1
Ngoại giao kinh tế trong thực tiễn quan hệ
quốc tế và Việt Nam
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Quốc tế học
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế ; Mã số: 60 31 40
Người hướng dẫn khoa học: T.S Bùi Thành Nam
Năm bảo vệ: 2011
Abstract. Làm sáng tỏ nội hàm khái niệm ngoại giao kinh tế (NGKT). Phân tích trọng tâm
của công tác ngoại giao kinh tế tại các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển. Tìm
hiểu vai trò của hoạt động NGKT đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam và đưa ra một
số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của NGKT phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp CNH-
HĐH đất nước.
Keywords. Quan hệ quốc tế; Quan hệ ngoại giao; Việt Nam; Kinh tế
Content.
1. Lý do chọn đề tài
Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI cùng với việc chiến tranh lạnh chấm dứt, quan hệ
quốc tế đã chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại, từ đó làm nảy sinh xu hướng đa dạng hoá,
đa phương hoá trong tiến trình hội nhập toàn cầu. Hoà bình, ổn định, hợp tác để phát triển
ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các quốc gia. Cùng với đó, quá trình toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển sâu rộng với tốc độ chưa từng có, khoa
học - công nghệ tiến bộ vượt bậc, làm thay đổi sâu sắc kinh tế thế giới nói riêng và đời
sống quốc tế nói chung. Kinh tế được ưu tiên phát triển và trở thành một trong những chủ
đề chính trong quan hệ quốc tế hiện nay.
CNH-HĐH đất nước.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Mối quan hệ giữa Ngoại giao kinh tế và các nhiệm vụ khác của Ngoại giao
- Chủ thể Ngoại giao kinh tế
- Các phương diện của Ngoại giao kinh tế
- Yêu cầu, thực tiễn triển khai công tác Ngoại giao kinh tế
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung phân tích các đặc trưng công tác NGKT tại các quốc gia đang
phát triển, phát triển và thực tiễn tại Việt Nam.
Về mặt thời gian, tại Việt Nam luận văn đặt trọng tâm phân tích vai trò của NGKT
chủ yếu giai đoạn sau khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp so sánh,
đối chiếu; phân tích định tính, định lượng; phân tích tổng hợp… để thể hiện các đánh giá,
phân tích và luận điểm.
6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích một cách hệ thống các phương diện của ngoại giao kinh tế, đặc
biệt là tầm quan trọng của công tác ngoại giao kinh tế trong quan hệ quốc tế và Việt Nam.
Trên cơ sở lý luận, thực tiển triển khai trong quan hệ quốc tế và Việt Nam, luận văn đưa ra
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao kinh tế trong giai đoạn tới.
Với những nội dung trên, hy vọng rằng luận văn khi hoàn thành sẽ hữu ích cho công tác
nghiên cứu về ngoại giao kinh tế.
Do nguồn tài liệu liên quan đến đề tài luận văn có hạn, quỹ thời gian không nhiều và
kiến thức, kinh nghiệm của người viết còn hạn chế nên luận văn chắc chắn không tránh
khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến bổ sung, đóng góp của các thày cô và các bạn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia làm ba chương:
3
quan đến sản xuất, di chuyển và trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các công cụ sản xuất, thông tin
tiền tệ và các quy định quản lý chúng”
Tựu chung lại, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau, có thể hiểu về Ngoại giao kinh
tế đơn giản là ngoại giao bảo vệ và thúc đẩy lợi ích kinh tế quốc gia, là phương tiện để
cạnh tranh và hợp tác trong quan hệ quốc tế. Theo đó, ngoại giao kinh tế bao hàm hai
phương diện “kinh tế là đối tượng” và “kinh tế là công cụ” của chính sách đối ngoại quốc
gia trong quan hệ quốc tế.
Tại Việt Nam, từ chỗ nhận thức sơ khai ban đầu trước đổi mới, đến nay ngoại giao
kinh tế đã trở thành một trong những nhiệm vụ chính của ngành ngoại giao. Ngoại giao
kinh tế đã và đang được quán triệt sâu sắc, triển khai một cách bài bản và nhận được sự
ủng hộ lớn từ các cấp, các ngành, các địa phương cũng như các doanh nghiệp. Có thể nói,
ngoại giao kinh tế đã thực sự trở thành nhu cầu khách quan đối với sự phát triển kinh tế xã
hội của Việt Nam, là một trong ba trụ cột quan trọng của công tác ngoại giao. Mục tiêu
4
tổng quát của hoạt động ngoại giao kinh tế là tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
của đất nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế với nước ngoài, phục vụ thiết
thực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế. Theo
đó, công tác ngoại giao kinh tế ở Việt Nam được hiểu chính là ngoại giao phục vụ phát
triển kinh tế.
