Lời dẫn
Những năm cuối thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng
hoảng toàn diện và nghiêm trọng dẫn đến sự sụp đổ của bộ phận lớn làm thay
đổi cơ bản cục diện chính trị của thế giới. Bên cạnh đó, chủ nghĩa t bản tận
dụng đợc những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại
nên đã thích nghi và vẫn tiếp tục phát triển.
Trật tự thế giới hai cực tan dã, quan hệ quốc tế chuyển dần từ đối đầu
sang đối thoại, từ đó làm nảy sinh xu hớng đa dạng hoá, đa phơng hoá trong
tiến trình hội nhập toàn cầu. Hoà bình, ổn định hợp tác để phát triển ngày
càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các quốc gia. Toàn cầu hoá về kinh tế
chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia,kinh tê đợc u tiên phát
triển và trở thành chủ đề chính trong quan hệ quốc tế hiện nay.
Trớc bối cảnh quốc tế và xu thế chung của thế giới đang diễn ra nh vậy,
các quốc gia đều phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình để thích
ứng với tình hình mới. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Chính sách đối ngoại là một bộ phận hợp thành đờng lối đổi mới của
Việt Nam trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và T tởng Hồ Chí Minh.
Đợc khởi xớng từ năm 1986 và sau hơn 10 năm thực hiện, chính sách đối
ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nớc ta đã góp phần không nhỏ đến sự phát
triển của đất nớc, tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nhân tố quốc tế, kết
hợp đợc sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đa Việt Nam thoát khỏi
khủng hoảng và đi lên.
Chính sách đối ngoại đổi mới là một trong những mốc đánh dấu thành
tựu to lớn của Việt Nam trong thế kỷ XX, tạo tiền đề cho Việt Nam vững bớc
đi vào thế kỷ XXI. Với lý do đó cùng với ham muốn đợc tìm hiểu chính sách
đối ngoại đổi mới và quan hệ quốc tế của Việt Nam giai đoạn này, em mạnh
dạn chọn đề tài Quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới làm
chuyên đề thực tập.
Đây là đề tài rất rộng lớn, cho nên bài viết này không tránh khỏi những
thiếu sót hạn chế. Mong đợc sự thông cảm, giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các
thầy cô và các bạn.
về việc giải quyết vấn đề Apganictan, Campuchia, những thoả thuận nhợng bộ
đó không có lợi cho các cách mạng thế giới. Liên Xô còn thực hiện chính sách
không can thiệp vào vấn đề thống nhất nớc Đức và các nớc Đông Âu, chính
sách không thực hiện những cam kết với các đồng minh cũ của Liên Xô
(ngừng viện trợ cho Cuba, Việt Nam, Mông Cổ)
1
. Những ngợng bộ đó đợc các
phơng Tây, nhất là Mỹ ngày các khai thác triệt để, để làm giảm thế cân bằng
về sức mạnh vũ khí hạt nhân với Mỹ và làm suy giảm sức mạnh và vị trí của
Liên Xô có ở khắp các khu vực trên thế giới.
1
3
Còn ở khu vực Châu á - Thái Bình Dơng kinh tế phát triển rất năng
động, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây mất ổn định nh xung
đột ở Triều Tiên, tranh chấp quần đảo Cu-Rin giữa Nhật Bản và Liên Xô, tranh
chấp chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải ở biển Đông và căng thẳng ở eo biển Đài
Loan
Trong khu vực Đông Nam á cũng chứa đựng nhiều nguy cơ xung đột
bất ổn, trong đó vấn đề Campuchia. Những phản ứng từ của các ASEAN,
Trung Quốc và các nớc phơng Tây khác cho rằng Việt Nam xâm lợc
Campuchia, họ tiến hành các hoạt động làm cho tình hình khu vực thêm căng
thẳng. Trung Quốc cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và đa quân vào
Việt Nam gây nên cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc nớc ta. Một số nớc
ASEAN cô lập nớc ta ở các diễn đàn, tổ chức quốc tế Về phía Việt Nam,
chúng ta trớc sau vẫn khẳng định việc đa quân vào Campuchia là giúp đỡ nhân
dân Campuchia đánh đuổi bọn diệt chủng PonPốt đem lại hoà bình cho nhân
Campuchia.
