BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
T-------------------------------------------- Nguyễn Thò Thanh Hoa
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN TRANG THẾ HY
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN HỮU TÁ
Một phần lý do khiến giới nghiên cứu chậm để ý đến văn chương của Trang Thế
Hy có lẽ là vì văn của ông lặng lẽ quá, lặng lẽ như chính cách sống mà ông đã
chọn! Thế nên, tìm hiểu truyện ngắn của Trang Thế Hy, người viết cũng tự nhủ
mình phải chừng mực, hết sức tránh ồn ào, tránh đao to búa lớn, sợ sẽ phá hỏng
không khí văn c
hương của nhà văn xứ Dừa này.
Văn học miền Nam nằm trong dòng chảy chung của văn học cả nước. Nhưng
do điều kiện lịch sử đặc biệt của đất nước, một phần do điều kiện địa lý ngăn trở, và
cả những khác biệt về văn hoá, về cảm quan nghệ thuật của từng vùng miền … nên
chúng ta chưa có đư
ợc một cái nhìn thật đầy đủ, toàn diện về bộ phận văn học đặc
sắc này. Vì vậy, rất cần một sự bổ khuyết cho bức tranh toàn cảnh của văn học thế
kỷ XX như PGS. TS Trần Hữu Tá – một nhà nghiên cứu văn chương Nam Bộ - đã
từng thiết tha bày tỏ, trong đó cần một sự ghi nhận đầy đủ và công bằng cho những
tác giả có cuộc đời lao động nghệ thuật nghiêm túc với nhiều cống hiến đáng trọng.
Điều đó có nghĩa là tên tuổi của Trang Thế Hy cũng như một số ít những nhà văn
Nam Bộ khác rất cần phải được xem xét và đánh giá một cách trân trọng trong các
công trình văn học sử. Chính điều này, cùng với việc chưa có một công trình nào
khắc hoạ đầy đủ chân dung nhà văn, đã thôi thúc chúng tôi đến với đề tài Đặc điểm
truyện ngắn Trang Thế Hy. Hy vọng, với việc làm
này, chúng tôi có thể góp phần
bé nhỏ vào việc bổ khuyết cho bức tranh toàn cảnh của văn học miền Nam nói
riêng, văn học Việt Nam thế kỷ XX nói chung, đưa văn chương độc đáo của nhà
văn này đến gần hơn với mọi người.
2. Lịch sử vấn đề
Cuốn sách đầu tiê
chúng tôi cố gắng trình bày ở mức ngắn gọn nhất
để có thể đảm bảo một sự đầy đủ các nhận định, cũng từ đó mà thấy rõ hơn công
việc của mình phải làm.
Trên báo Văn nghệ số ra ngày 01 – 6 – 2002 có trích giới thiệu những ý kiến
của các thành viên tham dự buổi tọa đàm về tập truyện ngắn Nợ nước mắt của
Trang Thế Hy vào sáng 23-5-2002. Nhân dịp nà
y, vì không tham dự được, nhà văn
đã gửi đến ban biên tập báo Văn nghệ bức thư với những lời tỏ bày thành thực:
(…) Toi bắt đầu viết đã từ lâu, nhưng viết ít, viết chậm, xuất hiện ít
trên báo chí, tuyển tập chung và sách in riêng, do đó cũng ít được giới
phê bình chú ý đánh giá, cho nên cuộc toạ đàm này được tôi coi là lần
đầu tiên tác phẩm của tôi được thẩm định nghiêm túc theo tiêu chuẩn
học thuật…
Trong cuộc toạ đàm này, có một số tham luận dài ngắn khác nhau về tập
truyện đã được đưa ra. Đáng chú ý nhất là bài viết của nhà văn Lê Minh Khuê. Đây
là bài mà nhà văn Trang Thế Hy tỏ ra rất tâm đắc vì theo nhà văn, Lê Minh Khuê đã
“đọc” được ông, “đọc” đúng ông, dù chưa “đọc” hết ông. Với bài Phong cách
Trang Thế Hy, nhà văn Lê Minh Khuê đã đưa ra những nhận định khá tinh tế,
chứng tỏ một cảm
quan nhạy bén, một cách đọc khá kỹ lưỡng, nghiêm túc. Lê Minh
Khuê đã viết:
“Ông là tác giả Nam Bộ, văn chương Nam Bộ dường như một mình
ông một phong cách. Ông không bình dân, không nhiều sôi nổi. Ông
hiện lên trong các trang viết với sự tinh tường, thấu hiểu và điềm tĩnh
trước cuộc sống, trước cảnh sắc. (…) Ôngviết về tâm sự của những con
của Trang Thế Hy (giọng điệu và đề tài chiến tranh, con người và cảnh sắc Nam
Bộ) chứ chưa nói được bao quát về sáng tác của nhà văn.
