Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục lục
Trang
Lời mở đầu
4
Chơng I Cơ sở và đặc trng của toàn cầu hoá kinh tế
7 5
I . Cơ sở của toàn cầu hoá kinh tế
7
1 . Quan niệm về toàn cầu hoá
5 2 . Cơ sở
khách quan thúc đẩy sự gia tăng xu thế toàn cầu hoá
10
II . Đặc trng của toàn cầu hoá kinh tế
30
1 . Toàn cầu hoá là giai đoạn phát triển cao của quốc tế
30
2 . Trong thời kỳ toàn cầu hoá kinh tế hiện nay , hội nhập kinh
tế quốc tế gắn liền với tự do hoá các họat động kinh tế
31
3 . Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan nhng chịu tác
động lớn từ Mỹ và các nớc t bản phát triển
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
32
4 . Toàn cầu hoá kinh tế là quá trình mang tính hai mặt
34
5 . Toàn cầu hoá kinh tế là quá trình mở rộng sự hợp tác đồng
thời với sự gia tăng cạnh tranh ngày càng quyết liệt
39
2. Vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
47
41
Chơng III Giải pháp để đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh
tế Quốc tế của Việt Nam
80
72 I . Thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam trên con
đờng hội nhập 72 1. Thuận lợi
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I . Thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam trên con đờng
80
1. Thuận lợi
80
2.Thách thức
84
75
II . Kinh nghiệm của một số nớc có nền kinh tế tơng đồng trong
khu vực về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế .
88
79
1. Nhật Bản
88
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
108
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
97
KÕt luËn
110
98
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o
111
99
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ cả về qui mô và
tốc độ . Bất kỳ một nền kinh tế nào muốn phát triển đều phải tham gia vào hội nhập
kinh tế quốc tế để giành lấy lợi ích tối đa có thể đạt đợc cho đất nớc mình . Việt nam
cũng không nằm ngoài xu thế đó .
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang ngày càng đợc mở
rộngvà tăng cờng . Việt Nam đã tham gia ASEAN ( năm 1995 ); APEC ( năm 1998 )
và tiến tới gia nhập tổ chức thơng mại thế giới (WTO) , là thành viên chính thức của
IMF, WB , UNCTAD,... Có thể nói , tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế , Việt
Nam ngày càng tăng cờng đợc vị trí và vai trò của mình trên trờng quốc tế, đồng thời
đa nền kinh tế đất nớc phát triển hoà nhập vào quỹ đạo chung của nền kinh tế toàn
cầu.
Trong các chiến lợc phát triển của các quốc gia đêù đề cập đến xu thế toàn cầu
hoá kinh tế . Vậy toàn cầu hoá kinh tế là gì , có vai trò quan trọng nh thế nào trong
tiến trình phát triển của các quốc gia ?. Trên sách báo và các phơng tiện thông tin đại
chúng đã bàn không ít đến vấn đề này . Tuy vậy , việc nhìn nhận nguồn gốc , bản
đến phá vỡ sự biệt lập của các quốc gia tạo ra sự gắn kết, sự phụ thuộc giữa các
quốc gia dân tộc trong sự vận động phát triển. Với quan niêm nh vây thế giới hoá
cũng có nghĩa là toàn cầu hoá và quốc tế hoá đợc xem nh giai đoạn trớc đó của xu
thế toàn cầu hoá. Quốc tế hoá toàn cầu hoá là một quá trình, và vì vậy nó khác với
vấn đề toàn cầu. Tham gia vào quá trình quốc tế hoá toàn cầu hoá chính là thực hiện
hội nhập quốc tế.
Toàn cầu hoá là một xu hớng bao gồm nhiều phơng diện: Kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội ..vv, là sự gia tăng các mối quan hệ trên các mặt của đời sống xã hội
loài ngời. Trong các mặt đó thì toàn cầu hoá kinh tế vừa là trung tâm vừa là cơ sở và
cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hoá nói chung.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên, điều cần thấy là do thực tế vận động của toàn cầu hoá cùng với
những hệ quả của nó đã đa lại những cách lý giải và thái độ không giống nhau đối
với xu thế này.
