BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CAO THỊ LIÊN HƯƠNG
VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG THƠ
CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
1.1.2. Khái niệm ứng xử................................................................................... 21
1.1.3. Khái niệm văn hóa ứng xử..................................................................... 23
1.2. Văn hóa ứng xử tiếp hợp nhiều yếu tố văn hóa ngoại lai.............................. 29
1.2.1. Tiếp hợp Nho giáo .................................................................................. 29
1.2.2. Tiếp hợp Phật giáo .................................................................................. 33
1.2.3. Tiếp hợp Đạo giáo................................................................................... 36
Chương 2: NGUYỄN DU VÀ THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU............................ 41
2.1. Nguyễn Du..................................................................................................... 41
2.1.1. Thời đại Nguyễn Du................................................................................ 41
2.1.2. Gia thế và cuộc đời Nguyễn Du.............................................................. 44
2.2. Thơ chữ Hán Nguyễn Du .............................................................................. 49
Chương 3: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN
DU............................................................................................................................ 81
3.1. Ứng xử đối với bản thân ............................................................................... 81
3.2. Ứng xử với môi trường tự nhiên ................................................................... 88
3.2.1. Thiên nhiên tươi đẹp để hưởng thụ ngâm vịnh..................................... 866
3.2.2. Thiên nhiên kỳ quái khiến con người phải khiếp sợ............................... 95
3.3. Ứng xử với môi trường xã hội....................................................................... 75
3.3.1. Vua chúa ................................................................................................. 76
3.3.2. Quan lại................................................................................................... 80
3.3.3. Những người nghèo khổ ......................................................................... 85
3.3.4. Người hiền, ng
ười tài .............................................................................. 89
3.3.5. Phụ nữ ..................................................................................................... 95
3.4. Ứng xử trong gia đình ................................................................................. 100
C. KẾT LUẬN.............................................................................................................. 108
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 111
thực thể, đồng thời hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam. Văn hóa dân tộc Việt Nam bao
gồm những giá trị bề
n vững những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc được vun đắp nên đó là: “lòng
nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý... sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống...” [27,
tr 56].
Đó là bản sắc văn hóa dân tộc, mà bản sắc dân tộc là phần cốt lõi, tinh túy trong tâm hồn, tính cách
dân tộc, thì cái bản sắc đó được biểu hiện ra trong toàn bộ các hoạt động xã hội, từ các hoạt động sản xuất
tinh th
ần đến các hoạt động vật chất. Đúng như báo cáo chính trị Đại hội VII của Đảng đã nêu rõ: “Bản
sắc dân tộc và tính chất tiên tiến của nền văn hóa phải được thấm đượm không chỉ trong công tác văn hóa
– văn nghệ, mà cả trong mọi hoạt động xây dựng, sáng tạo vật chất, ứng dụng các thành tựu khoa học,
công nghệ, giáo dục và đào tạo... sao cho trong mọi lĩnh vự
c chúng ta có cách tư duy độc lập, có cách làm
vừa hiện đại, vừa mang sắc thái Việt Nam”[93, tr 286]. Có thể coi đây là một luận điểm quan trọng đòi
hỏi một sự đổi mới trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta. Bản chất của văn hóa tồn tại sâu
xa mang tính chất nhân bản và nhân văn. Văn hóa kết tinh phẩm giá, năng lực, sức sáng tạo của con
người. Vă
n hóa chăm lo chất lượng cuộc sống của con người, của xã hội ngày một nâng cao, sao cho con
người có ý thức trong các mối quan hệ của cá nhân và cộng đồng, giữa con người và tự nhiên, giữa hiện
tại, quá khứ và tương lai, biết giữ gìn phát huy giá trị của con người tạo ra nhiều thế hệ, chỉ có văn hóa
mới không quên con người, mới trân trọng cuộc sống phong phú của con người và đi sâu vào tâm hồn
riêng tư của con ng
ười, chia sẻ những dằn vặt, lo âu của con người về lẽ sống và cái chết, về những điều
thiêng liêng và cõi tâm linh.
Trong xu thế hiện nay, Việt Nam đang ở trong quá trình xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc văn hóa dân tộc, như nghị quyết V của Trung ương Đảng vừa nhấn mạnh, văn hóa Việt Nam
lại đang trên đà hội nhập với văn hóa th
ế giới. Một mặt mở ra khả năng to lớn để các dân tộc giao lưu văn
hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế, xã hội với nhau trên phạm vi toàn cầu tạo động lực cho quá trình đổi mới
và hiện đại hóa văn hóa của các dân tộc, mặt khác nó cũng đưa lại cho chúng ta những thách thức mới.
văn hóa, văn hóa ứng xử mối quan hệ giữa văn hóa và văn
học thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học nước nhà. Văn hóa là cội nguồn của
văn học và “văn học nghệ thuật có nhiệm vụ và có tác dụng to lớn trong việc sáng tạo nên những giá trị
văn hóa cao quý ấy” (Phạm Văn Đồng). Giá trị văn hóa, tính văn hóa luôn là một thước đo giá trị
của tác
phẩm văn học.