Nhà văn Trần Huy Quang, trong mấy nhận xét khá ngắn gọn ở bài Tôi học
được nhiều ở Trang Thế Hy về nghề văn cũng tỏ ra đồng tình với nhận định của nhà
văn Nguyễn Khắc Trường. Trần Huy Quang viết: “Văn Trang Thế Hy kỹ càng, đẹp,
đầy tính triết lý, nên đọc chậm thì mới hiểu hết, mới hưởng hết được cái hay”. Có lẽ
trong khuôn khổ của một buổi toạ đàm với việc hạn c
hế về mặt thời gian, lại cùng
lúc có nhiều ý kiến đóng góp, nên những người tham gia đã không nói nhiều (để
tránh trùng lặp chăng?) và cũng không đi vào phân tích cụ thể các sáng tác của
Trang Thế Hy. Nhưng dù thế, những ý kiến được đưa ra trong buổi toạ đàm thật sự
có ích đối với chúng tôi khi thực hiện đề tài này.
Cũng đồng tình với các nhà văn vừa kể trên, nhà văn Trịnh Đình K
hôi trong
bài Truyện ngắn của Trang Thế Hy toát lên vẻ đẹp văn hoá đã viết: “Văn Trang Thế
Hy điềm đạm (…). Trang Thế Hy không cố ý triết lý. Tính triết lý toát lên từ nhân
vật, từ ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật”.
Nhưng cũng trong bài viết này, Trịnh Đình Khôi đã có một đánh giá khá cao
về Trang Thế Hy. Ông viết: “Trang Thế Hy là một nhà văn hoá viết văn. Trong ông
có văn hoá Á Đông kết hợp với n
hững ý tưởng phương Tây hiện đại”. Nhận định
này đã làm cho chính Trang Thế Hy, nhà văn khiêm nhu và rất đỗi bình dị của
chúng ta, cảm thấy ngại ngùng. Có thể nhiều người đọc thấy chất văn hoá tiềm tàng
trong văn của Trang Thế Hy, nhưng ông không phải là “nhà văn hoá viết văn”. Đây
là điều mà nhà văn luôn phải đính chính miệng với những ai đã biết đến bài viết
này. Ông l
giả kể, hoặc do nhân vật kể – Đó là những cách kể c
huyện có duyên,
nhiều khi hóm hỉnh, với những triết lý giản dị, có sức thuyết phục (…)
Truyện Trang Thế Hy giàu lòng nhân ái. Văn ông hiểu rõ bản sắc
của một vùng đất, từ ngôn ngữ địa phương đến cảnh sắc thiên nhiên, cây
cỏ, và con người ở đấy (…)”
Đó cũng là những nhận định xác đáng dù chưa bao quát được đầy đủ nội
dung và hì
nh thức các sáng tác của Trang Thế Hy. Nhà phê bình đã tỏ ra hiểu và
cảm truyện của Trang Thế Hy ở một mức độ cao. Tuy vậy, Hồng Diệu lại có chỗ
chưa đồng cảm được với nhà văn khi viết: “Hình như nhà văn đã tham sử dụng hơi
nhiều chủ đề phụ, những đưa đẩy, luyến láy, do đó làm loãng cái chính?” Thực ra,
đây là một điểm kh
á đặc biệt trong phong cách của nhà văn mà người đọc nếu
không tinh sẽ không dễ nhận ra. Đó là do kiểu tự sự của ông: tự sự phi cốt truyện,
chú ý đến vấn đề hơn là chú trọng xây dựng cốt truyện. Hong Diệu đã quá chú tâm
bám vào cốt truyện để tìm chủ đề nên không nhận ra điểm này.
