BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------
VŨ THỊ HẠNG
ĐÓNG GÓP CỦA THỂ LOẠI KÝ
GIAI ĐOẠN VĂN HỌC THẾ KỶ XVIII
ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ THU YẾN
Với thể ký người viết có thể bộc lộ một cách trực diện,
rõ ràng về bản thân cũng như để ghi lại các sự kiện diễn ra trong thực tế. Trước
nay, đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn học trung đại Việt Nam nhưng thể loại ký
dường như ít được đề cập đến trong các bộ sách viết về lịch sử văn học Việt Nam. Có
những công trình nghiên cứu nhưng chỉ dừng lại ở phương diện hạn hẹp mà chưa có
một phác thảo chung về đóng góp của bộ phận văn học này.
Từ năm 2
002, các tác phẩm ký trung đại Việt Nam được đưa vào giảng dạy
trong chương trình Văn 11 thí điểm phân ban ở cả hai bộ sách (bộ 1 do Trần Đình Sử
chủ biên; bộ 2 do Phan Trọng Luận chủ biên) với đoạn ký “Về thăm cố hương” (trích
Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác) và “Tự thuật” (trích Vũ trung tùy bút của Phạm
Đình Hổ). Đây là một sự ghi nhận đáng kể về vị trí của ký trung đại Việt Nam thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XI
X đối với nền văn học nước nhà.
Từ thực tế trên, cùng với những hướng dẫn và gợi ý của PGS.TS. Lê Thu Yến,
chúng tôi đã mạnh dạn thực hiện đề tài: “Đóng góp của thể loại ký giai đoạn văn học thế
kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX”. Thực hiện đề tài này là cơ hội để chúng t
ôi có cái nhìn
khoa học hơn về những đóng góp của một thể loại văn học đối với nền văn học nước
nhà. Do đặc trưng riêng của thể loại ký là ghi chép sự thật, con người có thật nên lịch sử
và xã hội nước ta được khắc họa một cách rõ nét. Và bên cạnh khả năng phản ánh hiện
thực ấy th
ì ký Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX còn là những tác
phẩm ký nghệ thuật đặc sắc và nó đã đem đến cho người đọc những cảm xúc thẩm mỹ
thực sự.
Tìm hiểu kỹ về đề tài trên, chúng tôi nghĩ không chỉ là dịp có điều kiện đi sâu để
phát hiện những nét độc đáo riêng của thể loại văn học giai đoạn này, mà trên cơ sở
đó còn mở ra một cái nhìn mới với loại ký hiện đại về sau. Hơn nữa nó còn giúp cho
người viết có thêm một lượng kiến thức về giai đoạn văn học trung đại để giảng dạy
và sự kết tinh nghệ thuật ở các tác phẩm ký giai đoạn văn học này vẫn được bạn đọc
nhiều thế hệ yêu thích. Cho đến nay, các tác phẩm ký trung đại được tái bản và đến
với bạn đọc rộng rãi hơn. Vì thế, đã có những công trình nghiên cứu về giai đoạn văn
học cũng như những tác phẩm ký giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, việc nghiên cứu ký trung đại còn nhiều
khó khăn. Thời gian này các bộ lịch sử văn học Việt Nam lần lượt ra đời như Đại Việt
văn học lịch sử, Việt Nam cổ văn học sử, Việt Na
m văn học sử yếu, … Sau Cánh mạng
lại có thêm bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến
nửa đầu thế kỷ XVIII, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ
XIX,… Đó là chưa kể đến các bộ sách lịch sử văn học Việt Nam của các trường Đại
học tổng hợp Hà Nội,
Đại học sư phạm Hà Nội… Trong quá trình phác thảo xây dựng
các bộ sách trên, các nhà nghiên cứu luôn chú ý đến hiện thực lịch sử chi phối đến văn
học.
Nhìn chung, việc nghiên cứu thể ký trung đại ở giai đoạn trước Cách mạng
tháng Tám chủ yếu tập trung vào các bộ lịch sử văn học mà chưa có những công t
rình
độc lập riêng. Việc đánh giá về những đóng góp của ký trung đại Việt Nam giai đoạn
thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX vì vậy khó tránh khỏi nhiều chỗ còn sơ sài.