Có quan điểm cho rằng toàn cầu hoá chỉ mới xuất hiện gần đây . Sau khi chế
độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu xụp đổ, Mỹ trở thành siêu cờng trên thế giới.Toàn
cầu hoá đợc hiểu là chính sách của Mỹ nhằm bành trớng quyền lực, thống trị thế giới
theo kiểu Mỹ. Thực chất toàn cầu hoá là Mỹ hoá. Quan điểm này không chỉ tồn tại ở
những nớc đang phát triển mà còn có ngay cả ở các nớc phát triển nh Nhật Bản và
Pháp ..vv.
Chúng ta biết rằng sau chiến tranh lạnh, thế giới vận động theo trật tự đa cực
với một siêu cờng là Mỹ. Với sức mạnh của mình, Mỹ đang đóng vai trò chi phối bàn
cờ thế giới. Suốt những thập kỷ sau chiến tranh thế giới thứ II Mỹ luôn chiếm 30%
GDP thế giới. Mỹ là một trong hai siêu cờng hạt nhân trên thế giới và sau khi Nga
khủng hoảng suy yếu thì Mỹ đang có u thế về lĩnh vực này.
Kể từ khi sụp đổ cửa cờng quốc Xô Viết do khuyết tật trong mô hình, cùng sai
lầm trong đờng lối, Mỹ thực sự trở thành một siêu cờng quốc duy nhất, Mỹ đã xúc
tiến một chiến lợc nhằm đề cao vai trò lãnh đạo của mình. Mu đồ của Mỹ là không
để có một kẻ thách thức nào ở lục địa Âu - á nổi lên có đủ khả năng thống trị nơi
rộng. Nếu không có sự phát triển của lực lợng sản xuất, trong đó có sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, nhất là kỹ thuật giao thông đờng thuỷ, đờng sắt ..vv mà sau này
là sự phát triển của khoa học, kỹ thuật viễn thông thì dù có mở cửa thị trờng, có tự do
hoá cũng không thể có sự lu thông các yếu tố sản xuất, con ngời và các mối quan hệ
nói chung giữa các quốc gia, các vùng.
Việc giao lu giữa các vùng đơng nhiên đặt ra nhiều cơ hội cho phát triển sản
xuất kinh doanh, cho việc tìm kiếm lợi nhuận. Chính sự phát triển sản xuất mà qua
đó nhu cầu mở rộng giao tiếp và mở rộng thị trờng ngày càng đợc đẩy mạnh. Sự phát
triển của CNTB (nh Mác đã chỉ ra) luôn bị hai giới hạn bởi thị trờng và nguyện liệu
có nguồn gốc trong kết cấu phát triển của CNTB. Việc tạo ra sự phát triển vợt bậc
của lực lợng sản xuất trong CNTB so với các xã hội trớc đó cũng chính là cơ sở, là
điều kiện cho quá trình bành trớng ra bên ngoài.
Kêu gọi tự do hoá, thâm nhập vào thị trờng các quốc gia nhằm tìm kiếm lợi
nhuận, rõ ràng có nguồn gốc từ bản chất của nền sản xuất TBCN. Sự bành trớng của
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mỹ , mà đợc gọi là Mỹ hoá không chỉ bị phản ứng của các nớc đang phát triển mà
còn của ngay cả các nớc TBCN phát triển, chính là xuất phát từ mục tiêu cạnh tranh
lợi ích , muốn phản kháng lại vai trò của Mỹ với t cách là trọng tài của các cuộc
chơi kinh tế, muốn giành giật ảnh hởng với Mỹ.
Chính do xu hớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá xuất hiện gắn liền với sự hình
thành và phát triển của CNTB mà dẫn đến nảy sinh quan niệm về quốc tế hoá trớc
kia và toàn cầu hoá ngày nay là xu thế lớn của sự vận động nền kinh tế thế giới do
các nớc t bản mà đứng đầu là Mỹ chủ trơng. Từ sự phân tích ở trên chúng ta có thể
thấy rằng quốc tế hoá, toàn cầu hoá thực chất không phải là chủ trơng của một quốc
gia nào. Nhu cầu về tự do hoá và hội nhập đợc đẩy đến bởi sự phát triển của lựclợng
sản xuất do chính CNTB tạo ra.
Loại quan điểm thứ hai là quan điểm thừa nhận tính tất yếu khách quan của
quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Tuy vậy ở đây cũng còn cách lý giải khác nhau.
Có ý kiến cho rằng toàn cầu hoá kinh tế là sự điều chỉnh quan hệ sản xuất, là giải
và giao dịch tài chính phát triển mạnh mẽ vợt biên giới quốc gia.
