suốt tháng
nằm một chỗ” như Pùa (Trái tim hổ). Hoặc có một ma lực đặc biệt để hút hồn hết cánh đàn ông
trong bản như nàng Bua với “đôi hông to khoẻ, thân hình chắc lẳn, bộ ngực nở nang mềm
mại… lúc nào cũng tươi cười tràn trề thứ ánh sáng cuốn hút lòng người”, nhưng cô cũng chín
h
là mẹ của chín đứa con mà không có ai – ngay cả cô – biết đích xác ai là bố của chúng. Người
phụ nữ có ma lực ấy bị dân bản rủa thầm là “quỷ dữ”. Hoặc vừa xinh đẹp vừa đức hạnh “ít có
người bì kịp” cùng với một trí tuệ thông minh sắc sảo như Hà Thị E, con gái của trưởng bản Hà
Văn Nó trong Tiệc xòe vui nhất. Song cũng có khi trái ngược hoàn toàn, xấu xí “gày gò bé nhỏ
… sống thui thủi như con chim cút” như nàng Sinh trong câu chuyện cùng tên. Hoặc câm
lặng
đến kì cục như người vợ của lão thợ săn nhập cư trong Con thú lớn nhất: “ lúc nào cũng âm
thầm, im lặng suốt ngày không hề thấy nói một tiếng”…
Các nhân vật nam giới trong chùm truyện viết về miền núi này cũng là những con người
kì lạ, khác thường. Hoặc dị dạng về hình hài như chàng Khó (Trái tim hổ) “Chàng bị đậu mùa,
mặt rỗ chằng chịt… hai tay dài chấm đầu gối, đôi
chân khẳng khiu, lúc nào đi cũng như chạy”.
Hoặc có một vẻ bề ngoài phong độ và tráng kiện đến bất ngờ như ông Pành trong Đất quên. Dù
đã hơn tám mươi tuổi “nhưng hàm răng của ông vẫn còn đều tăm tắp như răng chàng trai
mười bảy tuổi. Cối đá giã gạo, ông dùng một tay cử lên như bỡn. Ông làm bằng ba người khác.
Uống rượu cũng vậy, sức ông có thể chấp nổi muôn người”. Với độ tuổi ấy ông Pành vẫn có cơ
thân để trở về bảo vệ bầy sói con… Kết cục, chính những kẻ ác tâm, tàn phá huỷ diệt môi
trường ấy đã gánh chịu sự trả t
hù như một báo ứng tất yếu. Lão thợ săn ngụ cư cuối cùng tự tay
bắn chết người vợ và bắn chết chính mình. Đứa con trai duy nhất của Hoàng Văn Nhân – trong
ngày lễ cúng ma đã bị chính con sói con duy nhất còn lại trong đàn sói bị bố nó tiêu diệt ngày
nào trả thù. Con sói trả thù mới khủng khiếp làm sao: “nó cắn, cào, nhay, nhá, nó rứt từ cổ
thằng San ra từng mảnh thịt, từng sợi gân và dây chằng bê bết máu” (Sói trả thù).
Một điều nữa cũng hết sức đáng quan tâ
m là trong chùm truyện về đề tài miền núi này,
các nhân vật bao giờ cũng được tác giả đặt vào các sự kiện trọng đại để họ có thể bộc lộ, tính
cách, phẩm chất. Trước những sự kiện đó nhân vật có 2 cách ứng xử. Hoặc l
à cố gắng chinh
phục, vượt qua thử thách, cố gắng để đạt mục đích của mình. Chàng Khó trong Trái tim hổ
cũng đi săn nhưng “không phải để lấy bùa phép may mắn” mà để chàng “lấy thuốc về chữa
cho Pùa”. Lão thợ săn trong Con thú lớn nhất “suốt đời lão chỉ săn được những con chim, con
thú bình thường … chưa bao giờ lão săn được con thú lớn ba bốn tạ thịt” và lão rất khổ tâm
,
dằn vặt về điều đó. Lão mơ ước săn được một con thú thật lớn. Hà Thị E, cô gái thông minh,
sắc sảo trong Tiệc xòe vui nhất, vì mong muốn lấy được tấm chồng có “đức tính quý nhất” nên
đã cùng cha và dân bản mất công tổ chức rất nhiều cuộc kén rể. Ông Pành (Đất quên) muốn
chặt được cây lim to nhất ở đỉnh Phu Luông để chứng tỏ tì
nh yêu say đắm với Muôn. Sạ mang
trong mình “niềm ham muốn và những khát vọng mãnh liệt”, chàng đã làm những trò tinh quái
mục đích để đạt những khát vọng nhưng mọi người không hiểu, chàng rơi vào “nỗi cô đơn