1.2. Ngoại giao kinh tế và các nhiệm vụ khác của ngoại giao
Mối quan hệ giữa ngoại giao kinh tế và các nhiệm vụ khác của ngoại giao là mối
quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau một cách sâu sắc. Đối
với nền ngoại giao các quốc gia, sức mạnh kinh tế vừa là cái đích phải đạt tới, vừa là
phương tiện để họ thực hiện mục tiêu của mình. Và ngược lại, bất kỳ quan hệ trên lĩnh vực
nào cũng cần nền tảng là quan hệ ngoại giao, một cách chính thức hoặc trên nguyên tắc
nhất định. Với vai trò là một trong những trụ cột quan trong của ngoại giao các quốc gia,
Ngoại giao kinh tế vừa là nền tảng cho sự phát triển, vừa là biện pháp và mục tiêu của
chính sách đối ngoại; nó bổ trợ rất hữu hiệu cho các trụ cột khác, tạo thành một chỉnh thể
chính sách đối ngoại phát huy tốt nhất sức mạnh dân tộc và kết hợp hiệu quả với sức mạnh
Chủ thể phi nhà nước
Cơ quan hành
pháp
Cơ quan lập
pháp
Chính quyền
địa phương
Các nhóm lợi
ích kinh tế
Các chủ thể
khác
Các nhóm lợi
ích kinh tế
Các nhóm lợi
ích kinh tế
Các nhóm lợi
ích kinh tế
5
1.4. Các cấp độ của NGKT
Ngoại giao kinh tế có thể hoạt động theo hai cấp độ, song phương và đa phương. Cấp
độ song phương Ngoại giao kinh tế song phương hình thành nên phần lớn các quan hệ kinh
tế. Nó bao gồm các hiệp định thương mại song phương, các hiệp ước, hiệp định về đầu tư,
việc làm, các hiệp định tránh đánh thuế hai lần và rất nhiều hoạt động chính thức và không
chính thức khác giữa hai quốc gia. Có thể kể đến như các hiệp định mậu dịch tự do của
Asean với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc… Ngoại giao kinh tế song phương
đóng vai trò quan trọng trong quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa các quốc gia. Xây dựng hiệp
định thương mại tự do song phương được rất nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng.
Cấp độ ngoại giao kinh tế đa phương, đây là một kiểu ngoại giao kinh tế giống như
cấu trúc song phương, song bao gồm các giao thương không chính thức giữa từ 3 nước/
tăng cường cạnh tranh trong quan hệ quốc tế thông qua các hình thức như trừng phạt kinh
tế và cấm vận kinh tế. Các biện pháp này thường được sự dụng bởi các quốc gia phát triển
6
có tiềm lực và ảnh hưởng lớn. Trừng phạt kinh tế được định nghĩa là "các biện pháp kinh
tế được tiến hành nhằm chống lại một hay nhiều nước với mục đích đưa đến một sự thay
đổi trong chính sách hay ít nhất là thể hiện ý kiến của một nước đối với chính sách của
nước khác", nhằm thay đổi thái độ của nước mục tiêu, trả thù, đe dọa, hoặc tác động làm
thay đổi những chính sách không có lợi của nước bị trừng phạt…Tuy nhiên, lịch sử đã cho
thấy mục đích cơ bản của trừng phạt kinh tế là siết chặt chính sách thương mại để bảo vệ
lợi ích kinh tế của một nước trước các nước thù địch nhằm thực hiện các mục tiêu chiến
lược hoặc các chính sách đối ngoại. Còn cấm vận là sự ngăn cấm quan hệ ngoại giao, buôn
bán, thương mại, vũ khí, năng lượng, đi lại vận chuyển hàng hóa (bằng hàng không hay
đường biển), khoa học kỹ thuật với một nước nào đó. Mục tiêu của cấm vận là gây khó
cho nước khác trên lĩnh vực bị cấm vận cũng như các lĩnh vực có liên quan. Cấm vận kinh
tế thường do lý do chính trị, là đòn bẩy để ép buộc nước khác phải tuân theo điều nước
cấm vận muốn. Lệnh cấm vận thường được sử dụng như một sự trừng phạt chính trị do sự
bất đồng về chính sách và hành động trái với một nhóm nước lớn mạnh về mọi mặt.
