Thơ thiền thời Trần trong dòng chảy văn hóa Việt Nam - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

LÂM NGỌC NY
THƠ THIỀN THỜI TRẦN
TRONG DÒNG CHẢY VĂN HÓA VIỆT NAM Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 602234 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2010


MỞ ĐẦU
1/ Lí do chọn đề tài:
Lịch sử dân tộc ghi nhận chiến công oanh liệt của thời đại nhà Trần với ba lần chiến
thắng quân Nguyên – Mông xâm lược, mở ra một thời đại cực thịnh trong lịch sử phong kiến
nước nhà. Dưới thời đại vàng son đó, một nền văn học cũng phát triển rực rỡ mà đỉnh cao là
Thiền học. Thơ Thiền thời Trần – sự tiếp n
ối và phát triển của thơ Thiền thời Lí – là một
thành tựu nổi bật của văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Nếu như
thơ Thiền thời kì đầu (thời Lí) mang đậm chất triết lí sâu xa có phần khó hiểu, thể hiện trí tuệ
uyên áo của các nhà sư, thì thơ Thiền thời kì sau (thời Trần) cũng những triết lí ấy, cũng biểu
hiện trí tuệ ấy như
ng có phần “cởi mở” hơn, nghĩa là gần gũi và dễ hiểu hơn, chan hòa hơn, ở
đó, ranh giới giữa thơ và Thiền dường như không phân định rõ, nó vừa là thơ mà cũng vừa là
triết lí của đạo Phật. Điều đáng chú ý là vị vua anh minh đã lãnh đạo nhân dân chiến thắng đế
quốc Nguyên – Mông hùng mạnh lại là người khai sáng nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử -
Trúc Lâm sư tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trầ
n Nhân Tông.
Ngày nay, cuộc sống bộn bề khiến con người luôn phải chạy đua với thời gian, với bao
lo toan vất vả, nhưng đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn họ luôn muốn hướng tới những điều tốt
đẹp, thanh tao như là chân – thiện – mĩ. Những giây phút con người lắng lòng mình để nghe
âm thanh của tiếng mưa đêm hay nghe thanh âm trong trẻo của tiếng chuông chùa vọng lại
cũng là lúc họ tìm thấy sự
thanh thản trong tâm hồn. Đôi lúc, con người ấy lắng lòng mình
với một ý thơ, một lời văn để trở về với cái “tâm” vô tư, trong sáng, hồn nhiên – cội nguồn
của bản tính con người. Trở về với văn học, đặc biệt là văn học trung đại, chúng ta sẽ bắt gặp
một dòng thơ “tĩnh lặng” mà không kém phần sâu sắc - như đóa hoa sen dù sống trong đầm
lầy vẫn v
ươn cao và tỏa hương thơm ngát - đó là dòng thơ Thiền, đặc biệt là thơ Thiền thời
Trần. Như Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong “Đề nghị một cách hiểu mối quan hệ giữa văn học

đã có những nhận
định về con người thời Trần cũng như thơ văn thời Trần.
- Bộ Thơ văn Lí – Trần của Viện Văn học (1977 – 1989) là một công trình văn bản
học có bề thế và tầm cỡ về văn học Lí – Trần.
- Nguyễn Đổng Chi trong công trình Việt Nam cổ văn học sử (Phủ Quốc vụ khanh đặc
trách văn hóa, Sài Gòn, 1970) đã trình bày tiến trình văn học theo t
ừng triều đại phong kiến,
riêng về văn học Thiền tông thời Trần tác giả chỉ điểm qua khi trình bày văn học đời Trần
(chương X).
- Ngô Tất Tố trong công trình Văn học đời Trần (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1942) đã giới
thiệu một số thành tựu văn học của triều đại nhà Trần, trong đó có một phần là thơ Thiền.
- Bùi Văn Nguyên trong Lịch sử
văn học Việt Nam, tập 2 (thế kỉ X – XVII) (NXB
Giáo Dục, Hà Nội, 1978) nhận xét: “Phật học đời Trần cũng có những tư tưởng độc đáo,
không rập khuôn theo phương Bắc”, “văn học đời Trần mở đầu loại văn bút chiến và văn
chương phê bình”, “các vua đời Trần thường là thi nhân hơn là Thiền sư”.
- Đinh Gia Khánh trong lời giới thiệu “Tám thế kỉ của tiến trình văn học” trong sách
Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2 (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1960), đã nhận định về thơ
Thiền thờ
i Trần: “xét về mặt học thuật đời Trần, trước hết phải nói đến những trước tác về
Phật học”, “văn học đời Trần với quan niệm Tam giáo đồng nguyên, đồng thời xuất hiện xu
hướng phân công giữa Phật và Nho”, “thơ của các vị vua tu Thiền, các nhà sư thể hiện một
niềm yêu đời, yêu thiên nhiên tha thiết”.
- Phạm Văn Diêu trong Văn họ
c đời Trần Hồ (Bài giảng tại Đại học Văn khoa Sài
Gòn, 1970 – 1971) đã giới thiệu văn học thời này theo hệ thống thể loại: văn sử kí của người
Việt viết ở Trung Hoa, văn truyện cổ, văn bi kí tựa, văn lí luận phê bình, văn nghị luận chính
trị,… trong đó có một số tác phẩm thuộc văn học Thiền tông.
- Đặng Thai Mai trong bài viết Mấy đ
iều tâm đắc về một thời đại văn học (Thơ văn Lí