Từ sau những năm 1990 một số công trình nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam
ra đời. Chẳng hạn công trình Đặc trưng văn học trung đại của giáo sư Lê Trí Viễn
(1996), Văn học trung đại Việt Nam do GS. Lê Trí Viễn chủ biê
n (1997), Lý luận văn
học do GS. Hà Minh Đức chủ biên (1998), Văn học Việt Nam - Văn học trung đại:
Những công trình nghiên cứu của Lê Thu Yến, Đoàn Thị Thu Vân, Lê Văn Lực (2000).
Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 2: Ký của Nguyễn Đăng Na (2001), Lý luận
và phê bình văn học của Trần Đình Sử (2003)… Khi nghiên cứu về Văn xuôi tự sự Việt
Nam thời trung đại, Nguyễn Đăng Na đã đưa ra nhận định: “Ký trước hết là một bộ phận
cùng với truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi hợp thành văn xuôi tự sự” [35, tr.
quá khứ, trở lại cái xã hội “trâm anh thế phiệt” cũ, thậm chí nếu muốn, còn
có thể trở lại cái địa vị một “bề tôi” của thiên tử, mà ông từng rời bỏ xưa kia. Cho nên
Thượng kinh ký sự trước hết là câu chuyện của một tâm trạng: bàng hoàng thao thức,
đấu tranh với mình, chống lại mọi cám dỗ, tìm mọi cách để được trở về”.
Bên cạnh đó còn có những bài nghiên cứu về Vũ trung t
ùy bút của Phạm Đình
Hổ.
“Đọc Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ”, của Mai Trân (Nghiên cứu văn
học số 7/1960).
“Phạm Đình Hổ - nhà khảo cứu, nhà văn”, của Trần Thị Băng Thanh (Nghiên
cứu văn học nghệ thuật, số 5/1993).
Đồng thời hàng loạt bài viết về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí có liên quan
trực tiếp đến đề tài luận văn:
“Tính cách điển hình trong Hoàng Lê nhất thống chí”,
của Đỗ Đức Dục (Tạp
chí Văn học số 9/1968).
“Phong trào khởi nghĩa nông dân và văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu
thế kỷ XIX” của Nguyễn Văn Hoàn (Tạp chí Văn học số 4/1973).
“Hoàng Lê nhất thống chí và sự thật lịch sử chung quanh việc Quang Trung
phá quân Thanh” của Vũ Đức Phúc (Tạp chí Văn học số 3/1974).
“Mấy vấn đề Ngô Thì Nhậm, một mưu sỹ lỗi lạc của Quang Trung” của Văn
Tân (Nghiên cứu lịch sử số 154/1974).
“Những nhân vật nữ trong Hoàng Lê nhất thống chí” của Phạm Tú Châu (Tạp
chí Văn học số 1/1978).
“Đọc lại Hoàng Lê nhất thống chí” của Phạm Tú
Châu (Tạp chí Văn học số
2/1979).
“Bàn thêm về Ngô Thì Chí - Ngô Thì Du, tác giả của Hoàng Lê nhất thống
chí” của Phạm Tú Châu (Tạp chí Văn học số 6/1982).
“Hoàng Lê nhất thống chí và truyền thống của tiểu thuyết Viễn Đông” của
Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, một số bà
i ký trong Vũ trung tùy bút của Phạm
Đình Hổ… Hoàng Lê nhất thống chí là một thiên ký sự lịch sử có giá trị. Tính xác
thực lịch sử của những sự kiện được tôn trọng. Tác phẩm lại dựng được khá rõ và
đầy đủ bộ mặt chung của thời đại qua những bức tranh miêu tả sinh động” [17,
tr.288]. Từ khi những tác phẩm ký ra đời đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu
về nhiều khía cạnh sử học cũng như văn học.
Năm
2001, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na cho ra đời công trình Văn xuôi tự
sự Việt Nam thời trung đại, tập 2: ký (Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội). Trong khi
nghiên cứu những vấn đề thể loại ký trung đại Việt Nam, tác giả cũng có bàn đến
một số điểm có liên quan đến đề tài. Nguyễn Đăng Na cho rằng: “Ký là loại hình
văn học phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự thời tru
ng đại bởi bản thân khái niệm ký
hàm chứa một nội diên có biên độ hết sức co dãn” [35, tr.9].