2.2. NGKT là ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế
Ngày nay sức mạnh kinh tế được coi là một trong những nhân tố hàng đầu quyết định
sức mạnh tổng hợp của mối quốc gia. Nền ngoại giao lớn cần một trận tuyến ngoại giao
mạnh. Với vai trò đó, Ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế đã trở thành là một phần của
chính sách ngoại giao kinh tế của các quốc gia trong mọi thời kỳ lịch sử. Vai trò của ngoại
giao phục vụ kinh tế ngày càng trở lên quan trọng trong giai đoạn hòa bình và phát triển,
nhằm bảo vệ và mở rộng tối đa lợi ích quốc gia trong nước và trên trường quốc tế. Đây là
xu hướng chung của hoạt động ngoại giao trên thế giới. Nó không chỉ thể hiện ở chỗ tham
gia kiến tạo chính sách kinh tế đối ngoại, xây dựng và duy trì mối quan hệ quốc tế ổn định,
thuận lợi cả về chính trị, kinh tế, an ninh, mà còn ở chỗ tìm kiếm được nhiều đối tác, tiếp
thị và mở rộng thị trường, đầu tư, thu hút viện trợ nước ngoài và môi giới những hợp đồng
kinh tế lớn…Yêu cầu này càng trở nên cấp bách khi cuộc chạy đua về kinh tế, cuộc cạnh
thuận lợi, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước. Theo quan điểm chỉ đạo, công tác NGKT là một nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên
trong hoạt động ngoại giao Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân, góp phần
thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, gắn với đảm bảo an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội.
3.1. Nhiệm vụ cơ bản của công tác NGKT
Đất nước ta đang đứng trước những thời cơ, vận hội chưa từng có. Chúng ta đang hội
nhập sâu rộng vào khu vực và quốc tế, từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế
giới. Việt Nam đang được bạn bè quốc tế khắp năm châu quan tâm và mong muốn phát
triển quan hệ hợp tác. Nhiệm vụ đặt ra cho Ngoại giao Việt Nam hết sức nặng nề, như
Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ là “giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều
kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công
nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình và xu hướng phát triển của thế giới, tình hình khu
vực và nhu cầu trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra những nhiệm vụ trọng tâm của
ngành ngoại giao đối với quá trình phát triển đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập và
toàn cầu hóa, mở đầu bằng chính sách Đổi mới năm 1986. Có thể khái quát những nhiệm
vụ chính của ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế bao gồm:
Một là, nhiệm vụ nghiên cứu kinh tế và cung cấp thông tin. Ngoại giao cần đóng góp
vào việc xây dựng các đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước,
nhất là lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực.
Hai là, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước, xây dựng
khuôn khổ chính trị, pháp lý cho quan hệ giữa ta và các nước, hình thành một hệ thống
đồng bộ các hiệp định, thỏa thuận để làm nền tảng cho quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với
các đối tác quốc tế.
Ba là, tham gia triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế đặc biệt là về
kinh tế đối ngoại, hỗ trợ và làm chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp trong nước trong
hợp tác, làm ăn với nước ngoài.
Bốn là, nhiệm vụ giới thiệu, quảng bá kinh tế Việt Nam. Trên thực tế, đây là công
việc thường xuyên mà ngành ngoại giao đã và đang làm hết sức tích cực, dưới nhiều hình
của Ban bí thư về tăng cường công tác ngoại giao kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3.3. Thực tiễn triển khai công tác NGKT
Đối với Việt Nam, cũng giống như các quốc gia khác, ngoại giao Việt Nam cũng
hướng tới hai mục tiêu quan trọng là: chính trị (độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ) và
kinh tế (tăng trưởng, phát triển). Tuy nhiên, trong một thời gian dài, sau khi giành độc lập
thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam lại phải chịu sự cấm vận kinh tế của Mỹ và các
nước đồng minh, hạn chế mối quan hệ kinh tế Việt Nam với các quốc gia khác trên thế
giới. Trong suốt thời gian đó, có thể nói ngoại giao Việt Nam chủ yếu tập trung vào mực
tiêu chính trị và an ninh. Còn mục tiêu thứ hai là phát triển kinh tế dường như kém chú
trọng hơn. Từ sau khi đổi mới đến nay, và đặc biệt sau khi bình thường hóa quan hệ với
Mỹ, công tác ngoại giao kinh tế của Việt Nam được đẩy mạnh và trở thành ưu tiên của
công tác đối ngoại. Tuy nhiên, với vị thế là một nước nhỏ, nền kinh tế đang trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và còn gặp nhiều khó khăn, nội dung ngoại giao kinh tế Việt
Nam mới chỉ đạt được một số kết quả bước đầu ở khía cạnh ngoại giao phục vụ phát triển
kinh tế.