miêu tả, giọng điệu và so sánh đặc trưng nghệ thuật thơ Thiền Lí – Trần với thơ Nho cùng
thời cũng như với thơ Thiền Trung Quốc, Nhật Bản. Nhìn chung, tác giả cho rằng thơ Thiền
Lí – Trần là sản phẩm kết hợp của nền triết học giàu chất tự do phóng khoáng và một th
ời
đại đậm tính nhân văn nên đã đem lại nhiều nét độc đáo, mới mẻ cho thơ ca dân tộc. Đó là
thế giới nghệ thuật đầy sức thu hút, có xu hướng vươn tới không gian và thời gian vô hạn đạt
sự hợp nhất. Các Thiền sư là những con người nhập thế giúp đời. Thơ Thiền với hệ thống kí
hiệu nghệ thuật khác hẳn thơ Nho, đã đánh
đổ cái nhìn nhị nguyên và con người trong thơ
Thiền là con người phá chấp, tùy duyên, đạt đạo ngay giữa cuộc đời.
- Nguyễn Công Lý trong chuyên luận Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lí
– Trần (NXB Văn Hóa thông tin, Hà Nội, 1997)đã đi từ việc tìm hiểu khái niệm Thiền tông,
văn học Thiền tông đến tìm hiểu nét đặc sắc của Thiền học Việt Nam làm cơ sở nghiên cứu
bản sắc dân t
ộc trong văn học Thiền qua thơ văn viết về triết lí tư tưởng Thiền, về thiên
nhiên và con người, cuộc sống với tinh thần lạc quan, phong cách bình thản tin tưởng; cuối
cùng xác định vị trí và những đóng góp của văn học Thiền Lí – Trần trong tiến trình phát
triển của văn học Việt Nam; tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo với văn học, và về trạng
thái tư duy nghệ
thuật kiểu trực cảm tâm linh.
- Trong Văn học Phật giáo thời Lí – Trần diện mạo và đặc điểm (NXB ĐH Quốc gia,
TP Hồ Chí Minh, 2003), tác giả Nguyễn Công Lý (2003) khái quát tình hình nghiên cứu, đặc
điểm và diện mạo văn học Phật giáo thời Lí – Trần. Theo lời mở đầu của GS.NGND Nguyễn
Đình Chú thì “một trong những kết quả nâng cao công trình của Nguyễn Công Lý chính là ở
chỗ làm rõ hơn phương diệ
n văn chương của văn học Phật giáo Lí – Trần”. Trong đó tác giả
đã chú ý đến việc “giới thuyết, làm rõ hơn mối quan hệ giữa tôn giáo với văn học trong sự
sống nhân loại nói chung”.
- Thích Thanh Từ trong bài Thiền Trúc Lâm qua vấn đáp (Thiền học đời Trần, Viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995) đã giải thích ý chỉ của Trúc Lâm đệ nhất tổ trong

