Phân tích quan niệm Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội.Vận dụng tư tưởng đó trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA TÀI CHÍNH
BÀI TẬP NHÓM
MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: Phân tích quan niệm Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ
nghĩa xã hội.Vận dụng tư tưởng đó trong công cuộc xây dựng đất nước hiện
nay?
Giảng viên : Ths Bùi Thọ Quang
Sinh viên thực hiện : Nhóm 2
Lớp : 42

Hà Nội 10/2011
1
Đề tài: Phân tích quan niệm Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ nghĩa
xã hội.Vận dụng tư tưởng đó trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay?
Tên thành viên :
1. Ma Thị Nguyệt Hằng
2. Bùi Thị vân Anh
3. Hàn Mạnh Cường
4. Nguyễn Thế Vinh
5. Đinh Hồng Hạnh
6. Nguyễn Thị Hạnh
7. Lê Thị Hậu
8. Trần Thị Hoài
9. Phạm Việt Hùng
10.Lê Thị Thùy Linh
11.Hoàng Bảo Ngọc
12.Nguyễn Phương Nhung
13.Bùi Thị Sông Bé Thanh
14.Nguyễn Thị Phương Thảo(TCDND)

do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để chi tiêu, hoạt động; nhà nước đó lại do dân phê
bình xây dựng, giúp đỡ. Do đó Bác yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa
vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của
nhân dân. “nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” nghĩa là khi
3
cơ quan nhà nước không đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân
có quyền bãi miễn nó. Hồ Chí Minh khẳng định: mỗi người có trách nhiệm “ghé vai
gánh vác một phần” vì quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm,
nghĩa vụ.
3.Thế nào là nhà nước vì dân?
Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không
có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính. Trong nhà nước đó,
cán bộ từ chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân.
“Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm,
Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”
Hồ Chí Minh chú ý mối quan hệ giữa người chủ nhà nước là nhân dân với cán bộ
nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân thừa uỷ quyền. Là người
phục vụ, nhưng cán bộ nhà nước đồng thời là người lãnh đạo , hướng dẫn nhân dân.
“Nếu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ
thì nhân dân không ai dẫn đường”
Cán bộ là đày tớ của nhân dân là phải trung thành, tận tuỵ, cần kiệm liêm chính ,
là người lãnh đạo thì phải có trí tuệ hơn người, sáng suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi
với dân, trọng dụng hiền tài Cán bộ phải vừa có đức vừa có tài.
“ Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tàng liên minh
công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo”.
Trong nhà nước mọi công dân đều có quyền tham gia bầu cử, ứng cử và kiểm soát
đối với đại biểu do mình bầu ra
 Nhà nước có 2 chức năng:
• Dân chủ vs nhân dân: phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của
nhân dân.Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân. HCM chỉ rõ:

3.Cách bóc lột theo CNTB được bỏ dần.
Theo ngưới: CNXH chỉ có thể thắng CNTB khi nó có nền kinh tế phát triển cao, khi
CNXH có năng suất lao động cao hơn hẳn CNTB
5
Hồ Chí Minh căn dặn: “Chủ và thợ đều phải nhớ rằng: tăng gia sản xuất chẳng
những có lợi riêng cho chủ và thợ, mà còn có lợi chung cho nền kinh tế của Tổ quốc,
lợi chung cho toàn thể đồng bào”
4. Đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện.
CNXH có nền KT phát triển cao, dựa trên LLSX hiện đại và chế độ công hữu
về TLSX là chủ yếu, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động
Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng dân làm gốc được hiểu theo cả hai mặt: phải dựa vào dân
để phát triển kinh tế và phát triển kinh tế là để phục vụ dân. Chính Hồ Chí Minh đã
giải thích mối quan hệ này:“Dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây
hạnh phúc cho dân…”.
“Muốn tăng gia sản xuất phải làm thế nào? Không phải Chính phủ bỏ 10 -15 triệu để
mở nhà máy, làm thế này thế khác; phải đem hết sức dân, tài dân, của dân… làm cho
dân”.
5. Kết hợp các loại lợi ích kinh tế là vấn đề rất được Hồ Chí Minh quan tâm.
Người đặc biệt nhấn mạnh chế độ khoán là một trong những hình thức của sự kết
hợp lợi ích kinh tế. Nền tảng kinh tế XHCN là chế độ sở hữu XHCN về những tư liệu
sản xuất chủ yếu và chế độ phân phối cho lao động. Đương nhiên Hồ Chí Minh hiểu
được rằng thuê nhân công là bóc lột. Nhưng ông không nhìn sự bóc lột đó với thái độ
phủ định một cách đơn giản và máy móc, mà có cân nhắc sự lợi hại đối với sự phát
triển kinh tế và đời sống nhân dân.
Một thí dụ điển hình là trong trận lụt năm 1945, vấn đề khẩn cấp là phải đắp lại
những con đê đã vỡ, nếu lụt thì lút cả làng. Nhưng đắp đê là một vấn đề kỹ thuật phức
tạp phải có các nhà thầu khoán. Lúc đó cũng đã xuất hiện những ý tưởng tả khuynh
cho rằng dùng thầu khoán là bóc lột. Hồ Chí Minh đã giải tỏa tư tưởng này: “Thầu
khoán tất nhiên là có bóc lột, nhưng thầu khoán đắp đê lúc này là yêu nước”.