Đến năm 2003, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na cho ra đời công trình Đặc
điểm văn học Việt Nam trung đại - những vấn đề văn xuôi tự sự (Nhà xuất bản Giáo
dục, Đà Nẵng). Trong công trình này tác giả bàn đến những vấn đề văn xuôi tự sự
trung đại Việt Nam. Tác giả đã mở ra một cách tiếp cận, đi sâu vào việc nghiên cứu
văn xuôi tự sự trên cơ sở khảo sát các tác phẩm.
Trên đây là những bước phác thảo về quá trình nghiên cứu các tác phẩm
ký từ
trước Cách mạng tháng Tám - 1945 đến sau 1975. Nhìn chung việc nghiên cứu về
việc đóng góp của thể loại ký trung đại giai đoạn thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX đã
có nhiều bước phát triển đá
ng kể. Những công trình lớn với nội dung phong phú đã
chứng minh thể ký giai đoạn này đã có bước phát triển mới. Song đi sâu vào vấn đề
đóng góp của thể ký như một công trình chuyên biệt thì chưa có.
Với đề tài “Đóng góp của thể loại ký giai đoạn văn học thế kỷ XVIII đến giữa
thế kỷ XIX”, người viết nghiêm túc lĩnh hội và phát triển sâu hơn một mảng nhỏ
Ngoài phần Mở đầu trình bày những vấn đề mang tính trường quy, trọng tâm
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về thể loại ký trung đại Việt Nam
Chương 2: Đóng góp của thể loại ký về phương tiện nội dung
Chương 3: Đóng góp của thể loại ký về phương diện hình thức
Cuối cùng là Kết luận và Tài liệu tham khảo
Chương 1 - KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI KÝ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM
1.1.1. KHÁI NIỆM
Trong văn xuôi, bên cạnh tiểu thuyết, ký có một tầm quan trọng đặc biệt. Ký là
thể loại cơ động, linh hoạt trong việc phản ánh hiện thực một cách sinh động nhất.
Tác phẩm ký vừa có khả năng đáp ứng yêu cầu của thời đại nhưng đồng thời vẫn
mang đậm chất trữ tình.
Ký bao gồm
nhiều thể loại khác nhau như ký sự, phóng sự, tùy bút, bút ký… Ký
có khả năng bám sát cuộc sống và phản ánh hiện thực bằng nhiều dạng thức khác
nhau. Ký sự thiên về tái hiện những sự kiện phong phú của đời sống; hồi ký ghi lại
những diễn biến của câu chuyện và nhân vật theo bước đi của thời gian qua sự hồi
tưởng; bút ký thể hiện một cách linh hoạt việc phản ánh cuộc sống khách quan… Có
thể nói tùy theo hình thức khác nhau của đối tượng m
iêu tả mà ký có cách tái hiện
riêng cho phù hợp.
Trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, các tác phẩm ký có một vị trí đặc
biệt quan trọng, từ hình thức truyện ký như Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Lĩnh
Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp, đến Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ
trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và đặc biệt là thiên ký sự lịch sử Hoàng Lê nhất
thống chí của Ngô gia văn phái.
Từ sau Cách mạng tháng Tám thể loại ký phát triển gắn liền với những chuyển
biến của xã hội qua hai cuộc kháng chiến cứu nước. Rất nhiều tác phẩm c
ó giá trị như
người và sự việc có sức khái quát. Ký sự ngắn hay dài tùy theo nội dung câu chuyện
thực mà tác giả tham dự. Ký sự khác với hồi ký ở chỗ sự việc được kể trong thì hiện
tại. Nhưng so với phóng sự, ký sự lại ít chất thời sự hơn. Phóng sự thật sự ra đời khi
báo chí hiện đại đã xuất hiện còn ký sự đã xuất hiện từ lâu.
Trong văn học cổ phương Đông, thể ký vốn có mặt từ thời Tiên Tần và
về sau
phân thành hai nhánh: có ký của sử và có ký của truyện. Trong một thời gian khá
dài thì ký là tiền thân của tiểu thuyết, có khi tên gọi ký cũng dùng cho tiểu thuyết
hay một câu chuyện có kịch tính như Tây du ký, Tây sương ký...