con người lạnh lùng không c
ảm xúc. Thơ văn là trực cảm, cảm xúc với người, với cảnh và
với bản thân mình. Đó không phải là cái ta hời hợt mà là cái ta đại ngã cùng một bản thể với
chúng sinh, vạn vật mà chỉ có bậc giác ngộ mới thể nghiệm được.
- Minh Tuệ trong Thiền sư Huyền Quang, một nhà thơ lớn (Viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam, 1995) thì cho rằng Huyền Quang vừa là Thiền sư ngộ đạo, vừa là người nghệ sĩ
lớn với thi hứng dạ
t dào, phóng khoáng.
- Phạm Ngọc Lan trong Trần Nhân Tông và cảm hứng Thiền trong thơ (Tạp chí Văn
học, Hà Nội, số 4 – 1992) đã đề cập những cảm hứng trong những bài thơ viết về thiên nhiên
của Trần Nhân Tông.
- Thích Đồng Bổn trong Vai trò chính trị của các tăng sĩ Phật giáo ở thời đại Lí –
Trần (NXB Tôn giáo, Hà Nội – 2006) đã khái quát một số đặc điểm của Phật giáo cũng như

hành trạng của các vị tăng sĩ Phật giáo trong đời sống chính trị của triều đại Lí – Trần. Tác
giả cũng đã khẳng định ở “đời Trần Phật giáo đã đi vào đỉnh cao nhất và đi sâu vào chính
sự qua những con người cụ thể lãnh đạo triều đại, các vị vua nhà Trần đã là tăng sĩ hay
đang trị vì cũng đã uyên thâm Phật học”.
Tóm lại, thơ
Thiền Lí – Trần nói chung, thơ Thiền thời Trần nói riêng đã được các nhà
nghiên cứu quan tâm ngày càng nhiều và chủ yếu ở các phương diện văn bản học (sưu tầm,
dịch thuật, giới thiệu), tìm hiểu tác giả, nghiên cứu giá trị của tác phẩm,… Điều đó chứng tỏ
văn học Thiền tông là mảnh đất có nhiều sức hấp dẫn đối với số đông nhà nghiên cứ
u. Trên
tinh thần kế thừa những thành quả của người đi trước, chúng tôi đã tổng hợp những tài liệu
phong phú có liên quan để từ đó đi vào tìm hiểu một phương diện chuyên biệt của vấn đề:
Thơ Thiền thời Trần trong dòng chảy văn hóa Việt Nam.
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Như tên gọi của nó - Thơ Thiền thời Trần trong dòng chảy văn hóa Việ
t Nam – đề tài

sau. Đây là một công việc cần thiết và bổ ích vì đó là một trong những cách giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc.
Thời Trần là thời đại phát triển cực thịnh trong lịch sử Việt Nam. Có được điều đ
ó,
theo nhiều nhà nghiên cứu, một phần là do sự ảnh hưởng và tác động của Phật giáo. Điều đó
được minh chứng rõ ràng ở chỗ, thời đại nhà Trần có không ít các vị vua, quan là thiền sư
hoặc thiền gia, cư sĩ, trong số đó có vua Trần Nhân Tông là người đã khai sáng thiền phái
Trúc Lâm. Văn học thời Trần được sản sinh ra trong bối cảnh đó. Đây là giai đoạn đặt nền
móng vững ch
ắc cho sự phát triển của văn học viết Việt Nam, trong đó thơ Thiền được vinh
dự là một bộ phận văn học có vị trí gần như là tiên phong cho giai đoạn này với những thành
tựu đáng kể. Nhờ thế, nó tạo nên một tiếng nói rất riêng khó có thể tìm thấy ở các giai đoạn
văn học sau. Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận văn học thời Trần, trong
đó đáng kể là thơ
Thiền, có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn chương
trung đại nói riêng. Do đó, nghiên cứu thỏa đáng vấn đề đặt ra sẽ rất có ý nghĩa về mặt khoa
học.
Lâu nay, các tác phẩm thơ Thiền thời Trần cũng đã được đưa vào giảng dạy trong nhà
trường nên nghiên cứu đề tài này còn có ý nghĩa thiết thực về mặt nghiệp vụ vì sẽ góp phần
vào việc giải mã những tác phẩm văn học giàu chất nhân văn, là giá trị văn hóa của dân tộc,
nhưng đồng thời cũng mang tính uyên áo, không dễ lĩnh hội, từ đó giúp cho việc nghiên cứu
và giảng dạy bộ phận văn học này tốt hơn.
5/ Phương hướng và phương pháp nghiên cứu:
Thơ Thiền thời Trần đến nay tuy có nhiều người quan tâm nghiên cứu và đạt được
nhiều thành tựu đ
áng quý song, so với yêu cầu phát triển của xã hội nói chung và của văn
học nói riêng thì vẫn còn nhiều khoảng trống để người đi sau tiếp tục tìm hiểu. Với đề tài này
chúng tôi muốn thực hiện một hướng tiếp cận vừa gần gũi, quen thuộc nhưng cũng khá mới
mẻ và lí thú về thơ Thiền thời Trần, qua đó góp phần làm phong phú hơn cách nhìn nhận,
đánh giá về giá trị văn họ