v VH bỏc hc), trỏnh ph nh sch trn. Cng thm nhun ch ngha Mỏc-Lờnin
bao nhiờu thỡ cng phi coi trng nhng truyn thng vn hoỏ tt p ca cha ụng
by nhiờu
7
b) Hc theo vn húa tiờn tin trờn th gii
Mun nõng mỡnh lờn thỡ phi m ca hi nhp vo th gii, tip thu tinh hoa
VH nhõn loi, cn phi lm giu VH ca mỡnh bng tinh hoa ca mi dõn tc trờn th
gii.
Ni dung tip thu l phi giao lu, nh Bỏc H ó tip thu CN Mỏc Lờ Nin lý
lun tiờn tin ca thi i.
Tip thu VH th gii nhng phi cú nhim v b sung vo nn VH chung ca
th gii, phi gi gỡn cho c bn sc VH dõn tc Vit Nam.
Th gii cú hn 200 nc, ch cú 33 nn VH, trong ú VN l 1 trong 33 nn
VH. õy l niềm tự hào lớn của ngời Việt Nam Vn hoỏ Vit Nam nh hng ln
nhau ca vn hoỏ ụng phng v Tõy phng chung ỳc liTõy phng hay
ụng phng cú cỏi gỡ tt ta phi hc ly phi to ra mt nn vn hoỏ Vit Nam.
Ngha l ly kinh nghim tt ca vn hoỏ xa v vn hoỏ nay trau di cho vn hoỏ
Vit Nam tht cú tinh thn thun tuý Vit Nam hp vi tinh thn dõn ch
2. Phải làm cho nền văn hoá gắn liền với lao động sản xuất, gắn với con ngời.
i tng phn ỏnh ca vn húa l cuc sng lao ng chin u hc tp ca
mi tng lp nhõn dõn, phn ỏnh tõm t nguyn vng, khỏt vng ca qun chỳng, ũi
hi cỏc vn ngh s phi i sõu lt t.
Nhõn dõn l ch th sỏng to vn húa. Nhng sn phm vn húa ca qun
chỳng l nhng viờn ngc quý cn trõn trng, gỡn gi v phỏt huy
Vn húa phi phc v ngi dõn, ngi dõn c quyn hng th cỏc giỏ tr vn
húa, phc v nhõn dõn c tt thỡ vn húa phi thc hin:
- VH gúp phn bi dng t tng ỳng n, tỡnh cm cao p
- VH gúp phn nõng cao dõn trớ
- VH gúp phn bi dng phm cht tt p cho con ngi, khụng ngng
hon thin nhõn cỏch con ngi gúp phn phỏt trin t nc