Cùng với những biến đổi trong tình hình an ninh, chính trị, cộng đồng
thế giới cũng đang đứng trớc nhiều vấn đề có tính toàn cầu cấp bách mà
chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện lịch sử mới, Đảng và Nhà nớc ta khởi xởng
công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới chính sách đối ngoại trở thành
một nội dung quan trọng đối với sự ngiệp phát triển của Việt Nam.
1.2. Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam sau 1975 đến 1986.
Chiến thắng của Việt Nam sau 30/4/1975 là niềm vui thống nhất cả
giang sơn về một mối. Nhng hậu quả của cuộc chiến tranh kéo dài để lại
những khó khăn không nhỏ cho nhân dân Việt Nam: 1,1 triệu liệt sĩ, 60 vạn
thơng binh, 30 vạn ngời mất tích, gần 2 triệu ngời dân bị thiệt mạng, hơn 2
triệu ngời dân bị tàn tật và nhiễm chất độc hoá học
Hai cuộc chiến tranh biến giới phía Bắc (1979) và biên giới phía Tây
Nam (1978) lấy đi thêm nhiều tài lực, vật lực của đất nớc khiến cho nền kinh
tế của Việt Nam đã khó khăn lại càng thêm khó khăn. Mà hậu quả của nó là
nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, lạm phát tăng phi mã
(774,7%) năm 1986, nền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp đình đốn.
Bên cạnh đó, do những khuyết điểm chủ quan trên các lĩnh vực nhất là
việc chỉ đạo và thực hiện xây dựng kinh tế xã hội. Mô hình kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp bộc lộ nhiềukhuyết điểm yếu kém. Nền kinh tế đất nớc rơi
vào tình trạng trì trệ, lạc hậu, khủng hoảng: Công nghiệp yếu kém, manh mún
thiếu rất nhiều ngành công nghiệp tiêu dùng Nền nông nghiệp không đủ chi
dùng trong nớc, phải nhập khẩu lơng thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thờng
xuyên khiến cho cán cân xuất nhập khẩu luôn thâm hụt mất cân đối, thu
không đủ chi, dẫn đến phải đi vay từ nớc ngoài. Tính chung trong năm 5 năm
1981 - 1985, nguồn vay từ nớc ngoài chiếm 22,4% thu ngân sách quốc gia. Số
nợ nhiều nh vậy nhng bội chi ngân sách vẫn lớn và tăng dần: Năm 1980 là
1,8%, năm 1985 là 36,6%. Do bội chi nhiều nh vậy nên Chính phủ buộc phải
phát hành thêm tiền mặt để bù đắp. Cùng với việc không cân đối đợc từ thu và
chi, do nguồn thu không có vì không có sản phẩm công nghiệp xuất khẩu.
Cộng vào đó là sai lầm về chính sách cải cách giá, lơng, tiền đã làm cho nền
5
kinh tế rơi tự do không kiểm soát đợc dẫn đến xuất hiện siêu lạm phát ở mức
2: Nguyễn Sinh 12 năm đổi mới (1986-1997). Tạp chí Cộng sản số 6 tháng 3 năm 1998, trang 3
3
3: Trích lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - NXB Giáo dục, 1997 trang1
4
4: Trích lịch sử Đảng CSVN - NXB Giáo dục - 1997 trang 167
6
Chơng 2
Quan hệ quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay
2.1. Nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại đổi mới.
Mốc quan trọng nhất quyết định cho chính sách đối ngoại đổi mới là
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội.
Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật. Đại hội
VI đã thẳng thắn và khách quan chỉ ra những sai lầm thiếu sót trong chính
sách kinh tế, sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang
hoạt động trong thời kỳ quá độ. Sau khi nghiêm khắc kiểm điểm Đại hội cho
rằng để khắc phục những sai lầm, khuyết điểm và những bất cập dẫn đến
khủng hoảng Kinh tế - Xã hội đòi hỏi phải đổi mới t duy, trớc hết là t duy kinh
tế. Trên tinh thần đó Đại hội VI đã xác định nhiệm vụ trên lĩnh vực đối ngoại
trong thời gian tới là:
5
Trong những năm tới nhiệm vụ của Đảng và Nhà nớc ta trên lĩnh vực
đối ngoại là: Ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại,
phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dơng, góp phần tích cực giữ vững hoà
bình ở Đông Nam á và thế giới, tăng cờng quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn
diện với Liên Xô và các nớc trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa.
Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta phải phục vụ cho cuộc
đấu tranh bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, làm thất bại cuộc chiến
tranh phá hoại nhiều mặt của địch, tiếp tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế với
Campuchia và Lào. Chúng ta cần tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới về
hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việc phân
mọi hình thức của chủ nghĩa khủng bố.
Với Trung Quốc, Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung quốc bất kỳ
lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thờng hoá quan hệ giữa hai
nớc, vì lợi ích của nhân dân hai nớc, vì hoà bình ở Đông Nam á và trên thế
giới.
Nhà nớc ta chủ trơng tăng cờng và mở rộng quan hệ hữu nghị với Thuỵ
Điển, Phần Lan, Pháp, Oxtraylia, Nhật Bản và với các nớc phơng Tây khác
trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Chính phủ ta tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải
quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ
với Mỹ vì lợi ích của hoà bình ổn định ở Đông Nam á .
Đờng lối đối ngoại đổi mới tiếp tục đợc khẳng định ở Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII.
Nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hoà bình,
mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công
cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc. Đồng thời góp phần tích
8
cực vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập
dân tọc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Cần nhạy bén nhận thức và dự báo đợc những diễn biến phức tạp và
thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản
xuất và xu hớng quốc tế hoá của nền kinh tế thế giới để có những chủ trơng
đối ngoại phù hợp. Trong điều kiện mới phải coi vận dụng bài học kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nớc với sức mạnh quốc
tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta chủ trơng hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nớc,
không phân biệt chế độ chính trị xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc
cùng tồn tại hoàn bình. Trớc sau nh một tăng cờng đoàn kết và hợp tác với
Liên Xô, đổi mới phơng thức và nâng cao hiệu quả hợp tác Việt - Xô nhằm
đáp ứng lợi ích của mỗi nớc.
chức chuyên môn của LHQ và các tổ chức phi chính phủ.
Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam
muốn là bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình,
độc lập, phát triển.
Việc Liên Xô sụp đổ vào 22-12-1991 đã làm chấn động thế giới vì tốc
độ nhanh chóng của các sự kiện và ảnh hởng mạnh mẽ tới các Đảng cộng sản
trên thế giới. Đứng trớc tình hình đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng lần
thứ III khoá VII đã họp và đa ra 4 phơng châm xử lý trong hoạt động đối
ngoại của ta là:
Một là: Biết kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nớc với chủ nghĩa
quốc tế của giai cấp công nhân đảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc.
Hai là: Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cờng, đẩy mạnh đa dạng hoá,
đa phơng hoá nhng hai vế đó không hề mâu thuẫn nhau mà thực ra là thống
nhất, phục vụ hỗ trợ cho nhau.
Ba là: Nắm vững hai mặt đối lập của hợp tác và đấu tranh trong quan hệ
quốc tế.
Bốn là: Nhìn rõ vai trò của các tổ chức khu vực, hợp tác tốt với tất cả
các nớc trên thế giới, nhất là các nớc lớn có vai trò kinh tế, chính trị cờng quốc
trên thế giới.
Bốn phơng châm chỉ đạo trên đa ra vào đúng thời điểm hợp lý, kịp thời
phát huy và đạt đợc những thành tựu tốt đẹp.
10
Trớc những thành tựu của đờng lối đối ngoại đổi mới Đại hội VI và VII,
Đại hội VIII tiếp tục đờng lối đối ngoại đổi mới chỉ ra đờng lối chính sách đối
ngoại tới mọi chủ thể trên thế giới.