Hơn nữa, người ta có thể nghiên cứu văn hóa từ nhiều góc độ khác nhau, có người thiên
về mặt này, có người thiên về mặt kia của văn hóa, do đó họ đưa ra những định nghĩa khác
nhau về văn hóa. Thí dụ: nhà ngôn ngữ học thường truy xét từ nguyên, tức là gốc từ La Tinh
hay Hy lạp của từ culture phương Tây, tương đương với thuật ngữ văn hóa c
ủa ta và Trung
Quốc. Gốc từ La Tinh của từ văn hóa nêu bật các nghĩa vun trồng, rèn luyện, làm tăng lên về
chất lượng và số lượng. Phải chăng, từ đó có thể nói văn hóa (culture) bao gồm tất cả những
gì là tinh thần hay vật chất có thể và phải được vun trồng, rèn giũa, tích lũy để có một sự
phát triển về lượng và về chất?
Theo GS Trần Ngọc Thêm trong
Cơ sở văn hóa Việt Nam (NXB Giáo Dục, thành phố
Hồ Chí Minh 1999), Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội.
Theo GS.TS Lê Văn Quán trong Nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam (NXB Lao
Động, Hà Nội 2007), Văn hóa là hệ thống giá trị vật ch
ất và tinh thần do con người sáng
tạo, tích lũy, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong hoạt động sản xuất, nếp suy
nghĩ, cách sống, và sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hóa
có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau, bởi vì khái niệm văn hóa bao gồm
những chuẩn mực, giá trị, tập quán,…
Danh từ Văn hóa đầu tiên xuất hiện ở
thư tịch Trung Quốc. Bắt nguồn từ Lưu Hướng,
đời Tây Hán: Phàm vũ chi hưng, vi bất phục dã, văn hóa bất cải, nhiên hậu gia tru (phàm
dùng vũ lực là để đối phó với kẻ không phục tùng; dùng văn hóa mà không thay đổi được thì
sau mới giết). Sau đó, Văn hóa trở thành một bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu hiện
tượng văn hóa hoặc hệ thống văn hóa. Nó bắt đầu phát triển ở
nước Pháp vào khoảng giữa
thế kỉ XIX, trước tiên họ đề xuất khái niệm “khoa học văn hóa”, chủ trương xây dựng độc
lập, tiến hành nghiên cứu khoa học để nói rõ sự tiến triển của văn hóa. Đến đầu thế kỉ XX,