9
3.3.1. Những thành tựu
Gắn kết ngày càng chặt chẽ kinh tế đối ngoại với chính trị đối ngoại, tạo môi trường
quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung.
Công tác nghiên cứu, thông tin mang tính dự báo, cảnh báo kinh tế đã được đẩy
mạnh. Trên cơ sở đó, có nhiều đóng góp thiết thực vào chính sách của chính phủ, bộ,
ngành, địa phương và doanh nghiệp về các vấn đề phát triển kinh tế.
Bộ ngoại giao và các cơ quan đại diện đã chủ động, tích cực đóng góp nhiều hoạt
động hỗ trợ các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp trong nước, giữ vai trò là “cầu nối” cho
các hoạt động xúc tiến kinh tế đối ngoại, góp phần giữ vững, mở rộng thị trường truyền
thống, khai thông thị trường mới, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hấp dẫn
khách du lịch vào Việt Nam.
Ngoại giao đã tích cực xây dựng khuôn khổ pháp lý cho quan hệ kinh tế đối ngoại
tương đối thụ động, mang tính chất đối phó, chưa tích cực phát hiện ra các cơ hội kinh
10
doanh, đầu tư để cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước và chỉ đạo các hoạt động liên
địa bàn. Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp còn có nhiều khó khăn lúng túng. Sự phối hợp
giữa CQĐD chưa chặt chẽ, thường xuyên, nhiều khi còn mang nặng tính hình thức. Các
doanh nghiệp trong nước chưa quan tâm nhiều đến công tác này, chưa có một tác phong
kinh doanh thật sự để có thể tận dụng các ưu thế hỗ trợ kinh tế của ngoại giao mang lại.
Công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu cho lãnh đạo Đảng, nhà nước về đường
hướng chính sách phát triển kinh tế của các nước cũng như xu thế biến động của nền kinh
tế toàn cầu đôi khi còn chưa được kịp thời, thường xuyên, đặc biệt trong tình hình kinh tế
thế giới có nhiều biến động, đặt ra nhiều thách thức cần xử lý.
Công tác quảng bá hình ảnh, môi trường đầu tư, chính sách pháp luật của Việt Nam
tới các nhà đầu tư tại nước sở tại đôi khi còn chưa tốt, chưa thực sự là một mắt xích quan
trọng để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đến gửi gắm, tìm hiểu thông tin, lựa chọn đối
tác đầu tư tại Việt Nam.
Công tác gắn kết Việt kiều, doanh nghiệp Việt kiều về Việt Nam đầu tư, tham gia là
vai trò cầu nối – lôi kéo các nhà đầu tư nước ngoài đến gần với Việt Nam hơn nữa còn
chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện nay.
b. Những khó khăn, thách thức
Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những biến chuyển khó lường,
đan xen giữa thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của Việt Nam. Sau nhiều năm
phát triển liên tục, kinh tế thế giới bắt đầu suy giảm. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra từ
khủng hoảng tài chính Mỹ. Nhiều nền kinh tế lớn tuyên bố rơi vào suy thoái.
Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất
bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát
triển.