Đại hội VIII chỉ rõ: Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố
môi trờng hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh
phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệc tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
theo tinh thầm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc trên thế giới, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển.
2.2. Quá trình thực hiện đờng lối đối ngoại đổi mới.
Chính sách đối ngoại đổi mới mà đại hội VI đề ra là kiên trì thực hiện
nhiệm vụ chiến lợc giữ vững hoà bình, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi,
tập trung cao nhất, nhằm từng bớc ổn định và tạo cơ sở cho phát triển kinh tế
trong vòng 25 năm đến 30 năm (tức đến năm 2020), xây dựng chủ nghĩa xã
hội, bảo vệ độc lập của tổ quốc góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung
cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đây là mục tiêu
chiến lợc và ích lợi cao nhất của toàn Đảng và toàn dân ta. Chính sách đối
ngoại đổi mới phải góp sức mình vào sự nghiệp chung đó.
Ngay sau khi đa chính sách đối ngoại vào thực hiện, Đảng và nhà nớc
đã đa vấn đề Campuchia ra để giải quyết bằng con đờng hoà bình. Những
giải pháp đa ra trong chính sách để giải quyết vấn đề Campuchia, đã có tác
động thúc đẩy tác động đến một giải pháp chung trong vấn đề Campuchia đi
đến một giải pháp hoà bình toàn diện, đến năm 1989 thì cơ bản hoàn thành
bằng tuyên bố về một giải pháp chính trị toàn diện cho xung đột ở Campuchia.
Việt Nam và ASEAN cùng tìm ra một giải pháp đồng bộ cho vấn đề này, từ
đây 2 nhóm nớc hiểu nhau hơn, tin tởng nhau hơn. Điều đó có ý nghĩa rất to
lớn trong việc mang lại ổn định an ninh cho khu vực và làm giảm nguy cơ
xung đột tại khu vực Đông Nam á vốn đang tiềm tàng nhiều mâu thuẫn giữa
các nớc. Đây chính là thành công đầu tiên của chính sách đối ngoại đổi mới.
Bắt đầu từ thành công này tình hình ở Đông Nam á đợc cải thiện từ đối đầu
sang đối thoại, tạo xu thế hoà bình, hữu nghị, hợp tác. Với các nớc Đông Nam
á, nớc ta chủ trơng mở rộng quan hệ về mọi mặt trên nguyên tắc tôn trọng độc
lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hai bên cùng
có lợi. Những năm qua cũng đã ghi nhận những cố gắng to lớn của nhà nớc ta
trong việc cải thiện quan hệ với các nớc khu vực Đông Nam á - asean.
Tháng giêng năm 1989, Tổng bí th Nguyễn Văn Linh tuyên bố Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng quan hệ hữu nghị với các nớc
Mặc dù đợc đánh giá là khu vực phát triển năng động của Châu á - Thái
Bình Dơng và của thế giới, nhng cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 đã ảnh
hởng tiêu cực đến sự phát triển chung của khu vực, đối phó với vấn đề này là
rất khó, đòi hỏi các nớc ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng cần phải
nghiên cứu, rút kinh nghiệm và đề ra những giải pháp mang tính phòng ngừa
hữu hiệu, xây dựng mô hình phát triển bền vững hơn, ổn định hơn cho từng
thành viên của toàn khu vực.
6
6: Trích Lu Văn Lai: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995) Tập II - NXB Công an nhân dân trang 251-
252
7
7: ĐHKTQD kinh tế quốc tế - NXB Thống kê - Hà Nội, 1998 trang 139
13
Tóm lại, việc gia nhập ASEAN của Việt Nam là hớng đúng. Về kinh tế,
ta có thể tranh thủ đợc vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nớc
ASEAN tiên tiến. Tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nớc phát triển, mở
rộng thị trờng trong khu vực.