5/ Chủ nghĩa Mác rất trân trọng những di sản văn hóa quý báu của các thế hệ trước để
lại, đồng thời tiếp thu mọi thành tựu văn hóa của thế giới, nhân loại. Đó là tính kế thừa và
tính quốc tế của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.
6/ Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa có tính đại chúng. Toàn dân có điều kiện và cơ hội
làm văn hóa, thưởng thức văn hóa, hoạt động văn hóa. Sự tiếp thu văn hóa đó có tính chất
hoàn toàn tự giác, không có sự áp đặt từ bất cứ một quyền uy nào.
7/ Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là một nền văn hóa dồi dào nhân tính, mục đích cứu
cánh của nó là phục vụ con người tự do th
ật sự, phát triển hài hòa và toàn diện, với mọi năng
khiếu được nảy nở và bộc lộ không hạn chế. Đấy là mẫu những con người hoàn thiện mà bao
thế hệ trước đây hằng mơ ước, nhưng không có điều kiện xã hội chính trị kinh tế để biến
thành hiện thực. Những điều kiện này đang dần dần hình thành đầy đủ trong chế độ xã h
ội
mới ở nước ta.
Trên cơ sở đó, xin tạm định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống các
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực
tiễn và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên, con người với môi trường xã hội và với chính mình.
1.1.2/ Khái niệm dòng chảy văn hóa:
Văn hóa là một vấn đề nhân sinh quan và thế giới quan, là cách nhìn bao trùm và cách
ứng xử qua những hành động thiết thực của con người với thiên nhiên và với cộng đồng con
người trong xã hội. Từ xưa, con người từ bậc hiền triết đến người thường đã luận bàn rất
nhiều về nó, sau này chắc cũng vậy, với những hiểu biết mới, xác thực hơn, cao siêu hơ
n. Từ
quan điểm duy vật biện chứng nhìn lại lịch sử loài người, chúng ta thấy sáng tỏ vị trí, vai trò
và tác dụng của văn hóa, một chiến công biết bao quý báu của con người, sau khi thoát khỏi
tiền thân của mình là con vật, vươn lên qua các chế độ xã hội, đến bước nhảy vọt từ vương
quốc của sự áp bức, bóc lột đến vương quốc của giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, gi
ải
phóng con người, mà đỉnh cao là sự phát triển tự do và toàn diện của mọi người. Đây cũng sẽ

ứng với mỗi thời kì lịch sử dân tộc là một nét văn hóa riêng. Chẳng hạn như: thời vua Hùng
thì thành tựu văn hóa chủ yếu là trống đồng và thời đại văn hóa Đông Sơn; thời Bắc thuộc thì
tiếp biến nền văn hóa Hán là tiêu biểu; thời độc lập dân tộc có thành tựu là phát huy truyền
thống văn hóa dân tộc từ xa xưa, kết hợp với việc tiếp thu và chuy
ển hóa thành Việt Nam
những giá trị văn hóa của Nho giáo, Phật giáo và một vài học thuyết khác về chính trị, xã hội
và văn hóa ở phương Đông; thời Pháp thuộc là sự tiếp biến một số nét của văn hóa phương
Tây; đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám, nền văn hóa nước ta càng khẳng định vai trò và
vị trí của mình trong lịch sử dân tộc.
Sự phát triển của văn hóa còn được hiểu là sự phát tri
ển từ văn hóa dân gian đến trung
đại, hiện đại và quá trình giao lưu quốc tế (Theo Dòng chảy văn hóa Việt Nam của
GS.VS.N.I.Culin, do GS.VS Hồ Sĩ Vịnh và PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới
thiệu, NXB Văn hóa thông tin).
Như vậy, có thể nói, dòng chảy văn hóa là tiến trình vận động và phát triển liên tục của
một nền văn hóa, trong đó thế hệ sau kế thừa thế hệ trước và sáng tạo thêm những giá trị
mới.
1.2/ Các đặc trưng và chức năng của văn hóa:
1.2.1/ Tính hệ thống và chức năng tổ chức xã hội:
Hệ thống văn hóa là một tổ chức hữu cơ
; các sự kiện, hiện tượng có mối quan hệ
khăng khít, chi phối và chế ước lẫn nhau. Đặc trưng này giúp chúng ta phát hiện những mối
liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc
trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.
Nhờ tính hệ thống mà văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Nghĩa là v
ăn
hóa góp phần làm tăng độ ổn định của xã hội, tăng sự cố kết cộng đồng, tạo sự ổn định xã
hội, cung cấp cách ứng xử và tổ chức đời sống thích hợp với môi trường tự nhiên và xã hội.
Chính vì thế, văn hóa còn là nền tảng của xã hội.
1.2.2/ Tính giá trị và chức năng điều chỉnh xã hội:

ệt, trong thời đại ngày nay, văn hóa càng khẳng định vị trí
quan trọng của mình. Sự tiến bộ hay lạc hậu của một cá nhân, sự hưng vong của mỗi quốc
gia, sự thành công hay thất bại của một chiến lược phát triển đều tùy thuộc rất nhiều vào sự
nhận thức và phát triển văn hóa. Trong thời đại hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, việc am hiểu
nhiều nền vă
n hóa là vô cùng cần thiết. Sẽ khó có sự thành công khi trong giao tiếp chúng ta
hoàn toàn không hiểu gì về văn hóa của đối tác, thậm chí không biết gì về ngôn ngữ của họ.
Văn hóa gắn liền với hoạt động của con người trong xã hội và mang tính nhân sinh.
Do đó, văn hóa là sợi dây nối liền và thực hiện chức năng giao tiếp giữa con người với con
người, giữa dân tộc này với dân tộc kia.
1.2.4/ Tính lịch sử và chức năng giáo dụ
c:
Văn hóa là sản phẩm của một quá trình được tích lũy qua nhiều thế hệ, có tính bền
vững và lâu dài. Văn hóa là sự tích tụ hàng ngàn năm lịch sử. Mỗi thế hệ đều cộng thêm đặc
trưng riêng biệt của mình vào nền văn hóa dân tộc trước khi truyền lại cho thế hệ sau. Ở mỗi
thế hệ, thời gian qua đi, những cái mới được thêm vào, những cái cũ có thể bị lo
ại trừ để kết
tinh thêm nền văn hóa truyền thống. Sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian đã làm cho một nền
văn hóa của một dân tộc trở nên giàu có, phong phú và tốt đẹp hơn. Một nền văn hóa không
bào giờ tĩnh tại và bất biến. Văn hóa luôn thay đổi và rất năng động, nó luôn tự điều chỉnh
cho phù hợp với trình độ và tình hình mới.
Tính lịch sử tạo cho văn hóa m
ột bề dày, một chiều sâu và được duy trì bằng truyền
thống văn hóa. Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái
tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn
mẫu xã hội và cố định dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư
luận,…
Văn hóa truyền thống thực hiện chức năng giáo dục đối với con người không chỉ bằng
những giá trị đã ổn định mà còn bằng những giá trị đang hình thành. Hai loại giá trị này tạo
thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới. Nhờ nó mà văn hóa

Trước khi khoa học thiên văn hình thành, các dân tộc trên thế giới đều lấy bản thân
mình làm trung tâm, thăm dò tìm kiếm bí mật của vũ trụ trong quan hệ hiện tượng thế giới tự
nhiên và con người. Vũ trụ mà con người đối diện tức là bản thân tự nhiên, do đó, quan hệ
giữa con người và tự nhiên là chủ đề quan trọng nhất trong nền văn hóa truyền thống phương
Đông. Người Việt lúc bấy giờ
nặng về phương thức nhận biết vũ trụ, thường thiên về cội
nguồn qua cách thức suy nghĩ, được biểu hiện trong các truyện huyền thoại, truyền thuyết.
Việt Nam khởi thủy từ một nước nông nghiệp lúa nước, cho nên điều cốt yếu của con người
Việt Nam là thời vụ. Thời vụ liên quan đến mùa màng được mất và cuộc sống con người.
Con người luôn mong sao cho mùa màng b
ội thu, gia đình đông đúc, tức là quan tâm đến sự
sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người với hai cặp đối lập Mẹ - Cha và Đất - Trời. Thời
xưa đất rộng, thêm người thì thêm việc, tăng thu nhập, chưa phải lo thiếu ăn nên dân gian ta
thường nói Trời sinh voi, trời sinh cỏ; mặt khác, với cuộc sống định cư, việc sinh đẻ hầu như
không ảnh hưởng đến sinh hoạt c
ủa cộng đồng.
Người ta cũng dần dần nhận ra rằng: Đất được đồng nhất với mẹ, còn Trời được đồng
nhất với cha. Việc hợp nhất của hai cặp “mẹ-cha” và “đất-trời” chính là sự khái quát hóa đầu
tiên trên con đường dẫn tới triết lí âm dương.
Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp đối lập gốc “mẹ-cha” và “đất-trời” này,
người xưa
đã dần dần suy ra vô số những đối lập mà, đến lượt mình, lại trở thành cơ sở để
suy ra những đối lập mới. Chẳng hạn, từ cặp “lạnh-nóng”, có thể suy ra: Về thời tiết thì mùa
đông lạnh thuộc âm, mùa hè nóng thuộc dương; Về phương hướng thì phương bắc lạnh
thuộc âm, phương nam nóng thuộc dương; Về thời gian thì ban đêm lạnh thuộc âm, ban ngày
nóng thuộc dương. Ti
ếp tục, đêm thì tối nên màu đen thuộc âm, ngày thì nắng đỏ nên màu đỏ
thuộc dương…
Tuy nhiên, việc xác định bản chất âm/dương của các sự vật, hiện tượng xung quanh
không phải lúc nào cũng dễ dàng. Do đó, người xưa đã dần dần tìm ra những đặc điểm mang