Nhà văn Trung Trung Đỉnh trong Mỗi truyện ngắn là một đoạn đời nặng
nhọc của nhà văn lại chú ý đến nhân vật xưng “tôi” – một điều dễ thấy trong truyện
của Trang Thế Hy. Ông viết: “Nhân vật của ông đều l
à chỗ bạn bè tình nghĩa. Họ
là bạn đời của ông trước khi ông nhập vào trang viết, cho nên tôi thấy ông dùng
ngôi thứ nhất rất đắc địa”… Trung Trung Đỉnh cũng nhận thấy Trang Thế Hy “đau
đáu với nghề, căm ghét thứ văn chương nghệ thuật bịa tạc khoa trương ồn ã. Các
nhân vật là nghệ sĩ của ông đều bộc lộ quan điểm sáng tác của ông rất rõ…”. Tác
giả có m
tiếp tục cái truyền thống của các bậc tao nhân mặc khách xưa, cho nên,
nhìn kỹ mà xem, ở Trang Thế Hy vừa có cái gì đó rất hiện thực, hiện đại,
vừa có cái gì đó rất xưa, thậm chí có phần cổ kính nữa)
…
(…) Trang Thế Hy là người chăm chút đi tìm những cái đẹp nhỏ
nhoi, lẩn khuất, bị bỏ quên, hoặc ở trong những góc hẻo của cuộc đời,
hoặc bị vùi trong bùn đất nghèo khốn…
(…) Và bây giờ, thử trở lại với so sánh ban đầu: Trang Thế Hy và
Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân đi tìm cái đẹp ở chỗ cầu kỳ, (…), Trang Thế
Hy, cũng tinh vi không kém, nhưng anh đi tìm cái đẹp trong sự giản dị
của cuộc đời thường
, (…), ở những con người “thường”, (…), và ở tận
đáy nữa của cuộc đời ấy… Ở hai hướng khác nhau, nhưng đều vì cái
đẹp, và như vậy, họ khiến cho thế giới phong phú ra rất nhiều.
Về ngôn ngữ của Trang Thế Hy, Nguyên Ngọc cũng đưa ra một nhận xét khá
thú vị: “Ta đã biết Nguyễn T
uân độc đáo trong ngôn ngữ Việt của ông như thế nào.
Ông “chơi” rất tinh, đến cầu kỳ nhiều khi, trên từng con chữ. Trang Thế Hy kỹ
chẳng kém, tài hoa chẳng kém, cũng chơi trên từng con chữ, nhưng ông rất Nam
Bộ, rất “miền Tây””…
Đây quả là những nhận xét tinh tế. Văn chương Trang Thế Hy không phải
chỉ có bấy nhiêu, nhưng đó là nét độc đáo, nét nổi bật nhất. Và nhà văn N
guyên
Ngọc đã bắt được hồn vía của nó. Ông không phân tích nhiều, chỉ lẩy ra một vài
dẫn chứng nhưng sức thuyết phục rất cao.
