XƯƠNG CHI TRÊN GIẢI PHẪU HỌC - Pdf 28

xương chi trên
xương đòn
xương vai
xương cánh tay
xương quay
xương trụ
Các xương cổ tay
các xương đốt bàn tay
và các xương đốt ngón tay
Định hướng: đặt xương nằm ngang đầu dẹt hướng
ra ngoài bở lõm của đầu dẹt hướng ra phía trước
và mặt có rãnh hướng xuống dưới
Mô tả: vì đây là xương dài nên sẽ có:
Thân xương
2 mặt
2 bờ
bờ trước: phía ngoài lõm mỏng gồ ghề, phía trong lồi dày.
bờ sau: phía ngoài lồi gồ ghề, phía trong lõm.
mặt trên:phía ngoài gồ ghề
đi vào trong thì trơn nhẵn.
mặt dưới: rất gồ ghề phía ngoài có củ nón nằm ở ngay dưới bờ lồi của bờ sau,
phía ngoài còn có đường thang nối tiếp với củ nón chạy chếch ra
phía trước của đầu ngoài của xương.
Ở giữa có rãnh dưới đòn nằm dọc theo xương.
Và ở đầu trong có vết ấn dây chằng sườn đòn.
Đầu xương
đầu ức: nằm ở trong dày, to, có diện khớp ức nối với xương ức.
đầu cùng vai: ở phía ngoài dẹt và rộng, có diện khớp mõm cùng vai nối với mõm cùng vai của xương vai.
Khi chấn thương điểm yếu thường dễ gãy là tại 1/3 ngoài 2/3 trong của xương gần và ở phía trong của củ nón.
mặt trên của đầu ức kéo dài từ đầu ức đến 1/3 trong là
nguyên ủy của cơ ức đòn chủm.

Mõm cùng vai: tại mép dưới gai vai, bờ ngoài mõm cùng vai là nguyên ủy của cơ delta.
Định hướng: là 1 xương dài nối với xương vai ở trên và 2 xương cẳng tay ở dưới
đặt xương thẳng đứng, đầu tròn đưa lên trên và hướng vào trong rãnh ở đầu này hướng ra phía trước.
Mô tả: là xương dài nên có:
Đầu xương:
Thân xương:
Đầu trên: là chỏm hình 1/3 trái cầu. Ở xương người sống, chỏm được che phủ bởi sụn khớp. Phần trục của đầu xương hợp với trục của thân xương 1 góc khoảng 130 độ.
Phần xương ở mép sụn khớp là một chỗ thắt gồ ghề, gọi là cổ giải phẫu. Phía ngoài chỏm và cổ giải phẫu có 2 củ:
Đầu dưới: dẹt hơi bè ngang, cong ra trước được coi xem như là lồi cầu, gồm:
Củ bé ở trong.
Củ lớn ở ngoài
Giữa 2 củ là rãnh gian củ rãnh này chạy dài xuống mặt trước trong của thân xương.
Rãnh này có 2 bờ: bờ ngoài là mào củ lớn, bờ trong là mào củ bé.
Đầu trên nối với thân xương bởi một chỗ hẹp gọi là cổ phẫu thuật.(Thường hay gãy xương tại chỗ này)
Lồi cầu ngoài cũng được gọi là chỏm con, phía trên ngoài của chỏm con
là mỏm trên lồi cầu ngoài. Phía trên hơi lõm gọi là hố quay.
Lồi cầu trong: có mõm trên lồi cầu trong, nằm ở phía trên trong của ròng rọc. Ở mặt sau của lồi cầu trong
có rãnh thần kinh trụ nằm giữa ròng rọc và mõm trên lồi cầu trong, tại đó có dây thần kinh trụ đi qua.
Ròng rọc nằm ở đầu dưới phía trong so với lồi cầu ngoài(chỏm con),
có hình ròng rọc, mặt trước phía trên có hố vẹt, mặt sau trên có hố mỏm khuỷu.
Có 3 mặt:
Có 3 bờ:
Mặt trước ngoài: khoảng giữa có một vùng gồ ghề hình chữ V gọi là lồi củ Delta.
Mặt trước trong: phẳng nhẵn, ở giữa có lỗ nuôi xương. 1/3 trên có 1 đường gờ gọi là mào củ bé.
Mặt sau: có một rãnh xoắn từ sau ra trước từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài gọi là rãnh thần kinh quay.
Trong rãnh thần kinh quay gồm dây thần kinh quay và động mạch cánh tay sâu. Dây thần kinh quay rất dễ
bị tổn thương khi gãy ở 1/3 giữa và 1/3 dưới của xương cánh tay.
Bờ trước: từ mào củ lớn chạy dọc xuống đến phần giữa thì
không rõ rãng nữa, xuống phía dưới chẻ ra 2 gờ nhỏ bao quanh hố vẹt.
Bờ trong.