mu bàn tay, mu bàn chân là dương; lòng bàn tay, lòng bàn chân là âm. Theo quan hệ trước
sau, bụng là phần âm, lư
ng là phần dương; mặt trước cẳng chân là dương, bụng chân phía
sau là âm. Cứ như vậy, có thể phân biệt âm dương tới từng bộ phận cơ thể. Xuất phát từ sự
gắn bó mật thiết của con người nông nghiệp với thiên nhiên, từ tư tưởng coi con người và vũ
trụ nằm trong một thể thống nhất, người xưa đã áp dụng các mô hình nhận thức về vũ trụ
vào
việc lí giải không chỉ cấu tạo và hoạt động của con người sinh vật, mà cả cho lĩnh vực con
người xã hội. Do nhìn thấy mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên (vũ trụ), người
xưa không chỉ đưa những kết quả nhận thức về vũ trụ áp dụng vào xem xét con người, mà
còn ngược lại, lấy con người làm trung tâm để xem xét đánh giá tự nhiên. Chính nhờ l
ối tư
duy âm dương từ trong máu thịt mà người Việt Nam có được triết lí sống quân bình: Trong
cuộc sống, gắng không làm mất lòng ai; trong việc ăn ở, gắng giữ sự hài hòa âm dương trong
cơ thể và hài hòa với môi trường thiên nhiên… Triết lí quân bình âm dương được vận dụng
không chỉ cho người sống mà ngay cả cho người chết. Chính triết lí quân bình âm dương này
tạo ra ở người Việt một khả năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh sống:
“Ra đi gặp vịt cũng lùa
Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũ
ng tu”
Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, mỗi chặng đường là một nét văn hóa riêng, một
bản sắc riêng và nhận thức riêng về vai trò, vị trí của con người. Nhưng nhìn chung, đó là
những con người năng động, sáng tạo, cầu tiến,… Sự ra đời của trống đồng Đông Sơn, mở ra
một thời đại văn hóa Đông Sơn, đã minh chứng cho điều đó. Cái trống đồng và văn hóa
Đông Sơn gợi cho chúng ta một xã hội đã đạt tới một trình độ phát triển về nhiều mặt.
Những bức tranh khắc trên mặt trống đồng gợi cho chúng ta một cuộc sống khá đa dạng về
cả vật chất lẫn tinh thần. Một điều nữa, việc xây dựng thành Cổ Loa là một kì công về nhiều
mặt. Nó chứng tỏ đất nước vững vàng, nhiều ngành ngh
ề đã có sự phát triển đáng kể, trong
đó, công lao lớn nhất là thuộc về con người – những con người sáng tạo và biết sáng tạo.

non sông, đất nước góp phần xây dựng nên một Việt Nam hùng cường, làm cho những thế hệ
đi sau có thể tự hào mà thốt lên:
“…Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về”
(Đất Nước – Nguyễn Đình Thi)
Thấm đẫm trong từng tấc đất ngày nay là biết bao xương máu của cha ông thuở xưa,
nhữ
ng con người kiên cường bất khuất, khi có giặc xâm lăng thì sẵn sàng xả thân đem lại
hòa bình cho đất nước; khi hòa bình thì không ngừng học tập, sáng tạo và sống an nhiên tự
tại.
Nhìn tổng quát, lịch sử lâu dài của Việt Nam trên một địa bàn địa lí ngày một rộng lớn,
trải qua biết bao biến cố là sự chứng minh hùng hồn về sức sống mãnh liệt của dân tộc ta, sự
bền vững bên trong và sức đề
kháng của nó để tự bảo vệ và phát triển không ngừng. Mọi sự
kiện lịch sử đều qua đi, song con người và cộng đồng người vẫn tồn tại và lớn lên với những
giá trị văn hóa quý báu của mình. Đây là di sản tốt đẹp nhất mà các thế hệ đi sau cần phải giữ
gìn.
1.3.3/ Khả năng ứng biến
GS Cao Xuân Huy khi bàn về bản lĩnh – bản sắc củ
a dân tộc và văn hóa Việt Nam đã
đưa ra một hình ảnh – biểu tượng là Nước. Sau khi phân tích biểu tượng này, GS Trần Quốc
Vượng đã đưa ra khái niệm “khả năng ứng biến” (Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm,
NXB Văn học, Hà Nội – 2003).
Với cái nhìn sinh thái – nhân văn, một đặc điểm nổi bật của tự nhiên Việt Nam là tính
chất bán đảo: nước Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, lại chiếm trọn phần đông của
bán đảo ấy nên tính chất bán đảo càng nổi trội. Nước Vi
ệt lại là một nước thiên về nông
nghiệp, làm ruộng, trồng lúa thì mối bận tâm hàng đầu cũng là nước. Do đó, tâm thức người