Tìm trên trang web www.trangthehy.googlepages.com
của nhà văn Trang
Thế Hy (trang web này do nhà văn Lý Lan thiết kế và thực hiện), cũng như trang
www.vietbao.vn
, www.angiang.gov.vn, chúng tôi được tham khảo một số bài viết
. (…) Khác với Hồ Biểu
Chánh, Phi Vân…, cảnh trí và con người Nam Bộ trong tác phẩm Trang
Thế Hy đang bị quay cuồng trong dông bão, ngày ngày rỉ máu do thế lực
ngoại xâm…
(…) Cách viết kín đáo xa xôi, mượn xưa nói nay, mượn ngoài nói
trong, thậm chí mượn chuyện hoang đường hư huyễn để gửi gắm những
ý tưởng cháy bỏng của mình, giai đoạn sáng tác này của Trang Thế Hy
(…) đã sử dụng rất nhuyễn, và đã tác động sâu sắc đến tư tưởng người
đọc thành thị miền Nam.
Thế nhưng khi có điều kiện, ông cũng không ngần ngại đề cập đến
mặt trái của xã hội Sài Gòn đang trượt dài trên dốc của lối sống vật chất
chủ nghĩa.
Nhà nghiên cứu đã phân tích thật gọn về nhân vật Hường,
người con gái tội
nghiệp trong truyện Một thiếu nữ không đáng kể cũng như đề cập đến các truyện
Nắng đẹp miền quê ngoại, Ao lụa giồng… để làm sáng rõ những nhận định của
mình. Tác giả cũng đã so sánh Trang Thế Hy với những cây bút gạo cội như Hồ
Biểu Chánh, Phi Vân để thấy những khác biệt trong văn chương của nhà văn quê
Hữu Định. Dường như tác giả bài viết đã không hề ngẫu nhiê
n khi đem so sánh các
nhà văn này với nhau!
Về sáng tác của Trang Thế Hy giai đoạn sau 1975, nhà nghiên cứu nhận
thấy:
“Sau năm 1975 là một giai đoạn sáng tác mới, rất có chất lượng
của Trang Thế Hy. Nhu cầu của cách mạng không còn quá thúc bách,
ông có điều kiện viết kỹ hơn. (…) Chắc chắn không phải vì “lão lai tài
đáo, thông minh, tạo nên cái duyên riêng, sức hấp dẫn riêng. Sức hấp
dẫn ấy không mãnh liệt nhưng thấm sâu, bền chắc.
Còn một số vấn đề nữa trong sáng tác của Trang Thế Hy mà chúng tôi chưa
thấy tác giả bài viết đưa ra. Đó cũng là phần đất trống mà chúng tôi hy vọng có thể
khai phá. Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, như tác giả đã trình bày từ đầu, là để
mừng sinh nhật thứ tám mươi của nhà văn, bấy nhiêu đó là quá nhiều. Đây
là một
bài viết có nhiều gợi ý quan trọng giúp cho chúng tôi tìm ra hướng đi cơ bản trong
việc nghiên cứu đề tài này.
Một bài viết khác cũng được nhiều trang web đăng tải
(
www.baodientusonla.com.vn, www.cinet.gov.vn, …), đó là bài viết về tập Truyện
ngắn Trang Thế Hy do nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn ấn hành năm 2006: Đọc
“Truyện ngắn Trang Thế Hy” để thấy quý trọng cuộc sống. Chúng tôi đã cố gắng
tìm nhưng không thấy tên tác giả đi kèm bài viết. Đây là một điều đáng tiếc. Tác giả
bài viết đã đưa ra những nhận xét sâu sắc về lời thoại, về hệ thống nhân vật và về
thiên nhiên trong truyện của T
rang Thế Hy kèm theo một số dẫn chứng khá tiêu
biểu. Tác giả đã viết về Trang Thế Hy với một lòng ngưỡng mộ không hề che giấu:
… “với những độc giả yêu văn của cây bút vừa qua tuổi bát thập, từng trang viết
của ông là sự hòa hợp kỳ lạ giữa kiến thức uyên bác về văn hóa – ngôn ngữ –
phong tục – vô số loài cây ngọn cỏ đồng bằng sông Cửu Long”.