Trong thời kỳ đầu quá trình quốc tế hóa, các hoạt động kinh tế giữa các quốc
gia mang nặng tính chất phụ thuộc một chiều. Các quốc gia kém phát triển thực hiện
cung cấp nguyên vật liệu cho các quốc gia phát triển cao hơn và thờng là các nớc
thuộc địa vào chính quốc. Mỗi quốc gia phát triển cao hơn đều tìm cách tạo lập cho
mình một khu vực thuộc địa và thực hiện bảo hộ trong khu vực đó. Do vậy, trên thực
tế sản xuất và trao đổi cha có tính toàn cầu. Thế giới bị chia cắt thành nhiều khu vực
thuộc địa và phụ thuộc khác nhau chịu ảnh hởng của từng quốc gia phát triển hơn,
chủ yếu là Pháp, Hà lan, Anh... quan hệ giữa các khu vực này luôn bị kiểm soát và
hạn chế nhằm bảo vệ vùng ảnh hởng và quyền lợi của các cờng quốc thực dân.
Tuy vậy, do sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất cùng với ý thức độc
lập đã đa lại sự phát triển mới của phân công lao động. Các quốc gia vốn trớc là phụ
thuộc sau khi giành đợc độc lập đã chủ động tham gia vào quá trình phân công lao
động quốc tế, tạo ra điều kiện phát triển hơn nữa của quá trình quốc tế hoá. Quan hệ
giữa các quốc gia dân tộc, giữa các nớc phát triển và kém phát triển từ đặc trng phụ
thuộc một chiều chuyển dần sang quan hệ tơng hỗ phụ thuộc lẫn nhau.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II gắn liền với sự phát triển của phong trào giải
phóng dân tộc là hiện tợng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ và ngày càng trở
thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Các phát kiến về khoa học nhanh chóng đợc áp
dụng vào sản xuất đã thúc đẩy phân công lao động phát triển lên một bớc mới. Trên
thực tế quan hệ giữa khoa học công nghệ và sản xuất ngày càng gắn bó chặt chẽ với
nhau. Trong thế kỷ XIX thời gian đa phát minh khoa học vào ứng dụng trong sản
xuất phải mất từ 60 đến 70 năm, đầu thế kỷ XX chỉ còn vài trục năm và trong thập
niên 90 khoảng 3 đến 5 năm. Dự báo sau năm 2000 chỉ còn dới một năm.
Do sự tác động của các thành tựu khoa học kỹ thuật và sự xoá bỏ của hệ thống
thuộc địa và phụ thuộc, nhờ có sự phát triển mạnh mẽ dựa trên phân công lao động
quốc tế mới đã làm gia tăng đáng kể các hoạt động kinh tế quốc tế, thúc đẩy gia
tăng xu thế quốc tế hóa các hoạt động kinh tế.
hiện nay phần nhiều đợc thực hiện hiện qua mạng với các máy vi tính xách tay. Hệ
thống mạng Internet quốc tế hình thành cho phép con ngời có thể biết đợc hầu nh
mọi diễn biến của đời sống kinh tế xã hội trong giây lát. Và chính điều này đã góp
phần nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện cho dân chủ phát triển, thúc đẩy nhu
cầu mở cửa, giao lu hội nhập.
Tóm lại, chính sự phát triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật đã làm phá vỡ
hàng rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con ngời trên tất cả các mặt giữa các
quốc gia. Điều này đã đẩy quốc tế hoá kinh tế lên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu
hoá nền kinh tế thế giới. Các quốc gia dù muốn hay không đều chịu tác động của quá
trình toàn cầu hoá và đơng nhiên để tồn tại, phát triển trong điều kiện hiện nay không
thể không tham gia quá trình toàn cầu hoá, tức phải hội nhập quốc tế.
2 . 2 Thứ hai là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng
Quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát
triển của thị trờng . Chúng ta biết rằng quóc tế hoá nẩy sinh gắn liền với sự hình
thành của thị trờng liên quốc gia. Kinh tế thi trờng càng pháp triển thì nhu cầu về thi
trờng nhiên liệu càng trở thành quan trọng. Kinh tế thị trờng càng phát triển thì có
nghĩa phân công lao động càng sâu sắc, vì vậy các bộ phận, các thị trờng càng gắn
bó phụ thuộc chặt chẽ vào nhau.
