LỜI MỞ ĐẦU
Là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc, Tòa án Công lý quốc tế
đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì hòa bình, an ninh và phát triển
luật quốc tế. Vai trò này ngày càng được khẳng định vững chắc hơn nữa thông qua
những thành tựu và đóng góp mà Tòa đã làm được trong quá trình hoạt động của
mình. Lòng tin của thế giới đặt vào Liên hợp quốc cũng như vào Tòa án Công lý
quốc tế đã ngày càng được nâng cao so với thời gian trước đây. Tuy nhiên không
thể không đề cập đến những mặt còn hạn chế tồn tại trong hoạt động của Tòa.
Năm 1977 Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc là một sự kiện lịch sử có tính
bước ngoặt đối với nước ta trong quan hệ quốc tế. Việc tạo lập những mối quan hệ
tốt đẹp với các cơ quan của tổ chức này là điều hết sức quan trọng. Trên thực tế
Việt Nam luôn ủng hộ những quyết định mang tính công lý của tổ chức.
Nhận thấy vấn đề “Đánh giá hiệu quả hoạt động của Tòa án Công lý quốc
tế” là một đề tài hết sức thú vị và có giá trị thực tiễn cao. Thông qua việc tìm hiểu
đề tài đã góp phần củng cố và mở rộng hơn vốn kiến thức về luật quốc tế nói chung
và thiết chế tài phán quốc tế Tòa án Công lý Liên hợp quốc nói riêng.
Bài làm của nhóm I-C1 chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu
sót, kính mong nhận được sự quan tâm đóng góp của các thầy cô giáo! Chúng em
xin chân thành cảm ơn!
1
I. MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC
TẾ.
1. Lịch sử hình thành:
Năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, tình hình thế giới thay đổi
trong chiến tranh đòi hỏi phải có một tổ chức liên quốc gia mới nhằm duy trì hòa
bình và an ninh quốc tế. Trước tình hình đó Hội Quốc Liên (tiền thân của tổ chức
Liên Hợp quốc ngày nay) đã trở nên lỗi thời và vấn đề đặt ra là có cần duy trì Pháp
viện thường trực quốc tế (tiền thân của Tòa án Công lý quốc tế ngày nay) hay
không? Xung quanh vấn đề này đã có nhiều quan điểm đặt ra và nó chỉ được giải
quyết với các đề nghị của bốn cường quốc: Anh, Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc tại
Dumbarton Oaks (ngày 9 – 10 – 1944) liên quan tới cơ cấu tổ chức của tổ chức
đổi 1/3 thành phần Tòa với mục đích đổi mới sức mạnh.
Theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, thành viên của Tòa bên
cạnh việc đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 2 Quy chế Tòa án Công lý quốc tế
thì còn được lựa chọn căn cứ vào các tiêu chuẩn mang tính chính trị - pháp lý.
Theo tinh thần của Điều 9 thành phần của Tòa phải phản ánh được các hình thái
văn minh chủ yếu và các hệ thống pháp luật cơ bản của thế giới. Điều này thể hiện
mong muốn các quyết định của Tòa có hiệu lực cao và thu hút được sự tin cậy của
các quốc gia trên thế giới trong việc sử dụng Tòa như một phương tiện hữu hiệu để
giải quyết các tranh chấp quốc tế. Điều này mang nặng tính chính trị và được quyết
định bởi nguyên tắc phân bổ công bằng về mặt địa lý. Theo đó thành phần của Tòa
sẽ có đại diện của các nhóm: Tây Âu và các quốc gia khác, các nước Đông Âu, các
nước Mỹ - La Tinh, các nước Châu Á, các nước Châu Phi.