Tháng 12 – 2007 vừa qua, trong dịp được diện kiến nhà văn tại tư gia của
ông, chúng tôi được ông cung cấp một cuốn tài liệu do nhà thơ Cao Xuân Sơn tuyển
sâu của bao tấn bi kịch mà con người trong đời từng trải qua; là sự khám phá về mặt
tư tưởng bộc lộ qua cách nhìn, cách nghĩ của nhà văn; là việc giải quyết mâu thuẫn
giữa tính chân thực của nghệ thuật và tính hiện thực của đời sống trong giai đoạn
chiến tranh vừa kết thúc. Rút ra được bốn bài học đó là nhà nghiên cứu đã thấu hiểu
tâm tư cũng như những tiêu chí “làm nghề” nghiêm túc của nhà văn.
Với nhà văn Hoàng Đình Quang, trong bài “Trang Thế Hy – thầy tôi”, anh
đã có nhận xét tỏ ra rất ấn tượng về câu văn của Trang Thế Hy: “Đọc truyện ngắn
của Trang Thế Hy thấy câu văn dài mướt như cả truyện chỉ có một câu văn mà thôi.
Cái lạ của câu văn ông là dài mà không khó hiểu, những mệnh đề rất rạch ròi, đọc
hết câu, ngẩn ra, đọc lại thấy hay hơn”. Đây là một nhận xét đúng với tất cả những
truyện ngắn của Trang Thế Hy. Ai đã đọc văn của nhà văn lão thành nà
y cũng có
thể thấy điều đặc biệt ấy.
Nhà nghiên cứu Hoài Anh với bài Người suốt đời lo trả “nợ nước mắt” đã
đưa ra nhiều nhận định có giá trị về truyện ngắn của Trang Thế Hy. Bằng việc phân
tích khá hay một số truyện ngắn tiêu biểu, Hoài A
nh đã thấy được Trang Thế Hy
thường đi vào cảnh đời u uẩn của những con người kém may mắn trong xã hội
nhưng luôn giữ được lòng tự trọng. Truyện của Trang Thế Hy thường kết hợp nhiều
bình diện trong cùng một truyện nên tạo ra sự đa nghĩa, đa thanh, giàu sắc thái.
Hoài Anh cũng đã đề cập đến vấn đề khá nổi cộm trong truyện của Trang Thế Hy,
đó là vấn đề phẩm chất của người nghệ sĩ trong đời sống.
Trong bài Trang Thế Hy qua tròng kính viễn của tôi, bằng lối viết giàu hình
tượng, nhà thơ La Quốc Tiến đã phác ra được đôi nét đặc điểm truyện ngắn của
Trang Thế Hy. Đầu tiên là sự thành công của nhà văn trong việc khắc họa nên hình
tượng nhân vật nghệ sĩ, “những kẻ có tài, có tâm nhưng lại thiếu c
Tóm lại, những bài viết của các nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu vừa kể
trên đều đã đề cập đến nhiều khía cạnh, nhiều nét đặc sắc khác nhau trong sáng tác
của Trang Thế Hy. Tất cả những nhận định quý báu đó sẽ là cơ sở cần thiết để
chúng tôi tiếp cận và tìm hiểu kỹ lưỡng về những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn
Trang Thế Hy.
3. Đối tượn
g và phạm vi nghiên cứu
Đề tài khảo sát các truyện ngắn của nhà văn Trang Thế Hy (thuộc cả hai giai
đoạn trước và sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng) để tìm ra những nét độc
đáo về nội dung cũng như nghệ thuật trong các sáng tác của nhà văn. Do nhiều
truyện đã thất lạc qua thời gian, chúng tôi chỉ có thể tìm hiểu 33 truyện ngắn còn lại
trong tuyển tập mới nhất là Truyện ngắn Trang Thế Hy ( Nxb Văn hóa Sài Gòn,
2006) và phần tuyển chọn của PGS Trần Hữu Tá trong chuyên luận Nhìn lại một
chặng đường Văn học (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2000). Tuy không đầy đủ, nhưng
chúng tôi cảm thấy an tâm khi được chính nhà văn khẳng định rằng những truyện
ngắn còn lưu giữ được cũng là những truyện tiêu biểu trong sự nghiệp của ông.