cần xây dựng ,hoàn thiện chế độ dân chủ rộng rãi và xây dựng các tổ chức đảng ,nhà
nước,mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội vững mạnh để đảm bảo dân chủ trong
xã hội.
9
Thứ nhất xây dựng , hoàn thiện chế độ dân chủ rộng rãi.Ngay từ năm 1941 Hồ
Chí Minh đã đưa ra một chế độ dân chủ cộng hòa cho nước ta sau khi cuộc cách
mạng do nhân dân thắng lợi.Đó là thực hiện mục tiêu dân chủ,xác định rõ quyền và
trách nhiệm của nhân dân trước vận mệnh của nước nhà;gắn với độc lập tự do của tổ
quốc với quền lợi của từng người dân.Với thắng lợi của cách mạng tháng tám năm
1945,một tuyên bố về chế độ dân chủ cộng hòa ,trong đó các giá trị về dân chủ được
gắn liền với đất nước tự do,hạnh phúc.
Dân chủ ở Việt Nam mới được thể hiện và đảm bảo trong hiến pháp do Hồ Chí
Minh chủ trì xây dựng và được quốc hội thong qua.Hiến pháp năm 1946 đặt cơ sở
pháp lý đầu tiên cho việc thực hiện quyền lực của nhân dân.
Với trách nhiệm chủ trì hiến pháp năm 1959, Hồ chí minh một lần nữa khẳng định
quan điểm bảo đảm quyền dân chue trong việc xác lập quyền lực cho nhân dân trong
hiến pháp.Đặc biệt điểu 6 ghi rõ “tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào dân,
lien hệ chặt chẽ với nhân dân,lắng nghe ý kiến của dân và chịu sự kiểm soát của
nhân dân.Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành vowid nhân
dân, tuân theo hiến pháp và pháp luật,hết long phục vụ nhân dân”.
Hồ Chí Minh chú trọng đảm bảo quyền lực của các giai cấp,tầng lớp,các cộng đòng
dân tộc trong thể chế chính trị nước ta.Đối với giai cấp công nhân Hồ Chí Minh
khẳng định công nhân có quyền thực sự trong xí nghiệp và tự làm chủ về tư liệu sản
xuất , họ phải được làm chủ trong việc quản lí ,làm chủ trong việc phân phối sản
phẩm lao đọng.
Thứ hai là xây dựng các tổ chức đảng ,nhà nước,mặt trận và các đoàn thể chính trị
xã hội vững mạnh để đảm bảo dân chủ trong xã hội.Trong việc xây dựng nền dân chủ
ở Việt Nam,chú trọng tới việc xây dựng đảng với tư cách đảng cầm quyền đảng lãnh
đạo nhà nước.;xây dựng nhà nước của dân do dân vì dân;xây dựng mặt trận với vai
trò lien minh chính trị tự nguyện của tất cả các tổ chức chính trị xã hội vì mục tiêu

chính trị ổn định mà chúng ta đang hướng tới cùng với một nền knh tế phát triển
nhanh và bền vứng trong tương lai.
V. Mục tiêu về con người XNCN
11
1.Con người là mục tiêu quyết định
Theo Người: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là
làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc
làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc"; "Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao
đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho
nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp
Vai trò của con người trong sự nghiệp xây dựng CNXH
a.Trong lĩnh vực kinh tế:
con người là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại
Trong quá trình xây dựng cnxh người lao động trở thành những người làm chủ
đất nước,làm chủ trong qua trình tổ chức quản lý sản xuất và làm chủ trong quá trình
phân phối sản phẩm
Con người là nguồn nhân lực - động lực phát triển phát triển của toàn bộ xã hội
nói chung và CNH,HĐH nói riêng
b.Trong lĩnh vực chính trị :
Nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nhà nước
XHCN, đâud tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù
c.Trong lĩnh vực văn hoá :
-Nhân dân lao động trở thành người làm chủ trong đời sống văn hoá xã hội
Góp phần xây dựng nên những công trình văn hoá,sáng tạo ra các tác phẩm
nghệ thuật có giá trị nhằm giáo dục đạo đức,hình thành nhân cách cho mỗi con người
trong xã hội
d.Trong lĩnh vực xã hội:
Con người là chủ thể của quá trình sản xuất tinh thần của xã hội
Phát huy tốt nguồn lực con người góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội:vấn
đề lao động việc làm,công bằng xã hội,xoá đói giảm nghèo