Trong văn học Việt Nam thì thể ký có từ rất lâu đời nhưng ký sự thì về sau mới
có như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Tr
ác, một số bài ký trong Vũ trung tùy bút của
Phạm Đình Hổ. Thượng kinh ký sự viết về chuyến đi ra kinh đô Thăng Long của tác
giả năm 1782 để chữa bệnh cho cha con Trịnh Sâm và Trịnh Cán theo lời mời của
chúa. Thượng kinh ký sự mang tính chất một du ký, tác giả trình bày sự việc như đã
diễn ra tuần tự trong cuộc hành trình từ lúc xuất phát cho đến khi trở về nhà.
Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái là một thiên ký sự lịch
sử có giá
trị. Tác phẩm dựng được khá rõ và đầy đủ bộ mặt chung của thời đại qua những bức
tranh miêu tả sinh động. Vào thế kỷ XIX, có tác phẩm Tây hành nhật ký (Nhật ký đi
Tây) của Phạm Phú Thứ, tuy mang tên nhật ký nhưng thực chất là một thiên ký sự
phong phú và sinh động về chuyến đi Pháp năm 1863 của phái bộ Phan Thanh Giản
nhằm chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ vừa mất vào tay Pháp.
Từ sau cách mạng tháng Tám ký sự có điều kiện thuận lợi để phát triển. Ký sự
của Nguyễn Huy Tưởng thì phản ánh chân thực cuộc chiến đấu qua một chiến dịch.
Ký sự Cao Lạng ghi chép rất sát những diễn biến phức tạp, gay go của chiến dịch
biên giới vào năm
1950, mở đầu cho những trận đánh quy mô giữa quân dân Việt
Nam và lực lượng chính quy của Pháp về sau. Một số ký sự trong những năm chống
Mỹ cứu nước đã gây nhiều tác động đến người đọc như Nguyễn Khải với Họ sống và
1.1.2. NHỮNG TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH THỂ LOẠI KÝ
Ký trung đại Việt Nam ra đời từ rất sớm và là loại hình văn học phức tạp nhất
trong văn xuôi tự sự thời trung đại. Có thể nói “về mặt lý luận, các nhà thư tịch học
như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và các nhà văn học sử thế kỷ XX không tách ký
khỏi truyện. Đối với họ chỉ có cái gọi chung là Truyện ký hoặc Tự sự truyện ký” [35,
tr.20].
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na “Người đầu tiên
tiến hành phân loại
Văn học Việt Nam là Lê Quý Đôn (1726 - 1784). Ông viết: “Nay theo sử cũ đã
chép và sách riêng của các nhà (…) sao lấy các tên sách (…) chia làm bốn loại,
một là Hiến chương, hai là Thi văn, ba là Truyện ký, bốn là Phương kỹ” [35,
tr.16]. Hơn nửa thế kỷ sau, Phan Huy Chú (1782 - 1840) có điều kiện thời gian để
sưu tầm và phân loại thư tịch Việt Nam. Ông dựa vào chức năng và đặc trưng của
văn học để phân loại vì thế đã bỏ được l
oại Phương kỹ và thêm loại Kinh sử. “Tôi
bèn tìm xét sử cũ, tham khảo các nhà, biên hết tên sách, chia làm 4 loại: 1. Hiến
chương; 2. Kinh sử; 3. Thi văn; 4. Truyện ký” [35, tr.18].
Trong văn học trung đại có một thời kỳ bộ phận của văn học nghệ thuật tiếp giáp
với văn học chức năng tạo thành thế quân bằng. Bộ phận văn học này tạo nên cái mà
người ta gọi là “văn - sử - triết bất phân”. Tính đa chức năng của văn học trung đại l
à
điểm phổ quát của văn học trung đại từ Đông sang Tây. Nhưng văn học tiến triển đến
một trình độ nào đó, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải phân loại để chỉ ra đặc trưng và
công năng của từng thể loại.
Trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Đăng Na
đưa ra những dẫn chứng
cho thấy rằng, trên thực tiễn sáng tác chúng ta có một hệ thống tác phẩm ký thực sự.
Khi viết bài giới thiệu cho từng tác phẩm cụ thể trong cái gọi là Truyện ký như Thượng
kinh ký sự, Tang thương ngẫu lục, Thoái thực ký văn, Bắc hành tùng ký… thì các dịch
giả hoặc người giới thiệu đều gọi chúng là ký sự. Chẳng hạn, trong lời giới thiệu cho
tác phẩm, cái tôi cá nhân tác giả bắt đầu xuất hiện và thể ký đích thực đã ra đời. Mặc
dù giữa ký và truyện khó phân biệt rạch ròi nhưng dựa vào đặc trưng thể loại chúng
vẫn có những điểm khác biệt.