Chúng ta biết rằng ở thế kỷ XV-XVI nghề nuôi cừu ở Anh đã trở thành kinh tế
hàng hoá, là điều kiện để nghề dệt len dạ của Anh phát triển, sản phẩm này thờng trở
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thành mặt hàng có u thế lớn với nớc Anh trong ngoại thơng. Để tiếp tục thúc đẩy
phát triển nông nghiệp thơng phẩm, nớc Anh đã tiến hành cách mạng thủ tiêu quan
hệ ruộng đất phong kiến. Với sự biến đổi này, cùng với sự tăng tiến của ngoại thơng
đã thúc đẩy quá trình hình thành nền kinh tế thị trờng khá sớm ở Anh.
Với kinh tế thị trờng đã mở ra điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của sức
sản xuất, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ chế kinh tế theo hớng công nghiệp hoá,
thúc đẩy sự phân công lao động. Sự phát triển mạnh mẽ của Anh trong thế kỷ XIX và
XX cũng gắn liền với sự phát triển của kinh tế thị trờng, của sự bành trớng thế lực
Thụy Điển, mô hình kinh tế thị trờng trong các nớc công nghiệp hoá. Nhìn chung
các mô hình này có những điểm giống và khác nhau. Song suy cho cùng thì đó đều là
nền kinh tế t bản chủ nghĩa.
Bên cạnh những mô hình kinh tế thị trờng nêu trên, vào những thập kỷ sau
cùng của thế kỷ XX nhiều quốc gia vốn trớc đây từ chối nền kinh tế thị trờng đã thực
hiện cải cách, phát triển nền kinh tế thị trờng với những nét đặc thù tuỳ thuộc vào
điều kiện kinh tế cụ thể. Cho tới những năm 80 của thế kỷ XX ta thấy vẫn còn 80%
dân số thế giới sống trong những nớc có sự cách biệt ở mức độ khác nhau với thị tr-
ờng thế giới. Nhng với sự mở cửa của Trung quốc từ tháng 12 năm 1978, sau đó ấn
độ cùng nhiều nớc Mỹ La Tinh, rồi đến các nớc XHCN cũ ở Đông Âu...vv đã làm
mở rộng không gian của nền kinh tế thị trờng thế giới. Có thể nói ngày nay nền kinh
tế thế giới thống nhất ở cơ chế vận hành: cơ chế thị trờng. Đây chính là cơ sở cho sự
gia tăng của xu thế toàn cầu hoá kinh tế.
Kinh tế thị trờng phát triển thì sự giao thoa, xâm nhập lẫn nhau giữa các nền
kinh tế ngày càng gia tăng. Có thể nói ngày nay không có một nền kinh tế thị trờng
dân tộc thuần khiết. Chẳng hạn cho đến năm 1988 Nhật đã chiếm 35 % tổng vốn đầu
t nớc ngoài ở Mỹ, còn EU chiếm 19,3%. Theo số liệu thống kê đầu t nớc ngoài vào
Mỹ từ thập kỷ 70 đến nay có sự gia tăng. Năm 1970 đầu t nớc ngoài chiếm 4 % tổng
tài sản của Mỹ, năm 1984 là 7,6 % và đến năm 1988 tăng lên 37 %. Tổng tài sản nớc
ngoài ở Mỹ hiện nay lên đến 5800 tỷ USD, so với GDP của Mỹ là 7575 tỷ USD, tức
là bằng 76,5 %. Năm 1998 nếu chỉ tính tám nớc thành viên EU (Anh, Đức, Hà Lan,
Thụy Sỹ, Pháp, Bỉ, ý, Thuỵ Điển và Ai Len) đã có 151 công trình đầu t vào Mỹ với
tổng doanh thu 530 tỷ USD. Ngay nh Nhật Bản, một quốc gia vốn hạn chế đầu t nớc
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngoài thì đến năm 1999 tỷ lệ vốn đầu t nớc ngoài đã chiếm 24 % tổng vốn đầu t vào
các doanh nghiệp Nhật Bản. So với 10 % trong những thập niên trớc đây. Toyota một
hãng lớn của Nhật và thế giới, mức sản xuất ôtô hiện nay ở nớc ngoài đúng bằng
khối lợng ôtô xuất khẩu đợc của hãng sắn sàng tại Nhật Bản. Ngợc lại ngành công
nghiệp sản xuất ôtô của Mỹ sẽ bị sụp đổ nếu không còn điều kiện nhập các linh kiện
con rải rác ở khắp các quốc gia trên địa cầu. Với một mạng lới rộng khắp nh vậy,
hoạt động của chúng thực sự tác động đến nền kinh tế toàn cầu. Chúng kéo theo các
nền kinh tế quốc gia vào vòng chu chuyển của mạng lới công ty. Hiện nay các công
ty xuyên quốc gia kiểm soát 80% công nghệ mới, 40 % nhập khẩu, 60 % xuất khẩu,
90% đầu t trực tiếp nớc ngoài và sử dụng 34,5 triệu lao động . Khoảng 500 công ty
lớn kiểm soát tới 25% tổng sản phẩm thế giới và giá trị trao đổi của chúng tơng đ-
ơng 3/4 giá trị thơng mại toàn cầu.