giáo dục hệ tư tưởng (chủ nghĩa Mác-lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của
Đảng) với giáo dục lòng tự hào dân tộc và các truyền thống yêu nước, kiên cường, bất
13
khuất, tự lực, tự cường, nhân nghĩa và thông minh sáng tạo, đồng thời động viên toàn
dân vươn tới tiếp cận những đỉnh cao văn minh nhân loại, tiếp thu những thành tựu
khoa học công nghệ, những giá trị văn hoá nghệ thuật tiên tiến trên thế giới.
-Đảng viên là hạt nhân trong đội ngũ cán bộ của bộ máy Nhà nước và các tổ
chức chính trị xã hội. Quan điểm "Đảng viên đi trước, làng nước theo sau" không bao
giờ lỗi thời, giờ đây đang cần toàn đảng nghiêm chỉnh thực hiện để khôi phục lại lòng
tin của quần chúng, khắc phục hiện tượng dân chỉ tin đảng nói chung, không còn
nguyên vẹn niềm tin đối với những đảng viên cụ thể. Giải pháp nêu gương trong xây
dựng con người không phát huy được hiệu quả, cũng như trong sự nghiệp cách mạng,
ở chiến lược xây dựng con người, xây dựng đảng luôn luôn giữ vai trò then chốt. (tr
265, 266, Hồ Kiếm Việt).
- Bên cạnh công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên thì tư tưởng Hồ Chí
Minh cũng đề cập đến vấn đề cấp bách là phải giáo dục tư tưởng cho thanh niên học
sinh, sinh viên, đặc biệt là về chính trị. Đối với họ, chính trị đứng ngoài cuộc sống
hằng ngày, đó là công việc của chính khách, của các lãnh tụ, của các nhà ngoại giao,
của các tổ chức chính trị, các đảng phái, sự tham gia chính trị vào công việc của họ
chỉ làm rắc rối thêm các mối quan hệ.
Tóm lại, những luận điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới
phù hợp với sự phát triển của đất nước là cơ sở phương pháp luận cho thực hiện mục
tiêu xây dựng con người mới XHCN trong giai đoạn phát triển mới của cách mạng
nước ta.
Phần II: ĐỘNG LỰC CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH
I. Động lực là gì?
Động lực là động cơ thúc đẩy tất cả các hành động của con người. Đây là một trạng
thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích.
Nền tảng của động lực là các cảm xúc, mà cụ thể, nó dựa trên sự né tránh, những trải

1
.
Phát huy sức mạnh của con người với tư cách cá nhân người lao động.
Sức mạnh cộng đồng được hình thành từ sức mạnh của cá nhân, thông qua sức mạnh
của từng cá nhân. Do đó, muốn phát huy được sức mạnh của cả cộng đồng, phải tìm
ra các biện pháp khơi dậy, phát huy động lực của mỗi cá nhân.
15
Hồ Chí Minh đã đề cập một hệ thống nội dung, biện pháp, vật chất và tinh thần, nhằm
tác động vào đó, tạo ra sức mạnh thúc đẩy hoạt động của con người cho chủ nghĩa xã
hội.
1.2.1 Tác động vào nhu cầu và lợi ích của con người.
Sinh thời Hồ Chí Minh, vấn đề lợi ích vật chất chưa phải là nhân tố có sức kích thích
như trong cơ chế thị trường hiện nay. Tuy nhiên là nhà duy vật mác xít, Hồ Chí Minh
hiểu hành động của con người luôn luôn gắn với nhu cầu và lợi ích của họ. Trong đấu
tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã huy động sức mạnh lý tưởng cũng như đem
lại lợi ích vật chất cho cả cộng đồng và mỗi cá nhân. Đi vào chủ nghĩa xã hội là đi vào
một trận tuyến mới, do đó theo Người cũng phải biết kích thích những động lực mới
đó là lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động. Một trong những lợi ích đó được
thể hiện ở mặt kinh tế - động lực cũng chiếm một phần quan trọng trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có tác dụng
giải phóng mọi năng lực sản xuất vì ích nước, lợi nhà. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí
Minh vẫn thường nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và toàn thể nhân dân ta rằng, phải làm thế
nào để nông thôn tiến kịp thành thị, miền núi tiến kịp miền xuôi về mọi mặt, nền kinh
tế phát triển bền vững, tự chủ, đồng bào ai cũng được ấm no, hạnh phúc. Nghĩa là
tăng trưởng kinh tế phải luôn luôn gắn liền với tiến bộ xã hội. Cũng theo Người,
muốn tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh và vững chắc thì phải sử dụng hợp lý các đòn
bẩy kinh tế, muốn đẩy mạnh tiến bộ xã hội, phải thực hiện thi đua yêu nước.
Trong giai đoạn đất nước còn gặp nhiều khó khăn (những năm 60), Hồ Chí Minh đã
từng nói rằng: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ
lòng dân không yên”. Do đó, để phát triển kinh tế nhanh, mạnh và vững chắc chúng