Ký:
- Ghi chép sự kiện lịch sử có thật (con người, sự kiện, thời gian, không
gian…) chính xác.
- Có hư cấu ở một số chi tiết nhỏ.
- Nhân vật xuất hiện trong sự kiện.
Truyện:
- Gắn sự kiện lịch sử với những sáng tạo nghệ thuật.
- Hư cấu nhiều.
- Nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, có sự phát triển tính cách.
Có quan điểm cho rằng Hoàng Lê nhất thống chí là tiểu thuyết chương hồi bởi cấu
tạo của nó không khác mấy so với tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa. Nó có phần đề
hồi và hạ hồi với những sự kiện, nhân vật trong lịch sử. Nhưng nếu xét kỹ đặc t
rưng
thể loại của tiểu thuyết với đặc trưng thể loại của ký sự ta thấy chúng có những đặc
trưng hoàn toàn khác nhau. Nếu đem những đặc trưng đó đặt vào tác phẩm thì ta thấy
những đặc trưng của thể loại ký sự thích hợp hơn bởi ký sự rất linh hoạt trong việc thể
hiện các phong cách nghệ thuật. Tiểu thuyết chương hồi đó là “Một thể loại tác phẩm
tự sự dài hơi của Trung Quốc, thịnh hành vào đời Minh, Thanh… thoát thai từ thoại
bản,
kết cấu có đặc điểm: đầu mỗi thiên có nhập thoại bằng thơ hay mẩu chuyện nhỏ,
liên hệ với chính văn bằng ý nghĩa tương tự hay tương phản, ngoài câu chuyện còn
dùng thơ, từ, phú để tả cảnh, tả vật khi phải khắc hoạ tỉ mỉ nhân vật v
à sự kiện, vừa để
nối trên, tiếp dưới hoặc nói lên sự tán thưởng của tác giả. Cuối thiên được kết thúc
bằng thơ, phần lớn có ý nghĩa khuyên răn. Thoại bản giảng sử thường là trường thiên.
Câu chuyện lịch sử dài phải chia làm nhiều đoạn , kể làm nhiều lần hồi. Để phân biệt,
người ta đặt tiêu đề cho mỗi hồi, v
Về hình thức ký sự nhà nghiên cứu Hà Minh Đức trong công trình Lý luận văn
học (1998) cho rằng: “hình thức ký đã có từ lâu trong văn học Việt Nam như Thượng
kinh ký sự của Lê Hữu Trác, một số bài ký trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình
Hổ… Hoàng Lê nhất thống chí là một thiên ký sự lịch sử có giá trị. Tí
nh xác thực
lịch sử của những sự kiện được tôn trọng. Tác phẩm lại dựng được khá rõ và đầy đủ
bộ mặt chung của thời đại qua bức tranh miêu tả sinh động” [17, tr.288]. Hoặc là bàn
về tính hiện thực trong tác phẩm, Nguyễn Phương Chi cũng cho rằng Hoàng Lê nhất
thống chí thuộc thể ký như Thượng kinh ký sự và Vũ trung tùy bút. Nói như Nguyễn
Phương Chi: “Cùng với Hoàng Lê nhất thống chí và
Thượng kinh ký sự, Vũ trung tùy
bút là thiên ký tiêu biểu xuất sắc của mảng văn xuôi giàu tính hiện thực của văn học
Việt Nam thế kỷ XVIII” [18, tr.203].
Như vậy, mặc dù còn một vài quan điểm cho rằng Hoàng Lê nhất thống chí là
tiểu thuyết lịch sử bởi cấu tạo của nó không khác mấy so tiểu thuyết chương hồi của
Trung Hoa. Nhưng nếu xét kỹ đặc trưng t
hể loại của tiểu thuyết với đặc trưng thể loại
của ký sự ta thấy chúng có những đặc trưng hoàn toàn khác nhau. Hơn nữa nếu đi sâu
vào đặc trưng kết cấu của tác phẩm thì Hoàng Lê nhất thống chí gần với ký sự lịch sử
hơn. Hoàng Lê nhất thống chí viết về những sự kiện lịch sử vừa mới xảy ra chứ
không phải là những sự kiện lịch sử xa xưa. Tất cả con người, sự kiện, năm
tháng ở
đây đều có thật và đã diễn ra trong lịch sử. Nếu như tiểu thuyết chương hồi Trung
Quốc thoát thai từ thoại bản, kết cấu có những đặc điểm như đã nêu ở trên thì Hoàng
Lê nhất thống chí hiện thực lịch sử gần như đi thẳng vào trong tác phẩm. Mặt khác,
hiện thực thực lịch sử được đề cập trong tác phẩm so với thời điểm tác phẩm ra đời
có khoảng cách thời gian không đáng kể. Chính vì vậy mà giá trị sử học trong Hoàng
Lê nhất thống chí là một đặc điểm khá nổi bật, là tài liệu tin cậy để nhà nghiên cứu
lịch sử tham khảo.