Khi trở thành thẩm phán của Tòa, các thẩm phán không đại diện cho chính
phủ nào mà là các thẩm phán độc lập. Để đảm bảo sự độc lập này, các thẩm phán
được hưởng các đặc quyền nhất định về vật chất cũng như các quyền ưu đãi và
miễn trừ ngoại giao (Điều 19 Quy chế Tòa án Công lý quốc tế).
b) Thẩm quyền của Tòa án Công lý quốc tế
Thẩm quyền của Tòa được xác định bởi Quy chế và Nội quy của Tòa, trong
đó Quy chế của Tòa kèm theo Hiến chương và là một bộ phận hợp thành của Hiến
3
chương. Còn Nội quy quy định về các nguyên tắc của Tòa khi thực hiện chức năng
của mình. Nội quy của Tòa thông qua ngày 6 – 5 – 1946. Hiện nay quy chế này đã
được sửa đổi 2 lần vào năm 1972 và 1978 với mục đích cải tổ thủ tục tranh tụng
trước Tòa đơn giản và nhanh chóng hơn.
Trên cơ sở đó Tòa án Công lý quốc tế có 2 thẩm quyền chính sau: Thứ nhất
là giải quyết, phù hợp với quy chế của mình các tranh chấp giữa các quốc gia và
đưa ra các kết luận tư vấn về các vấn đề pháp lý mà Đại hội đồng, Hội đồng bảo an
Liên hợp quốc cũng như các cơ quan khác của Liên hợp quốc, các tổ chức chuyên
môn được phép của Đại hội đồng yêu cầu. Ngoài ra, Tòa còn có thẩm quyền phụ:
Chỉ định các Chánh án của Tòa trọng tài, Ủy ban Trọng tài hoặc hòa giải và các Ủy
trường hợp và đã có 60 nước thể hiện ý chí của mình chấp nhận trước thẩm quyền
bắt buộc của Tòa trong các hiệp ước song phương.
+ Tuyên bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa: Với việc vai
trò của Tòa ngày càng tăng thì số lượng các quốc gia chấp nhận cơ chế của Tòa sẽ
ngày càng tăng. Tại khoản 2 Điều 36 quy định như sau: “ Các nước thành viên của
Quy chế này bất kỳ lúc nào cũng có thể tuyên bố rằng họ thừa nhận bắt buộc, toàn
hiệu lực và không cần một thỏa thuận đặc biệt nào, đối với một nước khác bất kỳ
cũng chấp nhận một nghĩa vụ như vậy, thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với tất cả
các tranh chấp pháp lý…”
Cơ chế này cho phép quốc gia có thể viện dẫn đến sự giúp đỡ của Tòa để
phân giải một tranh chấp đối với một quốc gia khác có cùng lập trường về thẩm
quyền của Tòa.
*Thẩm quyền đưa ra các kết luận tư vấn :
Tại Chương IV Quy chế của Tòa đã quy định cụ thể hơn về thẩm quyền này
của Tòa. Cơ chế này chỉ được dành cho các cơ quan chính của Liên hợp quốc và
các tổ chức chuyên môn được Đại hội đồng cho phép. Các quốc gia không có
quyền yêu cầu này về các tranh chấp của mình. Theo quy định tại Điều 96 của
Hiến chương thì Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an có quyền yêu cầu tư vấn bất kỳ
một vấn đề pháp lý nào, trong khi đó các tổ chức chuyên môn chỉ được yêu cầu tư
vấn những vấn đề trong phạm vi hoạt động của mình. Tuy nhiên, tại Điều 65 của
Quy chế lại đưa ra một phạm vi rộng hơn; “Tòa án có thể đưa ra những kết luận tư
5
vấn về một vấn đề pháp lý bất kỳ nào theo yêu cầu của một cơ quan hoặc tổ chức
bất kỳ được chính Hiến chương Liên hợp quốc, hoặc phù hợp với các điều khoản
của Hiến chương Liên hợp quốc, cho phép yêu cầu một kết luận tư vấn”.
II. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ
Thực tế trong hơn 50 năm tồn tại của mình, tuy số lượng vụ việc được đưa ra
giải quyết tại Tòa không lớn nhưng đối với kết quả giải quyết của Tòa, ngoài việc
xem xét các tranh chấp quốc tế phát sinh, Tòa đã đóng góp nhiều ý kiến tư vấn về
pháp lý cho Liên hợp quốc cũng như góp phần phát triển Luật quốc tế và khoa học