giúp tăng mức sống của người lao động mà còn kéo mức sống thụt lùi. Điều đó cũng
nói lên rằng sản xuất không tăng, kinh tế kém phát triển. Như vậy, theo Hồ Chí Minh
chính sách tiền lương cũng là một trong những động lực quan trọng của phát triển
kinh tế. Bởi, như trên đã nói, tiền lương chính là thước đo của giá trị sức lao động mà
người lao động đã bỏ ra. Và nếu đồng lương không tương xứng với giá trị sức lao
động thì những tư liệu sinh hoạt cần thiết của người lao động cũng không được đáp
ứng. Điều này sẽ dẫn tới việc đánh mất đi động lực của quá trình sản xuất, và nền
kinh tế tất yếu sẽ bị ngưng trệ. Không chỉ vậy, tiền lương không thích hợp nó còn là
một trong những nguyên nhân của rất nhiều căn bệnh như tham ô, tham nhũng.
17
Thứ hai, không chỉ có tiền lương, chính sách khoán cũng là một trong những đòn
bẩy kinh tế đem lại lợi ích cho tập thể và người lao động. Khi nói về chế độ làm
khoán Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chế độ làm khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã
hội, nó khuyến khích người công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ. Làm
khoán là ích chung và lại lợi riêng. Công nhân sản xuất ra nhiều vải, cố gắng nhiều
hưởng được nhiều; làm khoán tốt thích hợp và công bằng dưới xã hội ta hiện nay. Nếu
người công nhân nào thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu tinh thần kỷ luật thì làm cho
mau nhưng không tốt, như vậy là không đúng và làm khoán phải nâng cao số lượng,
nhưng luôn luôn phải giữ chất lượng”. Với một đoạn văn ngắn gọn, dễ hiểu, Hồ Chí
Minh đã trình bày một cách khái quát và hàm súc vai trò đòn bẩy kinh tế của chế độ
khoán đối với việc phát triển kinh tế - xã hội. Chế độ làm khoán ở đây là chế độ
khoán sản phẩm, chứ không phải khoán trắng, bởi, trên thực tế yếu tố chất lượng và
yếu tố số lượng phải luôn đi đôi với nhau, trong đó yếu tố chất lượng là yếu tố hàng
đầu. Theo Hồ Chí Minh, giá trị của khoán sản phẩm không chỉ đem lại lợi ích về thu
nhập, mà chủ yếu và sâu xa là sự tiến bộ của công nhân và phát triển của nhà máy,
đặc biệt nó còn có ý nghĩa giáo dục tinh thần trách nhiệm và kỷ luật lao động. Hay nói
cách khác, khoán là biện pháp tích cực để giáo dục và xây dựng tác phong công
nghiệp cho người lao động. Khi nói khoán là đòn bẩy kinh tế bởi vì, nó có ý nghĩa
khuyến khích tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế. Quay
trở lại với phương châm “nhiều, nhanh, tốt, rẻ”, của Hồ Chí Minh thì khoán vừa là