Với sức mạnh nh vậy , các công ty xuyên quốc gia không những có u thế phân
phối tài nguyên trong phạm vi thế giới giúp cho việc thúc đẩy phân công lao động
quốc tế đi vào chi tiết hoá mà còn thông qua việc toàn cầu hoá sản xuất và kinh
doanh quốc tế để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới .
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia trên địa phận toàn cầu
đã tạo ra mạng lới liên kết kinh tế quốc tế . Các quốc gia có thể tham gia ngay vào
dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau gia tăng
. Chẳng hạn công ty xuyên quốc gia Boeing của Mỹ đã sử dụng tới 600 công ty ở
nhiều nớc khác nhau cùng thực hiện sản xuất các bộ phận của máy bay Boeing. Thực
tế là vấn đề xuất xứ quốc gia trong hàm lợng của một sản phẩm đã trở nên phức tạp
đến mức dờng nh không thể xác định một cách chính xác .
Các công ty xuyên quốc gia đã đóng góp quan trọng vào thúc đẩy liên kết sản
xuất , tăng trởng thơng mại đầu t và chuyển gao công nghệ quốc tế .
Các TNC thờng tập trung vào lĩnh vực chế tạo và hớng vào xuất khẩu . Trong
hơn một thập niên gần đây giá trị thơng mại của các TNC trên thế giới đã tăng lên
một cách mạnh mẽ, từ 2,426 tỷ USD năm 1982 lên đến 6,412 tỷ USD năm 1994 , tức
tăng trên 2,6 lần. Đáng chú ý là mức tăng giá trị thơng mại của các chi nhánh TNC ở
khu vực Đông Nam á đạt mức cao nhất, từ 193 tỷ USD lên 871 tỷ USD trong cùng
thời gian trên.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vai trò trong thơng mại thế giới của các TNC còn thể hiện ở lợng giá trị thơng
mại đợc thực hiện trong nội bộ các TNC . Nhìn chung mức trao đổi nội bộ giữa các
bao gồm cả những lĩnh vực có trình độ chuyên môn cao, đầu t cả trong sản xuất sản
phẩm hữu hình và vô hình. Điều này tác động rất lớn đến qúa trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế-xã hội của các quốc gia đang phát triển thúc đẩy các nớc nâng dần mức
độ tự do hoá đầu t.
Việc gia tăng các hoạt động TNC ở các quốc gia đang phát triển còn đóng góp
quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ quản lývà chuyển
giao các công nghệ hiện đại. Đây là những mặt rất quan trọng để các quốc gia đang
phát triển nâng cao trình độ phát triển của mình, từng bởc rút ngắn khoảng cách phát
triển.
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia từ chiến tranh thế giới lần
thứ hai đến nay có nhiều lý do. Trớc hết phải thấy là các công ty xuyên quốc gia có
chiến lợc phát triển phù hợp với xu thế quốc tế hoá, toàn cầu kinh tế. Các TNC đã
dựa vào các u thế về vốn, kỹ thuật, nguồn thông tin để thiết lập các chi nhánh khác
nhau ở các nơi có điều kiện thuận lợi nhất cho việc sản xuất gia công, lắp ráp. Hơn
nữa với chiến lợc kinh doanh tổng hợp nó cũng tạo điều kiện cho việc sử dụng và
phân bổ nguồn vốn hợp lý, tạo sự đan xen các chu kỳ sản xuất kinh doanh của các
sản phẩm, phân tán rủi ro, hỗ trợ lẫn nhau. Do sự tồn tại các chi nhánh khác nhau ở
nhiều vùng, quốc gia với những nhu cầu đa dạng, với những trình độ sản xuất và tiêu
dùng khác nhau cho nên có thể luân chuyển sản phẩm trong nội bộ công ty, kéo dài
chu kỳ của sản phẩm , góp phần gia tăng lợi nhuận. Điều đáng nói nữa là bản thân
các TNC đều rất chú trọng nghiên cứu sáng chế sản phẩm, mẫu mã mới, đổi mới qui
trình công nghệ. Đây chính là một thế mạnh và là điều kiện quan trọng bảo đảm cho
sự phát triển mạnh mẽ của các TNC.