Quan trọng hơn, nội dung tư tưởng cũng như bút phá
p nghệ thuật của các truyện
này đã biểu hiện đầy đủ những nét chính trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà
văn. Điều này có nghĩa là chúng ta hoàn toàn có căn cứ để khẳng định các đặc điểm
truyện ngắn Trang Thế Hy thông qua những truyện ngắn nói trên mà không sợ
phiến diện.
Để đi vào tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn của một tác g
iả, chúng tôi cũng đi
theo con đường mà các nhà nghiên cứu khác từng đi. Đó là lần lượt xem xét các
bình diện như quan niệm nghệ thuật, nội dung tự sự, phương thức tự sự, ngôn ngữ
- Phương pháp hệ thống: là phương pháp hữu hiệu trong việc xác định những
đặc điểm nghệ thuật trong tác phẩm của Trang Thế Hy. Đặc điểm nghệ thuật của
một tác giả thường trải dài trong suốt sự nghiệp của tác giả đó chứ ít khi thể hiện
đầy đủ trong một hay một vài tác phẩm (trừ một vài trường hợp đặc biệt như Truyện
Kiều (Nguyễn D
u) hay Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu)). Truyện ngắn của
Trang Thế Hy cũng không là ngoại lệ. Cần có một cái nhìn xuyên suốt để chỉ ra
được đầy đủ những đặc điểm đáng chú ý trong sự nghiệp của ông.
- Phương pháp phân tích: Tìm hiểu đặc điểm tru
yện ngắn Trang Thế Hy,
việc trước tiên phải làm là đi vào phân tích chính các sáng tác của nhà văn này. Trên cơ
sở đó chúng ta sẽ có cái nhìn đầy đủ, toàn diện về các đặc điểm đáng chú ý.
- Phương pháp thống kê: Trong quá trình tìm hiểu tryện ngắn của Trang Thế
Hy, có những đặc điểm được khái quát dựa trên
sự phân tích, tổng hợp, và đương
nhiên, cần một sự thống kê để của chúng ta có cơ sở nhận định chắc chắn, giàu sức
thuyết phục.
- Phương pháp so sánh - lịch sử: Song song với việc phân tích, chúng tôi cố
gắng so sánh chính những sáng tác của Trang Thế Hy trước và sau ngày miền Nam
hoàn toàn giải phóng để thấy sự biến đổi về bút pháp cũng như nội dung thể hiện
của ông. Một số nhà văn Nam
Bộ cùng lý tưởng với ông và một số nhà văn ở miền
Bắc thế hệ trước cũng có những điểm gặp gỡ ông trong sáng tác. Vì thế, chúng tôi
cũng so sánh sáng tác của họ với các sáng tác của ông để thấy được nét riêng của
nhà văn trong việc thể hiện tài năng cũng như quan niệm nhân sinh.
6. Cấu trúc của luận văn
tin tuyên truyền tỉnh Bến Tre. Năm 1951, Võ Trọng Cảnh được rút về Sở thông tin
Nam Bộ; sau đó chuyển về Ty thông tin Cần Thơ cho đến ngày ký kết hiệp định
Genè
ve tháng 7-1954.
Vào khoảng 1949 – 1950, ở Bến Tre có Phân hội Văn nghệ kháng chiến tỉnh.