cho rằng nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam là tính cách “không chối từ” của nó. Thực ra, nó
chỉ có một sự chối từ, đó là sự đồng hóa cưỡng bức. Còn lại, nó tìm cách dung hòa và hội
nhập mọi sở đắc văn hóa, của Hoa, của Ấn, của Nam đảo, của Âu-Tây… cả ngôn từ và k
ĩ
thuật, cả tôn giáo và nghệ thuật,… Giới ngôn ngữ học có thể tìm được trong từ vựng tiếng
Việt những từ vựng cơ bản gốc Môn-Khơme, những từ liên quan đến nghề nông trồng lúa
gốc Tày-Thái, những từ liên quan đến cá mú và biển khơi hải đảo gốc Mã-Lai, những từ gốc
Tạng-Miến, biết bao từ vựng triết lí và đạo lí gốc Hoa, từ của Phậ
t giáo gốc Ấn, từ kĩ thuật
học hiện đại gốc Âu Tây. Nhưng tiếng Việt vẫn là tiếng Việt, duyên dáng và trong sáng.
Ngắm nhìn dòng chảy, người Việt Nam không thấy gì mềm mại như nước, nó vấp phải
bao nhiêu vật cản song vẫn tự tìm lấy đường đi về biển. Dõi theo suốt chiều dài lịch sử, biết
bao nhiêu đế chế, thực dân, đế quốc đã muốn cản ng
ăn sự phát triển của Việt Nam. Nhưng
Việt Nam có câu “nước chảy đá mòn”. Hàng ngàn năm nay, người Việt Nam ta biết lấy nhu
để thắng cương, yếu để chống mạnh, ít để địch nhiều… và chính đó là bản sắc Việt Nam.
Giữa lúc vận nước nghìn cân treo sợi tóc đầu năm 1946, Bác Hồ đi Tây trao lại tờ cẩm nang
“dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Yếu t
ố quan trọng là con người, là tấm lòng trung trinh bất biến:
“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ”
Luận về bản sắc văn hóa Việt Nam, một học giả Mĩ ví Việt Nam như một cây gậy nhìn
bề ngoài thấy phủ một lớp sơn tây (sơn dầu) mỏng, cạo lớp sơn ấy đi vẫn còn thấy phủ một
lớp s
ơn (sơn then, sơn mài) có phần dày hơn, song cạo tiếp lớp sơn tàu ấy nữa, thì lộ ra cốt
lõi gậy tre đực Việt Nam. Cây tre và gậy tre là biểu tượng của Việt Nam cổ truyền. Từ cây
tre thời Phù Đổng Thiên Vương đánh tan giặc Ân cứu nước đến cây gậy tầm vông thời đại
Hồ Chí Minh:
“Thù nầy ghi nhớ còn sâu
Trồng tre nên gậy gặp đâu đánh què”

Trích đoạn Những cung bậc cảm xúc tinh tế trước thiên nhiên: Sự đa dạng trong phong cách của các nhà thơ: Vai trò và vị trí thơ Thiền thời Trần trong tiến trình vận động của văn hóa Việt Nam: Trong quan niệm về con người và ứng xử với con người: Trong quan niệm về tự nhiên và ứng xử với tự nhiên:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status