trụ sở tiêu tốn nhiều tiền của công quỹ. Cải cách hành chính là đòn bẩy kinh tế, vì cải
cách hành chính như một biện pháp tiết kiệm sức người, sức của. Mấu chốt của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta như Hồ Chí Minh đã khẳng định: đó là tăng
gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, để xây dựng cơ sở vật chấy kỷ thuật và tiến hành
công nghiệp hoá nước nhà. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm theo Hồ Chí
Minh luôn luôn là những nhiệm vụ hàng đầu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Cải cách hành chính thực chất cũng nhằm thực thi hai nhiệm vụ là tăng gia sản
xuất và thực hành tiết kiệm. Khi nói về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Gián tiếp sản xuất cũng cần phải có người làm bàn giấy, tính toán, đánh máy….mới
phục vụ cho người trực tiếp sản xuất, nhưng nhiều quá có bao nhiêu lãi chén hết. Bây
giờ nhà máy số gián tiếp sản xuất còn nhiều quá”. Như vậy, việc giảm cán bộ gián
tiếp của bộ máy quản lý thự c chất là cải cách hành chính, là công việc phải làm
thường xuyên, để làm cho bộ máy nhà nước
19
không rơi vào tình trạng quá cồng kềnh , gây lãng phí sức người , sức của, trở thành
gọn nhẹ mà công việc vẫn đượ c thự c hiệ n mộ t cách có hiệu quả.
Thứ năm, thực hiện công bằng xã hội trong lưu thông phân phối cũng là động
lựccủa phát triển kinh tế. Bởi vì, tổ chức lưu thông phân phối cũng góp phần nâng cao
năng suất và hiệu quả kinh tế. Hoạt động lưu thông phân phối không thể thiếu được
trong nền kinh tế. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt
quan trọng: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Ba mặt công tác liên hệ mật
thiết với nhau. Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp. Thương
nghiệp đưa hàng
đến nông thôn phục vụ nông dân; thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu cho
thành thị tiêu dùng. Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông
nghiệp với công nghiệp, không cũng cố được công nông liên minh. Công thương
nghiệp không chạy thì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp sẽ bị rời rạc”. Cũng như
trong quá trình sản xuất, đồng vốn không được để ứ đọng thì quá trình lưu thông phân
phối cũng không được để ách tắc. Như cơ thể con người, muốn khỏe mạnh thời phải
thông khí huyết, bế là sinh bệnh tật, thứ bệnh của lưu thông phân phối gây bế tắc là

dân chủ, cán bộ, đảng viên xung phong gương mẫu thì mọi kế hoạch sản xuất sẽ được
thực hiên thắng lợi.
Đồng thời, Người nhắc nhở phải quan tâm bồi dưỡng ý thức dân chủ, tâm lý làm chủ
của người lao động mới. Đã là người làm chủ thì phải coi “hợp tác xã là nhà, xã viên
làm chủ”, “quý trâu như bạn”,…Người làm chủ là người tự lực, biết lo toan, gánh vác,
không ỷ lại, trông đợi, người làm chủ là người biết kinh doanh, biết quản lý, biết sử
dụng hợp lý sức lao động,.v v
1.2.2.2 Sử dụng vai trò điều chỉnh của các nhân tố tinh thần khác: chính trị, văn hoá,
đạo đức, pháp luật…
Để tác động vào tính tích cực xã hội của con người Hồ Chí Minh nhắc nhở cũng phải
biết tác động một cách toàn diện:
• Lý tưởng chính trị.
Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, “cần có ý thức giác ngộ xã hội chủ
nghĩa cao, một lòng một dạ phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội”
4
. Những biến động của hệ
thống xã hội chủ nghĩa những năm qua cho thấy: nếu không có những con người kiên
trì phấn đấu cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa thì chủ nghĩa xã hội cũng không tồn tại
được.
• Phát triển khoa học – kỹ thuật.
Coi trình độ phát triển của khoa học - kỹ thuật tương ứng với trình độ phát triển của
xã hội, ngay từ khi nước ta còn hét sức nghèo nàn, lạc hậu, Người đã đặc biệt quan
21
tâm phát triển khoa học - kỹ thuật. Người nhấn mạnh rằng, chúng ta chỉ có thể xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên cơ sở một nền khoa học - kỹ thuật tiên tiến.
Cần phải thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động.
Ngay từ kế hoạch năm năm lần thứ nhất, Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm việc tiến
hành cách mạng khoa học - kỹ thuật, từng bước thực hiện công nghiệp hoá đất nước.
Người coi khoa học - kỹ thuật là then chốt của công nghiệp hoá, là lực lượng làm tăng
sức sản xuất, tạo ra động lực làm chuyển biến nền kinh tế - xã hội, thay đổi quan hệ