Về an ninh, chính trị, Việt Nam tham gia vào diễn đàn khu vực ASEAN
chuyên bàn về những vấn đề an ninh khu vực ASEAN (ARF), khi tham gia
vào ASEAN chúng ta có thể góp phần củng cố môi trờng xung quanh mình,
tạo dựng một vành đai an toàn mang tính chiến lợc, bên cạnh đó khi tham gia
vào ASEAN tiếng nói của Việt Nam sẽ có thế và lực hơn trên thị trờng quốc
tế. Hơn nữa, nếu các nớc ASEAN gạt bỏ đợc những bất đồng tranh chấp không
đáng kể để đi tới một đồng thuận trong việc giải quyết vấn đề tranh chấp ở
Biển Đông đối với Trung Quốc thì tình hình sẽ bớt đi căng thẳng, nhanh
*Đối với Trung Quốc
Việt Nam - Trung Quốc là hai nớc láng giềng gần, có quan hệ hữu nghị
văn hoá và lịch sử lâu dài. Chúng ta luôn quý trọng tình hữu nghị với nhân dân
Trung Quốc, với mong muốn khôi phục lại mối quan hệ hữu nghị giữa hai dân
(Trung Quốc)
8
đã mở ra một trang sử mới trong việc khai thông quan hệ giữa
hai nớc, đến trung tuần tháng 11 năm 1991 tại Bắc Kinh hai bên đã ra thông
cáo chung: việc bình thờng hoá quan hệ Việt - Trung phù hợp với lợi căn bản,
lâu dài của nhân dân hai nớc, có lợi cho hoà bình ổn định ở khu vực, đây là sự
kiện khép lại quá khứ, mở ra tơng lai hai nớc là đồng chí, không phải là
đồng minh. Tranh chấp giữa hai nớc cần đợc đợc giải quyết theo hiến chơng
LHQ và luật pháp quốc tế, thông qua thơng lợng hoà bình, không đợc sử dụng
vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực.
Tuy nhiên các vấn đề cần giải quyết giữa hai nớc là: vấn đề biên giới
trên bộ, tranh chấp ở biển Đông, phân định vịnh Bắc Bộ. Tháng 10 năm 1993
Tổng bí th Đỗ Mời đã tuyên bố Việt Nam chủ trơng giải quyết tranh chấp
giữa các nớc, kể cả tranh chấp về các quần đảo ở Biển Đông, thông qua thơng
lợng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn
trọng luật pháp quốc tế và Công ớc về luật biển năm 1982 và chủ quyền các n-
ớc ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ
9
.
Đến ngày 30-12-1999, hai nớc đã hoàn thành phân định 164 điểm còn
tranh chấp biên giới trên bộ và ký kết Hiệp định biên giới trên bộ. Còn những
vấn đề còn lại nh: phân định vịch Bắc Bộ và những vấn đề khác do lịch sử để
lại. Qua các cuộc gặp gỡ hàng năm, hai bên đã thống nhất về nguyên tắc: Khai
thác những điểm chung, gác lại những bất đồng, cùng nhau thơng lợng, giải
quyết từng bớc trên cơ sở hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Bớc
sang giai đoạn mới, hai bên thống nhất cần phải đẩy mạnh hơn nữa quan hệ
8
8: Trích Lu Văn Lợii: 50 năm NGVN Tập II - NXB Công an nhân dân trang 209
9
9: Trích Lu Văn Lợi: 50 năm NGVN Tập II - NXB Công an nhân dân trang 219-220
lợc của Việt Nam ở khu vực Châu á Thái Bình Dơng trong đó bao gồm cả
Đông Nam á.
Nội dung chiến lợc của Mỹ đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
bao gồm những trọng điểm sau:
10
10: Trích Lu Văn Lợi: 50 năm NGVN Tập II - NXB Công an nhân dân trang 280
16
- Bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam giúp cho Mỹ có cơ hội xoá bỏ
đợc những mâu thuẫn trong nội bộ nớc Mỹ. Giải quyết hết những di sản của
chiến tranh trớc đây, đồng thời mở đờng cho các nhà kinh doanh Mỹ thâm
nhập thị trờng Việt Nam buôn bán và đầu t, đem lại thêm lợi nhuận, việc làm
và lợi thế mới cho Mỹ trong cuộc cạnh tranh kinh tế và thơng mại toàn cầu
hiện nay.
Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Bill- Clinton về việc bình thờng hoá quan
hệ với Việt Nam đã nêu rõ những vấn đề mà Mỹ rất quan tâm. Đó là, việc tìm
kiếm hết những ngời Mỹ mất tích trong chiến tranh, tạo điều kiện cho Mỹ
thoát khỏi hội chứng Việt Nam và làm cho xã hội Mỹ khỏi bị chia rẽ. Mỹ
cũng hy vọng Việt Nam sẽ phồn vinh hơn với sự hỗ trợ của Mỹ trong tơng lai
để thực hiện nền kinh tế thị trờng và mở cửa.
Chỉ sau ba năm bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam, Mỹ đã trở thành
một trong những nớc đầu t lớn vào Việt Nam (trên 1 tỷ USD - đứng hàng thứ
8), kim ngạch buôn bán giữa hai nớc tăng lên nhanh chóng hàng năm. Tơng
lai Mỹ có thể là nớc dẫn trong việc đầu t và buôn bán với Việt Nam. Tất cả các
công ty lớn của Mỹ đã mở văn phòng ở Việt Nam.
- Bên cạnh đó Mỹ theo chiến lợc lâu dài, thực hiện diễn biến hoà bình
để chuyển hoá Việt Nam đi vào quỹ đạo của Mỹ, triệt tiêu mục tiêu và bản
chất xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.
Dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của Việt Nam, toàn quân, toàn dân
ta đoàn kết với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nớc trong cộng
đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Thực hiện đa dạng
ba trung tâm kinh tế chính trị của thế giới có thế mạnh đặc biệt về vốn và công
nghệ. Tranh thủ đợc các nớc Tây, Bắc Âu này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc ta. Việc thi hành chính
sách đổi mới của Việt Nam đã tạo cơ sở, hành lang vững chắc cho quan hệ của
Việt Nam với các quốc gia trên khu vực này. Ngay từ khi Mỹ cha gỡ bỏ lệnh
cấm vận đối với Việt Nam, các quốc gia EU đã khởi động quan hệ kinh tế th-
ơng mại với nớc ta, nối lại ODA (viện trợ không hoàn lại) cho Việt Nam.
Ngay từ 22 - 10 -1990 nớc ta và EU ký hiệp định về lập quan hệ ngoại
giao và trao đổi Đại sứ. Đây là bớc phát triển quan trọng thể hiện thiện chí
quan hệ hợp tác giữa hai bên. Từ đó quan hệ hợp tác ta và EU không ngừng đ-
ợc tăng cờng và mở rộng. Ta chủ trơng thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nớc
EU và cả cộng đồng Châu Âu dới cả hai hình thức: song phơng và đa phơng.
Do vậy Pháp đã vận động các nớc EC và EU cho Việt Nam vay 1 tỷ 800 triệu
USD năm 1994 và 2 tỷ USD năm 1995
12
và từ khi Mỹ bỏ cấm vận, các tổ
chức IMF, WB đã cho Việt Nam vay 1 tỷ 500 triệu USD
12
. Ngày 17-7-1995,
tại trụ sở EU ở Bruxcells (Bỉ) Bộ trởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh
Cầm và Chủ tịch Hội đồng bộ trởng liên minh Châu Âu Javier Salana đã ký
chính thức hiệp định hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
Cộng đồng Châu Âu trớc sự chứng kiến của 15 bộ trởng ngoại giao của 15 nớc
thành viên EU. Hiệp định này quy định những điều khoản về đầu t, thơng mại,
buôn bán trao đỏi, cho vay giữa EU và Việt Nam, tạo dựng một môi trờng
12
12: Nguyễn Minh Hằng - Cải cách Kinh tế ở CHND Trung Hoa - Lựa chọn mới cho sự phát triển - NXB
1995 trang 19 -Hội thảo khoa học: 50 năm NGVN dới sự lãnh đạo của Đảng - Viện QHQT, 1995 trang 19
18
thuận lợi để mở rộng quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa hai bên. Tháng
trớc hết do sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Liên Bang Ngan và
các cuộc viếng thăm của lãnh đạo hai nớc.