tác phẩm văn thuộc thể ký khắc trên đá là văn bia. Nội dung văn bia thế kỷ X - XIV
không phong phú nhưng văn phong khá đa dạng. Mỗi bài là sự kết hợp giữa tả cảnh,
tả tình, kể việc, kể người với p
hát biểu trực tiếp cảm nghĩ cá nhân người cầm bút nên
chúng mang đậm chất ký. Một số bài văn bia nổi tiếng thế kỷ X - XIV như: Bảo Ninh
Sùng Phúc tự bi, Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh (Khuyết danh), Thiên phúc tự
hồng chung minh văn của Samô Thích Hưng Huệ. Bên cạnh văn bia thì văn chuông
khánh ở giai đoạn này không nhiều nhưng nội dung và nghệ thuật của chúng cũng
tương tự như văn bia.
Thế kỷ X - XIV, về ký còn có tự bạt. Tự và bạt viết ra đều nhằm mục đích giới
thiệu, để bày tỏ quan điểm của m
ình đối với văn chương, học thuật. Giữa chúng có sự
khác biệt: tự thì đặt trước tác phẩm, còn bạt đặt cuối tác phẩm. Các bài tự bạt hiện
còn như: Thiền tông chỉ nam tự, Kim Cương tam muội kinh tự, Bình đẳng lễ sám văn
tự, Lục thì sám hối
khoa tự của Trần Thái Tông, Vạn Kiếp tông bí truyền thư tự của
Trần Khánh Dư, Việt điện u linh tập tự của Lý Tế Xuyên, Thượng Sĩ ngữ lục bạt của
Trần Khắc Chung...
Như vậy, tự bạt cùng với văn khắc đã tạo nên diện mạo của thể ký văn học Việt
Nam thế kỷ X - XIV. Đến giai đoạn sau thì văn khắc trở thành một loại hình riê
ng
thuộc loại hình văn học chức năng và lễ nghi còn tự bạt lại đi sâu vào chức năng khảo
cứu, giới thiệu sách.
Giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII
Thế kỷ XV - XVII thể văn tự bạt phát triển hơn nhiều so với giai đoạn trước về
số lượng và dài hơn về dung lượng. Người viết chủ yếu trì
nh bày trực tiếp quan điểm
của mình trên các lĩnh vực văn học và nghệ thuật, phương pháp sưu tầm và sáng tác.
Ký dưới dạng tự bạt giai đoạn này tách dần ra thành môn khoa học riêng đặt nền
móng cho loại hình ký nghệ thuật.
- Truyện 6 t
hiên: Khoái Châu nghĩa phụ truyện, Mộc miên thụ truyện, Tuý Tiêu
truyện, Lý Tướng quân truyện, Nam Xương nữ tử truyện, Lệ Nương truyện.
- Ký 5 thiên: Hạng vương từ ký, Tây viên kỳ ngộ ký, Đào thị nghiệp oan ký, Đà
Giang dạ ẩm ký, Kim Hoa thi th
oại ký.
Tính chất ký trong văn xuôi tự sự thế kỷ XV - XVII chưa rõ vì vậy muốn tách ký
ra khỏi truyện là một việc làm khó. Theo Nguyễn Đăng Na: “Điều làm nên sự phân
biệt giữa truyện và ký về bản chất là thái độ người cầm bút. Nếu người cầm bút tách
mình khỏi các sự kiện, các nhân vật mình miêu tả như người ngoài c
uộc thì đấy là
truyện; còn tác giả hòa mình vào sự kiện, các nhân vật với tư cách là người trong
cuộc thì đấy là ký” [35, tr.37].