giác ở dưới có một diện khớp nhỏ gọi là khuyết trụ xương quay.
Mặt ngoài và mặt sau có nhiều rãnh cho gân các cơ duỗi đi xuống bàn tay.
Mặt dưới là mặt khớp với các xương cổ tay(có diện khớp cổ tay), mặt dưới có hình tam giác,
đỉnh ở ngoài. Tại đỉnh cs một mấu nhô xuống dưới gọi là mỏm trâm. Mỏm trâm ở ngay dưới da cổ tay.
Xương quay có thể bị gãy ở chỏm, cổ, thân, nhất là ở giữa đầu dưới và thân xương.vì đầu dưới ở ngay
dưới da nên khi gẫy, di lệch nhìn rất rõ ràng.
Định hướng: đặt xương thẳng đứng. Đầu lớn lên trên. Mặt khớp lõm đầu này
ra trước. cạnh sắc của thân xương ra ngoài.
Mô tả: đây là xương dài. hơi uốn hình chữ S
nằm dọc theo mé trong cẳng tay.
Thân xương
Đầu xương
Các mặt
Các bờ
Đầu trên
Đầu dưới
Mặt trước: nửa trên hơi lõm, có lỗ nuôi xương,
nửa dưới hơi lồi.
Mặt sau: hơi lồi càng xuống dưới càng nhỏ lại. Ở trên có một diện tam giác
cho cơ khuỷu bám. Ở dưới có một gờ thẳng chia mặt sau làm 2 phần:
- Phần trong lõm, có cơ duỗi cổ tay trụ bám.
- Phần ngoài có các cơ thuộc lớp sâu của cẳng tay sau bám.
Mặt trong: có cơ gấp sâu các ngón tay bám ở trên.
Bờ trước: nhẵn
Bờ sau: hình chữ S ở ngay dưới da, sờ rõ được.
Bờ gian cốt: mảnh và sắc.
Hai mỏm
Hai mặt khớp
Mỏm khuỷu: hình tháp 4 mặt, có mặt trong, ngoài, mặt trước khớp với ròng rọc
xương cánh tay, mặt trên nhô ra trước như mỏ chim. Khi khuỷu duỗi mỏm này nằm

biến rãnh cổ tay thành ống để các gân cơ gấp, mạch và thần kinh đi qua.
Các xương cổ tay có thể ví như một ổ bi nằm giữa hai xương cẳng tay
và năm xương bàn tay, làm cho cử động cổ tay được mềm mại. Các xương
cổ tay thường ít gãy nhưng khi gẫy, thường ở chỗ eo xương thuyền hoặc trật
xương nguyệt.
Các xương đốt bàn tay
Các xương ngón tay
Khối xương bàn tay gồm có 5 xương dài
được gọi theo số thứ tự từ ngoài vào trong
từ 1 đến 5.
Mô tả: là xương dài
Trừ ngón cái có 2 đốt
Mỗi ngón có 3 đốt xương được xếp theo thứ tự
đi từ xương đốt bàn tay xuống.
Đốt ngón gần: là xương dài
Đốt ngón giữa
Đốt ngón xa
Thân xương: hơi cong ra trước
có hình lăng trụ tam giác
3 mặt
3 bờ
Đầu xương
Mặt trong
Mặt ngoài
Mặt sau
Bờ trong
Bờ ngoài
Bờ trước
Đầu trên gọi là nền. Có diện khớp với xương cổ tay.
Trừ xương đột bàn 1, mỗi xương đều khớp với xương

Chỏm(dưới): hình móng ngựa, mặt sau nhẵn,
mặt trước gồ ghề
Rãnh dưới đòn là nơi bám tận của cơ dưới đòn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status