Võ Trọng Cảnh lúc này cũng có làm dăm bài thơ nhưng hoạt động văn nghệ thực sự
thì chưa có gì. Tháng 7.1954 ông có làm một bài thơ dài mang tên Thanh gươm
tháng Tám in trên báo Nhân dân của tỉnh. Bài thơ nói lên tâm sự của người đi
kháng chiến nhớ về một người bạn cũ đã rời bỏ đội ngũ, sống bơ vơ, không mục
đích. Chủ đích của ông khi viết bài thơ đơn giản chỉ là phục vụ cho công tác binh
vận. D
ù vậy, đây là bài thơ được Trang Thế Hy ghi nhớ bởi nó là dấu mốc đầu tiên
trong ý thức sử dụng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu.
Sau 1954, trong khi nhiều người chọn nguyện vọng tập kết ra Bắc thì Võ
Trọng Cảnh xi
n được ở lại bám quê, mai phục đấu tranh chờ ngày thống nhất đất
nước. Cho đến 1956, ông vẫn làm công tác tuyên huấn tại Thị uỷ Bến Tre, phụ trách
việc ra một tờ thông tin (cũng chỉ là viết tay trên bản kẽm và in những tờ tin nhỏ).
Từ cuối 1956, tình hình bắt đầu cam go, cán bộ cách mạng bị địch săn đuổi
rất gắt gao. Lúc bấy giờ, tỉnh có chủ trương đưa những cán bộ bị truy đuổi ráo riết
lánh đi, rồi hoạt động công khai, tạo thế hợp pháp mới. Ông được lệnh đi “điều
lắng” và được chọn S
ài Gòn là địa bàn hoạt động mới. Điều này cũng có ít nhiều
thuận lợi cho ông bởi hơn mười năm trước đó ông đã từng lăn lộn kiếm sống ở
mảnh đất phồn hoa phức tạp này. Thời gian đầu, ông phải tự xoay sở kiếm sống.
Đầu tiên là dạy kèm
Cũng như số phận không may của những trí thức yêu nước, những cán bộ
cách mạng chân chính khác cùng thời, từ năm 1960 đến 1962, ông bị chính quyền
ngụy bắt giam. Trong tù, con người ham học ấy lại tranh thủ học thêm ít chữ Hán
của các giáo sư bị giam chung chứ nhất quyết không chịu để thời gian trôi qua vô
ích.
Năm 1963, ông vào khu giải phóng và ở trong biên chế của Ban Tuyê
n huấn
đặc khu Sài Gòn – Gia Định, công tác trong Tiểu ban văn nghệ thuộc Trung ương
cục miền Nam. Trong thời gian ấy, ông đã gặp gỡ và hoạt động cùng với các văn
nghệ sĩ như Giang Nam, Lý Văn Sâm, Trần Hiếu Minh. Và ông tiếp tục viết văn.
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông trở về Sài Gòn và sống tại
căn hộ tập thể 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (thuộc quận 3 Thành phố Hồ Ch
í Mnh
ngày nay). Có nhiều thời gian cũng như vốn sống thực tế, ông viết đều và đã xuất
bản các tập truyện: Mưa ấm, Người yêu và mùa thu, Vết thương thứ mười ba . Tập
truyện ngắn Tiếng khóc và tiếng hát của ông do Hội văn nghệ Bến Tre xuất bản đã
được giải thưởng Hội nhà văn năm 1998.
Viết đều, viết đư
ợc, với một vốn kiến thức uyên thâm và khát khao học hỏi,
thế nhưng sau đó ông đã gần như không viết nữa. Có lẽ ông đã bị trầm cảm. Cũng
có thể ông muốn dành nhiều thời gian để chiêm nghiệm lẽ đời. Năm 1992 đến nay,
ông trở về sống lặng lẽ tại quê nhà, theo cách nói của ông là để chuẩn bị “đi chỗ
khác chơi”. Truyện ngắn cuối cùng mà Trang Thế Hy
viết chính là truyện Hai
người nhìn mưa dầm, một truyện ông rất yêu mến bởi ông viết về một người bạn
mà ông mến yêu, về những kỷ niệm hằn sâu trong đời ông.