Điều cần thấy là trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt , muốn
có đợc u thế đòi hỏi các TNC phải gắn chặt hoạt động kinh doanh với nền kinh tế
toàn cầu , đồng thời phải xem và thực sự tạo lập cho đợc không gian kinh tế có có
tính hệ thống toàn cầu để thực hiện các hoạt động kinh doanh sản xuất , đầu t ở
mọi vùng , kết hợp phân công hợp tác trong nội bộ và với các đơn vị ngoài công ty ,
tức phải có chiến lợc kinh doanh toàn cầu . Các TNC trong những năm qua đã đẩy
mạnh triển khai chiến lợc nh vậy , bao gồm một số nội dung nh : thứ nhất là thực
ra yêu cầu về hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đổi mới nguyên tắc hoạt động của chúng .
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
a) Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) có thể khẳng định là một tổ chức kinh tế có
vai trò hàng đầu trong thức đẩy sự phát triển của xu hớng toàn cầu hoá kinh tế .
WTO mà tiền thân là hiệp định về thuế quan và mậu dịch (GATT) ra đời năm 1947
nh một luật lệ quốc tế định ra luật lệ cho mậu dịch thế giới , chủ yếu là để ký kết các
hiệp định giảm thuế quan và những hạn chế khác đối với những sản phẩm chế tạo
của các nớc đã công nghiệp hoá . Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
thế giới , vai trò của các quốc gia đang phát triển tăng lên , những qui định của
GATT ngày càng bộc lộ những bất hợp lý . Ngày 1/1/1995 WTO ra đời thay cho
GATT . WTO có chức năng điều hành và thực thi các hiệp định thơng mại đa phơng
và hiệp định giữa một số bên cấu thành WTO , WTO hoạt động với tính chất một
diễn đàn cho các cuộc thơng lợng mậu dịch đa phơng , tìm kiếm các giải pháp xử lý
tranh chấp thơng mại giám sát các chính sách thơng mại quốc gia và hợp tác với các
thiết chế quốc tế khác liên quan tới việc hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu .
Với chức năng trên thực tế trong thời gian hoạt động của mình GATT/WTO đã
đóng góp đáng kể vào tự do hoá thơng mại toàn cầu .Tất nhiên lợi ích của quá trình
này , luật chơi của GATT/WTO còn nhiều vấn đề phải bàn cãi , song thực tế dờng
nh tất cả các quốc gia ( cả phát triển và đang phát triển ) đều muốn trở thành thành
viên của WTO .
Không chỉ thông qua các hoạt động điều phối hệ thống mậu dịch thế giới để đẩy
mạnh quá trình tự do hoá mà bản thân quy định của WTO trong điều kiện gia nhập
cũng bắt buộc các quốc gia phải điều chỉnh tiến trình hội nhập cho phù hợp .
WTO qui định các nớc gia nhập phải thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ pháp lý theo
các hiệp định hiện có của WTO và vì vậy cần phải điều chỉnh những quy định, luật lệ
quốc gia cho phù hợp với thông lệ chung của quốc tế , tất nhiên theo những lộ trình
phù hợp với quy định của WTO . Bên cạnh đó các quốc gia tham gia vào WTO phải
cam kết mở của thị trờng hàng hóa và dịch vụ . Những quy định này thực tế thúc đẩy
các quốc gia tham gia vào quá trình toàn cầu hoá .
hoảng kinh tế ở Mêhico và ở một số nớc Châu á những năm vừa qua là một ví dụ .
c) Liên hợp quốc , cùng với vai trò của các định chế có tính toàn cầu nh trên ,
việc thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế , không thể khong nói đến vai trò của
25