Khoa học công nghệ tiếp tục phát triển nhanh chóng, tác động mạnh mẽ đến đời sống
kinh tế thế giới và góp phần làm thay đổi phương thức phát triển kinh tế với xu hướng
chuyển sang kinh tế tri thức. . Xu hướng này một mặt làm giảm lợi thế của các nền kinh tế
Khuôn khổ pháp lý công tác Ngoại giao kinh tế, để công tác NGKT trở thành nhiệm
vụ không chỉ riêng Bộ ngoại giao mà là nhiệm vụ chung của các cơ quan hữu quan, doanh
nghiệp cần nghiên cứu và ban hành các văn bản ghi rõ trách nhiệm, quyền hạn, lĩnh vực,
vai trò của các Bộ, ngành, địa phương trong việc phối hợp thực hiện công tác này. Cơ chế
thưởng phạt cũng cần được quy định rõ ràng, tạo động lực cho các cơ quan hữu quan thực
hiện tốt các chỉ tiêu được đề ra.
Xây dựng mục tiêu cụ thể cho từng thời kỳ, ngành ngoại giao cần phối hợp với các bộ
ngành trong nước xác định rõ và cụ thể mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời
kỳ nhất định. Đưa ra nhiệm vụ ngoại giao kinh tế chủ chốt của từng địa bàn để các cơ quan
trong nước và cơ quan đại diện ngoại giao của nước ta ở nước ngoài có thể tập trung thực
hiện hiệu quả mục tiêu đó. Các nội dung ưu tiên bao gồm: tăng cường năng lực, cơ sở vật
chất, kinh phí và con người cho những địa bàn trọng điểm về ngoại giao phục vụ kinh tế.
Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, bộ ngoại giao cần trao đổi, thống nhất
với các bộ, ngành, cơ quan hữu quan xây dựng cơ chế phối hợp công tác chung triển khai
hoạt động ngoại giao kinh tế, trong đó nêu rõ các nhiệm vụ, phạm vi, trách nhiệm, ràng
buộc đối với mỗi cơ quan liên quan, đặc biệt chú trọng đến việc cung cấp thông tin hai
chiều, cùng phối hợp xây dựng kế hoạch trung hạn và hàng năm cho các hoạt động xúc
tiến, triển khai hoạt động lớn ở nước ngoài. Cơ chế này sẽ giúp gắn kết Kế hoạch triển khai
công tác ngoại giao kinh tế của bộ ngoại giao với các bộ, ngành, cơ quan hữu quan góp
phần nâng cao hiệu quả hỗ trợ của ngành ngoại giao.
Tăng cường chính sách thu hút đối với người Việt Nam ở nước ngoài, người Việt
Nam ở nước ngoài là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế trong nước mà đến nay ta
chưa khai thác môt cách có hiệu quả. Việt Nam cần tăng cường các biện pháp khuyến
khích về hành chính, tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp tác động đến ý thức Việt kiều, khơi
dậy tinh thần dân tộc của Việt Nam ở nước ngoài như tuyên truyền qua truyền hình, đài,
báo…
Về chi phí cho các hoạt động ngoại giao kinh tế, để có thể triển khai hiệu quả các
hoạt động NGKT cần xem xét việc tăng kinh phí, cân đối hợp lý cho hoạt động đối ngoại
nói chung và hoạt động ngoại giao kinh tế nói riêng.
12
trọng điểm, thiết thực, hiệu quả, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
Sau hơn 20 năm hội nhập một cách đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã
và đang phải xử lý các vấn đề về hội nhập trên phạm vi rộng lớn hơn, đặc biệt là thực thi
đầy đủ các cam kết sâu rộng và đa dạng của quá trình hội nhập. Vấn đề đặt ra hiện nay
không còn là gia nhập mà là phát huy vai trò của Việt Nam và khai thác tối đa ưu thế của
hội nhập để phục vụ phát triển đất nước. Để hoàn thành những nhiệm vụ to lớn, khó khăn
trước mắt, công tác NGKT cần phải được đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về tư duy và hành
động cụ thể. Cần huy động mọi lực lượng, mọi nguồn lực, kết hợp cả nội lực và ngoại lực
triển khai công tác NGKT, góp phần xây dựng, quảng bá hình ảnh quốc gia, tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, góp sức thúc đẩy đất nước.
13
References.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Nguyễn Đình Bin (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
2. Bộ Ngoại giao (2005), Vụ Tổng hợp kinh tế, Sổ tay công tác ngoại giao phục vụ
phát triển kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Bộ Ngoại giao (1999), vụ Tổng hợp kinh tế, Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế của
Việt nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Bộ Ngoại giao (2000), Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Đỗ Minh Cao (2009), Chương mới trong quan hệ Trung Quốc – Châu Phi, Tạp chí
nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 4.