những
nguyên tắc giải phóng năng lượng lớn lao của tuyệt đại bộ phận nhân dân lao động
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tính chất đó của nền văn hoá sẽ phát
huy cao độ nội lực trong việc tiếp thu, tiếp biến các giá trị phổ biến của nhân loại, làm
sâu sắc và đậm đà thêm bản sắc văn hoá Việt Nam, tạo sức mạnh to lớn cho sự phát
triển xã hội.
• Pháp lý - đạo đức.
Sống trong xã hội, con người chịu sự ràng buộc của các quan hệ xã hội, trong đó có
quan hệ pháp lý – đạo đức. Con người được giáo dục về đạo đức thì nhu cầu hướng
thượng lại càng cao, càng muốn theo đuổi những giá trị cao đẹp như chân lý, chính
nghĩa, tự do, công bằng, dân chủ, nhân đạo,… Nhờ đó, lao động, cống hiến của họ
cho chủ nghĩa xã hội càng tích cực, tự giác hơn.
Sự phát triển xã hội và một xã hội phát triển, theo Hồ chí Minh, tất cả đều quy tụ ở
vấn đề con người. Mục tiêu phát triển của một xã hội theo hướng nhân văn là đáp ứng
mọi khát vọng chính đáng của con người, tạo điều kiện cho con người ngày càng phát
triển toàn diện - hài hoà như một chủ thể văn hoá. Mặt khác, xã hội đó lại do chính
bản thân con người làm ra với tư cách là chủ thể lịch sử, chủ thể xã hội. Con người tự
đặt ra mục đích và đồng thời là người thực hiện những mục đích đó. Một xã hội có thể
phát triển phải đi trúng mục tiêu con người với hai khía cạnh và hai ý nghĩa cơ bản
này. Do vậy, trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đặt con
người ở vị trí trung tâm. Ở Hồ Chí Minh, phát triển không chỉ là các yếu tố tạo nên
động lực phát triển, mà còn là tổng hoà của tất cả các mối quan hệ trong một môi
trường tổng thể với sự tác động nhiều chiều, đa dạng và biện chứng.
1. Động lực bên ngoài.
Ngoài các động lực bên trong, theo Hồ Chí Minh , phải kết hợp được với các yếu
tố bên ngoài đó là sức mạnh thời đại , tăng cường đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu
23
nước phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, phải sử dụng
thành quả khoa học – kỹ thuật thế giới… qua đó ta có thể tranh thủ các điều kiện
kinh tế thuận lợi, tận dụng tối đa sức mạnh của thời đại. Ngày nay, sức mạnh thời

khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng
cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân cũng giống như
cỏ dại sinh sôi nảy nở rất dễ”.
7
2. Phải đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận ra tính nghiêm trọng của tham ô, lãng phí và quan
liêu. Nó là kẻ thù nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang sung và nằm trong tổ
chức Đảng, chính quyền để làm hỏng công việc của bộ máy chính quyền, làm hỏng
tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ, Đảng viên, đồng thời phá hoại đạo
đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính…Vì vậy, Người coi nó là một thứ giặc trong
lòng “giặc nội xâm”. Vì thế chúng ta cần phải xoá bỏ tận gốc, nhằm giúp đỡ, ngăn
chặn và hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng viên trong sạch. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng: “chúng ta làm cách mạng là để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến,
xây dựng dân chủ mới. Đó là một xã hội tự do, bình đẳng, một xã hội cần, kiệm, liêm,
chính, cho nên phải tẩy cho sạch hết những thói xấu của xã hội cũ, phải chống tham ô,
lãng phí, quan liêu”
2
. Không những vậy, chống tham ô, lãng phí và quan liêu chính là
thực hiện dân chủ. Điều đó được thể hiện rõ trong những năm kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ, tất cả người dân Việt Nam ủng hộ Chính phủ, đoàn thể kháng
chiến kiến quốc là một hình thức dân chủ tập trung (mọi người đều có nghĩa vụ và
quyền lợi như nhau), không ai có thể lợi dụng quyền lực, vị trí công tác để tham ô,
lãng phí của công, quan liêu, hách dịch với người khác.
Nếu làm tốt công tác chống tham ô, lãng phí và quan liêu, sẽ giúp chúng ta đoàn kết,
nâng cao năng suất, đồng thời giúp cán bộ cải tạo tư tưởng, nâng cao giác ngộ, thấm
nhuần đạo đức cách mạng, thật thà phụng sự cách mạng và nhân dân.Giúp chính
quyền ta thành một chính quyền trong sạch, vững mạnh xứng đáng với lòng tin tưởng
và sự hy sinh của chiến sĩ và đồng bào. Điều đó cũng giúp cho mọi người dân nâng
cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua
tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status