Thời gian sau này, Trang Thế Hy thỉnh thoảng làm thơ. Ông viết về những
điều ông chiêm nghiệm – những điều giản dị mà rất đỗi nhân văn. Ngoài ra ông
cũng là một dịch giả khá thành công với những bài thơ ha
y của thi hào
nh Trang Thế Hy từ năm 1959 đến tận bây giờ).
Giai đoạn thứ hai là từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng(1975) cho
đến những năm 90 của thế kỷ trước. Tình thế đã thay đổi. Từ trạng thái bị nô lệ, mất
tự do, đất nước đã chuyển sang một thời kỳ mới: thời kỳ của hòa bình, độc lập, tự
do đích thực. Nhà văn không còn phải đối mặt với những ngăn t
rở, cấm đoán như
giai đoạn trước nữa, nghĩa là ngòi bút được tự do tung hoành. Nhưng cũng ngay sau
chiến tranh, một mảng hiện thực mới đã phơi lộ, để lại trong lòng nhà văn vốn đa
cảm những trăn trở khôn nguôi. Và những trăn trở về thời cuộc ấy đã được ông kín đáo
thể hiện trong những sáng tác ở giai đoạn sau này.
Thực ra khó mà phân chia rạch ròi giai đoạn sáng tác của nhà văn. Bởi phần
nhiều những đặc trưng truyện ngắn của ông đều có sự nhất quán từ đầu đến cuối
trong các sáng tác như cách viết ẩn dụ, dựng truyện phi cốt truyện, giọng trữ tình…
(chúng ta sẽ nói rõ ở phần sa
u), đặc biệt, cho dù viết ở giai đoạn nào, vấn đề cần
nhấn mạnh là gì đi chăng nữa thì Trang Thế Hy vẫn luôn dành những dòng tâm
huyết cho số đông những con người bất hạnh luôn thầm lặng của ông. Có khác
chăng là càng ngày, với nhiều trải nghiệm, tay bút này càng vững hơn, vấn đề đưa
ra nhiều hơn, sâu hơn, nhất là những vấn đề mới của thời cuộc.
1.1.
2.2. Những tập truyện ký đã xuất bản:
Kể từ khi bắt đầu sáng tác đến nay, nhà văn của chúng ta đã có bảy tập
truyện ký được xuất bản, bắt đầu với tập Nắng đẹp miền quê ngoại (1964) và gần
đây nhất là Truyện ngắn Trang Thế Hy (2006). Các tập còn lại lần lượt là:Mưa ấm
(1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ mười ba (1989), Tiếng khóc
và tiếng hát (1993), Nợ nước mắt và những t
Nhà văn đã từng tâm sự:
Có nhiều người hỏi tôi và tôi cũng tự hỏi: C
ái gì làm nên ngòi bút
Trang Thế Hy? Có lẽ là điều này: ngòi bút của tôi dùng để bênh vực
những bất hạnh trong cuộc đời này. (…) Tôi nghĩ trong xã hội nào cũng
có người tốt người xấu, có người chân thật, kẻ giả dối, có cái ác đan cài
với cái thiện…, nhưng người bất hạnh thì nhiều lắm. Họ kém may mắn
trong đời sống xã hội đang đổi thay, họ bị vùi dập trong cuộc đời nghiệt
ngã nhưng vẫn giữ được chút l
òng tự trọng của con người. Tôi nghĩ
những con người như thế rất xứng đáng đưa lên những trang sách. Và
công việc của nhà văn là phải bênh vực người thất thế. [2, tr.85].
Quan niệm này được nhà văn thủy chung gìn giữ cả trong cuộc sống đời
thường cũng như trong các sáng tác của ông. Trong các sáng tác, quan niệm này
được thể hiện ở sự tự ý thức của một nhà văn châ
n chính.Đó trước hết là sự tự ý
thức về trách nhiệm của người cầm bút, thứ đến là tự ý thức về nhân cách của người
nghệ sĩ.