Hồ Nguyên Trừng với tác phẩm Nam Ông mộng lục là người mở đầu cho lối
viết tự sự nhiều thiên thế kỷ XV - XVII. Cùng với Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ,
ông là người đặt nền móng cho thể ký Việt Nam thời trung đại và là đại diện cho
những tác giả ký giai đoạn này. Thế nhưng thế kỷ XV - XVII tính chất ký trong
những thiên tự sự vẫn còn mờ nhạt mà phải đợi đến thế kỷ XVIII - XIX khi ý thức
cá nhân xuất hiện và được thức tỉnh thì ký mới thật sự ra đời.
Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX
Ký là loại hình văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ ký lịch sử, dùng để ghi chép về
con người, sự vật, phong cảnh... Ký của Việt Nam
khá đa dạng, phong phú và thực sự
ra đời vào thế kỷ XVIII. Ta có thể coi Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề là tác
phẩm mở đầu cho thể ký ở Việt Nam. Tuy nhiên tác phẩm của ông còn nặng về tính
truyện dân gian và chất khảo cứu. Mặc dù còn có những hạn chế nhưng Vũ Phương
Đề vẫn là người có công đánh dấu bước phát triển của thể ký trung đại. Sau Vũ
Phương Đề là hàng loạt các tác phẩm
ký khác như Cát Xuyên tiệp bút của Trần Tiến,
Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh, Vũ trung tùy
khách quan khiến cho tác phẩm gần với hình thức văn học chức năng. Mặc dù còn
hạn chế nhưng Giá Viên biệt lục vẫn đánh dấu bước phát triển mới quan trọng về quy
mô phản ánh và đối tượng phản ánh của thể ký giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX.
Đến giai đoạn này, ký có khả năng to lớn, phản ánh được những vấn đề quan
trọng m
à thời đại đặt ra, phản ánh những vấn đề mang tầm vóc quốc gia, quốc tế. Thế
nhưng “cuộc xâm lược của người Pháp vừa mở ra một cục diện phản ánh mới cho thể
ký, nhưng đồng thời cũng đẩy thể ký vào sự bế tắc về phương t
hức phản ánh mà Giá
Viên biệt lục là tín hiệu đầu tiên báo hiệu cho sự bế tắc đó” [35, tr.72].
Sau Phạm Phú Thứ là các tác giả ký cuối cùng của thế kỷ XVIII - XIX: Đặng
Huy Trứ (1820 - 1874), Nguyễn Trường Tộ (1831 - 1871), Nguyễn Lộ Trạch (1853 -
1898)... Trước cảnh đất nước mất dần chủ quyền vào tay người Pháp thì những tác
phẩm của Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch đều ghi chép về hiện
thực dân tộc lúc bấy giờ.
Ký đến gi
ai đoạn cuối thế kỷ XIX chuyển sang dạng điều trần và kế sách.
Những bản điều trần, những bản trình bày công việc cần làm gấp, cần cử người đi
học kỹ thuật, đi học ngoại ngữ... và những kế sách đối với thời cuộc để canh tân đất
nước nghiêng hẳn sang loại hình văn học chức năng.
Như vậy, cũng như tất cả các t
hể loại khác trong văn học trung đại thể ký sau khi
đạt đến đỉnh cao đã rơi vào sự bế tắc. Trước tình hình mới thể ký không thể giữ mãi
lối viết như xưa hơn nữa ký viết bằng chữ Hán cũng không đáp ứng được yêu cầu
thời đại. Ký trung đại đã đi hết hành trì
nh lịch sử mười thế kỷ và nhường bước cho ký
hiện đại sau này.
1.2.2. NHU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA THỂ LOẠI KÝ TRUNG ĐẠI THẾ KỶ
XVIII - XIX
Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại vừa phản ánh tư duy nghệ thuật của
nhưng, từ lúc Quang Trung mất, đất nước lại một lần nữa lâm vào cảnh nội chiến mà
kết quả là nhà Tây Sơn sụp đổ, chúa Nguyễn trở lại giành lấy chính quyền và xây
dựng một nhà nước chuyên chế.
Bức tr
anh xã hội - lịch sử Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX như một
thôi thúc nội tại cần được ghi lại. Chính sự tác động của lịch sử khiến người cầm
bút luôn trăn trở, tìm tòi, thử nghiệm và dĩ nhiên không phải bằng những lý thuyết,
những tài liệu sử học... mà bằng những tác phẩm nghệ thuật cụ thể.