6. Nguyễn Tâm Chiến (2011), Một số suy nghĩ về đẩy mạnh chính sách ngoại giao
Tạp chí Thông tin đối ngoại.
20. Bùi Thị Lý (2009), Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Yên Bái, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 12.
21. Vũ Dương Ninh (2000), Các tổ chức quốc tế, Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội.
22. Nguyễn Nhâm (2011), Yếu tố nào tạo nên sức mạnh cường quốc kinh tế của Trung
Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1.
23. Kiều Thanh Nga (2011), Quan hệ hợp tác Trung Đông – Trung Quốc, Tạp chí
Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 5.
24. Trần Thuỳ Phương (2008), Hỗ trợ của Mỹ đối với Châu Phi trong quá trình cải cách
kinh tế, Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 7.
25. Dương Văn Quảng, TS. Vũ Dương Huân (2002), Từ điển thuật ngữ ngoại giao Việt
– Anh – Pháp, Nxb Thế giới, Hà Nội.
26. Nguyễn Cơ Thạch, Thế giới trong 50 năm qua (1945 – 1995) và thế giới trong 25
năm tới (1996 – 2020), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, Tr.104-107
27. Đoàn Văn Thắng, Một vài nhận thức về chính sách đối ngoại, Tạp chí Nghiên cứu
Quốc tế, số 38.
28. Phạm Quốc Trụ (2010), Kỷ yếu hội thảo ASEAN – EU lần thứ 3: Xây dựng cộng
đồng, quan hệ song phương/ hai khu vực và ngoại giao kinh tế, Nxb Thế giới, Hà
Nội.
29. Hoàng Anh Tuấn, Khái niệm và việc sử dụng sức mạnh quốc gia và sức mạnh quân
sự trong quan hệ quốc tế hiện đại, TC Nghiên cứu quốc tế, số 62.
Tài liệu tiếng Anh
30. Berridge, GR, Diplomacy: Theory & practice, 3rd edition, Routledge
15
31. Berridge, G.R and A. James (2003), A dictionary of Diplomacy, Revised Edition,
Palgrave Macmillan, London, 272 pages.
32. Michael Kostecki and Olivier Naray, Commercial Diplomacy and International
Business, Desiree Davidse
33. Nicolas Bayne and Woolcock (2007), The new economic diplomacy: decision
PORTAL
45. Hợp tác và hội nhập quốc tế để ra biển lớn, Sở ngoại vụ Hà Giang,
http://ngoaivuhagiang.gov.vn/home/nc125/Hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-Ngoai-giao-
phuc-vu-kinh-te.html
46. Đẩy mạnh công tác ngoại giao kinh tế phục vụ công cuộc phát triển đất nước,
Nguồn: Báo Thế giới & Việt Nam, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/
mofa/nr091019080134/nr091019081633/nr091023092040/nr091203081340/ns1007
20173407
47. Thế giới và Ngoại giao kinh tế, Thứ Năm, 29/01/2009.
http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/BaoXuan2009/2009/1/7C7E5F54D40E6674/
48. Tổng Lãnh sứ quán Việt Nam tại Nam Ninh, Trung Quốc,
http://www.vietnamconsulate - nanning.org/vi/nr070521170205/
49. Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Nhật Bản,
http://www.vietnamembassy-japan.org/vi/nr070521170205/
50. Nhật Bản tìm kiếm sự cân bằng giữa quyền lực mềm và cứng (2011),
http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-dong-bac-a/1806-1806
51. Economic Diplomacy, http://www.economicsanddiplomacy.blogspot.com
52. Kishan S Rana (2007), “Economic diplomacy: experiences of development
countries”, http://books.google.ca/books?hll in ser Nicholas Bayne and Stephen
Woolcock (2007) (2
nd
edition); The new economic diplomacy.
53. Bright prospects for economic diplomacy with developing countries,
http://asiaviews.org/index.php?option=com_content&view=article&id=27119:repor
talias8294&catid=2:regional-news-a-special-reports&Itemid=9, September 8, 2004.
54. The WTO and American economic diplomacy under Obama,
http://www. eastasiaforum.org/2009/01/17/the-wto-and-americanecono-
micdiplomacy-under-obama/
55. U.S. kicks economic diplomacy with China up a notch,
http://www.reuters.com/article/2009/07/24/us-usa-china-economy-analysis-sb-