Với việc phát triển quan hệ với Liên Bang Nga, một bạn hàng truyền
thống, Việt Nam có thể đi trớc các nớc trong khu vực trong việc tranh thủ thị
19
trờng gần 170 triệu dân, có thể tranh thủ các nớc SNG khác. Ngợc lại Nga
cũng muốn thông qua bạn hàng truyền thống là Việt Nam để vũ khí Nga thâm
nhập và thị trờng ASEAN.
Hiện nay lĩnh vực hợp tác mà hai nớc Việt Nam và Liên Bang Nga quan
tâm nhất là dầu khí, tiêu biểu là VietSopetro, nhà máy lọc dầu Dung Quất
Nói chung, trong xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới
hiện nay, việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nớc lớn nh Liên Bang Nga sẽ
rất có lợi cho việc phát triển kinh tế của các nớc đang phát triển nh Việt Nam.
Mặc dù quan hệ hợp tá giữa hai nớc hiện nay cha tơng xứng với tiềm năng của
hai nớc. Song với những u thế của mình, Liên Bang Nga - Việt Nam sẽ trở
thành đối tác quan trọng của nhau vì lợi ích của nhân dân hai nớc.
* Bên cạnh việc thúc đẩy quan hệ với các nớc, các nớc láng giềng và
truyền thống, chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam cũng rất chú
trọng đến khu vực Châu á - Thái Bình Dơng.
Đợc đánh giá là khu vực năng động nhất của thế giới, thế kỷ XXI là thế
kỷ của Châu á - Thái Bình Dơng. Khu vực này đã, đang và sẽ là một điểm
nóng của nền kinh tế thế giới.
Việt Nam chủ trơng mở rộng các nớc của khu vực này, từ Đông Bắc á
đến Nam Thái Bình Dơng. Nhiều nớc ở đây có nền kinh tế phát triển cao và
giàu tiềm năng nh Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga Bằng sự nỗ lực hoạt
động ngoại giao từ sau khi áp dụng chính sách đối ngoại đổi mới, Việt Nam
đã có những bớc phát triển mạnh mẽ trong quan hệ với các nớc ở khu vực này.
Đối với Nhật Bản, quan hệ giữa hai nớc đợc đánh dấu bằng hành động mở lại
viện trợ phát triển (ODA) cho Việt Nam của Nhật Bản. Sau 14 năm gián đoạn,
đây là bớc khởi đầu thuận lợi, tạo ấn tợng tốt đẹp thúc đẩy quan hệ hợp tác
(CTBT). Bên cạnh đó ta cũng góp phần tích cực vào mục tiêu chung là đòi cải
tổ LHQ theo hớng dân chủ hoá, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các quốc gia.
Ngoài ra chúng ta tham gia tích cực và chủ động vào tổ chức không liên kết,
thúc đẩy hợp tác giữa các nớc G77 kêu gọi tăng cờng hợp tác Nam - Nam, đấu
tranh vì công bằng trong quan hệ Bắc - Nam. Không những thế chúng ta cũng
là một nhân tố năng động trong cộng đồng các nớc có sử dụng tiếng Pháp.
Điều này đã đợc chứng tỏ bằng việc tổ chức thành công Hội nghị thợng đỉnh
các nớc có sử dụng tiếng Pháp vào cuối tháng 5-1998 đã gây ấn tợng tốt đẹp
đối với các thành việc của tổ chức này.
* Đối với các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế. Trong điều kiện
phong trào đảng cộng sản và công nhân quốc tế đang bị thoái trào, quan hệ
giữa các Đảng cộng sản và Nhà nớc với các Đảng cộng sản và công nhân quốc
tế đợc chúng ta coi là u tiên trong chính sách đối ngoại. Đại hội VIII đã khẳng
định: Đảng ta tiếp tục phát triển quan hệ đoàn kết, hữu nghị với các Đảng
cộng sản và công nhân, các phong trào độc lập dân tộc, các tổ chức và phong
trào tiến bộ trên thế giới.