Mặc dù truyện Nôm, ngâm khúc, thơ hát nói, thơ Nôm Đường luật đã đạt nhiều
thành tựu xuất sắc nhưng để ghi lại những bức tranh hiện thực rộng lớn của lịch sử thì
các thể loại này lại không phù hợp. Thể loại ký trung đại Việt Nam thực sự ra đời vào
thế kỷ XVIII. Và nó chỉ thực sự ra đời khi người cầm
bút trực diện trình bày đối
tượng được phản ánh bằng cảm quan của chính mình. Ký viết về hiện tại, viết về
những điều mắt thấy tai nghe. Không gian và thời gian nghệ thuật của ký bao giờ
cũng cụ thể, gắn với những sự kiện và con người đang được đề cập tới. Như vậy thể
loại ký ra đời đã đáp
ứng được nhu cầu phản ánh hiện thực của thời đại.
Chương 2 - ĐÓNG GÓP CỦA THỂ LOẠI KÝ VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
2.1. KÝ GHI LẠI CÁC SỰ KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI
Thế kỷ XVIII - XIX là một giai đoạn lịch sử đầy rối ren và biến động. Thể loại
ký ra đời đã phản ánh một cách chân thực lịch sử xã hội. Đặc điểm mấu chốt để xác
định ranh giới giữa thể ký văn học và các thể loại khác là ở chỗ ký viết về cái có thật
và tôn trọng tính xác thực của đối tượng được miêu tả. Người viết ký có quyền bì
nh
luận, phân tích nhưng chủ yếu vẫn là tiếng nói của bản thân sự sống đang vận động,
phát triển.
Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác đánh dấu sự phát triển của thể ký Việt Nam
thời trung đại. Với thiên ký sự này tác giả ghi lại những cảm nhận của bản thân trước
hiện thực về cảnh vật và con người mà mình tận mắt chứng kiến kể từ khi nhận được
XIX. Thời gian miêu tả là kể từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa (1786) cho đến lúc
Nguyễn Ánh lên ngôi vua (1802). Đây là thời gian khủng hoảng t
rầm trọng của chế độ
phong kiến Việt Nam. Mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp phong kiến thống trị cũng như
mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với nhân dân bộc lộ gay gắt chưa từng thấy. Có thể
nói, những sự kiện quan trọng của giai đoạn lịch sử này đều được các tác giả Hoàng
Lê nhất thống chí ghi chép lại một cách chân thực. Thế nhưng bằng sự kết hợp hài hòa
giữa ch
ân lý lịch sử và chân lý nghệ thuật các tác giả đã để lại cho người đọc những ấn
tượng khó quên về bất kỳ một nhân vật nào trong tác phẩm.
Hoàng Lê nhất thống chí về hình thức được viết theo lối tiểu thuyết chương hồi
của Trung Hoa nhưng mục đích của các tác giả nhằm ghi chép lại các sự kiện lịch
sử vừa xảy ra trê
n đất nước ta. Hoàng Lê nhất thống chí viết về những sự kiện lịch
sử vừa mới xảy ra chứ không phải là những sự kiện lịch sử đã xa xưa. Tất cả con
người, sự kiện và năm tháng ở đây đều có thật và chính xác. Do vậy tác phẩm có
những giá trị to lớn về mặt sử học cũng như về mặt văn học.
Bản chất của thể loại ký là phản ánh “người thật, v
iệc thật” cho nên đời sống xã
hội và những sự kiện lịch sử được ghi lại khá rõ nét. Người đọc không chỉ thấy được
sự đối lập giữa cảnh sống nơi cung vua phủ chúa với đời sống của người dân mà còn
thấy được những sự kiện lịch sử và những nhân vật lịch sử qua
n trọng của một giai
đoạn lịch sử.
2.1.1. ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
2.1.1.1. CẢNH SỐNG NƠI CUNG VUA PHỦ CHÚA
Lối sống giàu sang xa hoa hoang phí
Tính hiện thực của cảnh sống nơi cung vua phủ chúa được các tác giả ghi lại một
cách chân thực sống động. Lần đầu tiên khi bước chân vào phủ chúa Lê Hữu Trác
cũng phải choáng ngợp vì sự xa hoa tráng lệ. Hải Thượng nghĩ bụng “m