14
Đối với các Đảng cộng sản và công nhân đang cầm quyền, Đảng cộng
sản Việt Nam tăng cờng đoàn kết, hữu nghị trên cơ sở tôn trọng độc lập, tự
chủ với tinh thần khai thác những điểm tơng đồng, hạn chế bất đồng, phấn đấu
14
14: Đảng CSVN - Văn kiện Đậi hội VIII - NXB Chính trị quốc gia trang 62
21
vì mục tiêu xã hội chủ nghíac. Các Đảng cộng sản và công nhân cầm quyền
hiện nay chỉ còn 5 nớc, đó là Việt Nam; Trung Quốc; Lào; CuBa; Bắc Triều
Tiên. Với Là và CuBa quan hệ đó vừa là quan hệ với các Đảng cộng sản và
công nhân, vừa là quan hệ với các nớc láng giềng.
Bên cạnh việc xây dựng quan hệ tốt với Trung Quốc, Lào. Đối với
CuBa, Việt Nam luôn khẳng định đây là mối quan hệ tốt đẹp truyền thống.
Việt Nam cũng luôn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân CuBa vì
15
15: Nguyễn Mạnh Cầm: 3 nét nổi bật của hoạt động ngoại giao năm 1993 - Tuần báo quốc tế 2/1994
22
23
Chơng 3
Triển vọng quan hệ đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế
kỷ XXI
3.1. Những thuận lợi và khó khăn.
* Thuận lợi.
Dới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng ta, với bản lính chính trị
vững vàng, sau 15 năm đổi mới Đảng dẫn dắt dân tộc ta thoát khỏi khủng
hoảng trầm trọng và giành đợc những thành tựu to lớn và quan trọng, làm cho
thế và lực của nớc ta lớn mạnh lên nhiều. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh
tế đợc tăng cờng. Đất nớc còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên lao động.
Nhân dân ta có nhiều phẩm chất cao quy. Tình hình chính trị - xã hội ổn địng.
Môi trờng hoà bình, sự hợp tác, liên kết, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng phát triển tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi
thế so sánh, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, công nhệ mới, kinh nghiệm quản
lý, mở rộng thị trờng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là
cơ hội lớn để chúng ta tạo ra bớc phát triển mới.
Đầu thập kỷ 90, Việt Nam bình thờng hoá quan hệ với Trung Quốc, ký
kết hiệp địng Paris về Campuchia, cải thiện quan hệ với các nớc phơng Tây,
ASEAN và các tổ chức tiền tệ quốc tế.
Hiện nay quan hệ đối ngoại của Việt Nam đã đợc rộng mở. Việt Nam
bình thờng quan hệ với các nớc lớn, với hầu hết các chủ thể trong quan hệ
quốc tế. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có quan hệ bình thờng với
tất cả các nớc lớn, các tổ chức quốc tế chủ chốt. Vị thế của Việt Nam ngày
càng đợc nâng cao trên trờng quốc tế, đây là nền tảng, thuận lợi cho việc đặt
nền móng cho đờng lôứi đối ngoại của Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ
XXI.
nghiệp trong nớc.
Tựu trung lại, hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nớc ta đã đạt đ-
ợc những bớc tiến căn bản tạo nền móng vững chắc cho quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Tuy nhiên trong một thế giới sôi động, phát triển
nh vũ bão hiện nay, tiềm ẩn rất nhiều những thức thức. Việt Nam có tận dụng
đợc thời cơ thuận lợi hay không , có vợt qua đợc những trở ngại thác thức đa
đất nớc tiến vào thế kỳ 21 hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào đờng lối phát
triển đất nớc nói chung và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta nói
riêng.
3.2. Triển vọng của quan hệ đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế kỳ XXI.
Chúng ta tự hào về những thành tựu của Đảng và Nhà nớc ta giành đợc
trong 15 năm đổi mới, chúng ta vững tin vào tiền đồ của đất nớc những năm
tới.
25