Xung quanh đề tài luận văn Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong phạm vi tư
liệu sưu tầm được, chúng tôi điểm qua một số công trình, bài báo khoa học sau:
Về văn hóa, Đào Duy Anh đã đặt viên gạch đầu tiên cho lĩnh vực nghiên cứu văn hóa Việt Nam khi
cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” xuất bản năm 1938, Nxb Bốn Ph
ương tái bản năm 1951. Từ đó đến
nay có rất nhiều công trình của các nhà nghiên cứu về văn hóa vùng, văn hóa miền, văn hóa dân tộc –
quốc gia Việt Nam hay văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á… của các tác giả nổi tiếng như
Trần Quốc Vượng, Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm, Toan Ánh, Chu Xuân Diên… Có thể kể đến Văn hóa
Việt Nam và cách tiếp cận mới (Phan Ngọc), Một thế kỷ nghiên cứu v
ăn hóa Việt Nam (Nguyễn Chí Bền),
Xã hội học văn hóa (Đoàn Văn Chúc), Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa (Nguyễn Văn
Dân), Văn hóa Việt Nam đỉnh cao Đại Việt (Nguyễn Đăng Duy), Tìm hiểu làng Việt (Diệp Đình Hoa),
Con người, môi trường, văn hóa (Nguyễn Xuân Kính), Văn hóa gia đình Việt Nam (Vũ Gia Khánh), Văn
hóa thẩm mỹ và nhân cách (Lương Quỳnh Khuê)… Điểm lại những thành tựu đã đạt được, ghi nhận công
lao của các nhà khoa học tiêu biểu của hướng tiếp cận văn hóa Việt Nam trong tính tổng thể c
ộng đồng
văn hóa dân tộc – quốc gia.
Hướng nghiên cứu đại cương về văn hóa Việt Nam, hoặc “tiếp cận văn hóa học về văn hóa Việt
Nam” theo quan niệm của Trần Ngọc Thêm và nhiều tác giả khác là nhằm làm sáng tỏ những đặc trưng cơ
bản cùng những quy luật hình thành và phát triển của nền văn hóa Việt Nam. Có thể chỉ ra một số chủ đề
chính của hướng nghiên c
ứu này:
- Quá trình hình thành và phát triển cộng đồng văn hóa dân tộc – quốc gia Việt Nam.
con cháu và con cháu trong ứng xử với ông bà, cha mẹ, anh chị trong gia đình. Con cháu đối với những
người trên lấy sự tôn kính làm trọng. Bề trên đối với con cháu lấy sự yêu thương, lòng bao dung để răn
dạy. Đó là đạ
o lý của dân tộc”[53, tr 6 ].
Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam của Lê Như Hoa (2002) [30]. Tác giả đã tiếp cận văn hóa
ứng xử của người Việt và phần nói về văn hóa ứng xử của các dân tộc ít người. Đặc biệt là góc độ văn hóa
học tác giả phân tích một cách logic về văn hóa ứng xử của người Việt “coi trọng tính tập thể, tính cộng
đồng, xã hội ”.
V
ăn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Nguyễn Viết Chức (2002) [13],
cùng với quá trình ngàn năm xây dựng, cải tạo và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên Hà Nội, văn hóa ứng xử
của người Hà Nội đã kết tinh những tinh hoa văn hóa đặc sắc của cả nước và giao lưu với nước ngoài.
Hàng ngàn năm “người Hà Nội từ thế hệ nọ đến thế hệ kia đã lư
u giữ được một cốt cách, một phương thức
ứng xử hòa đồng với thiên nhiên biến đổi tự nhiên theo quá trình hoàn thiện cuộc sống của mình. Những
thắng cảnh Hồ Tây, sức quyến rũ của hồ Hoàn Kiếm, những đường phố bạt ngàn cây xanh, những dòng
Kim Ngưu, Tô Lịch chạy dài vòng quanh thành phố là kết tinh những giá trị ứng xử với thiên nhiên của
cha ông ta tạo nên một truyền thống ứ
ng xử văn hóa thông minh và thẩm mỹ của người Hà Nội” [13, tr 5
– 6 ].
Văn hóa ứng xử của người Giẻ Triêng, Nguyễn Hùng Khu (2006) [46], tác giả thông qua một
phong tục cụ thể - phong tục hôn nhân và cách tìm hiểu về văn hóa ứng xử của người Giẻ Triêng ở một
vùng văn hóa – văn hóa Tây Nguyên. Tìm hiểu tộc người Giẻ Triêng, Nguyễn Đình Khu góp phần vào
việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của tộc ng
ười Giẻ Triêng nói riêng, văn hóa Tây Nguyên
nói chung.
Văn hóa ứng xử còn phải kể đến, Văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt của Lê Văn Quán
(2007) [73], “người Việt Nam chú trọng sự tôn kính, trọng hiếu quý hòa, thờ phụng tổ tiên, thịnh hành
nguyên tắc chủ nghĩa danh phận uy quyền” [73, tr 7]. Vấn đề này được tác giả quan tâm và tập trung bàn
về văn hóa ứng xử gia đình, bạn bè, tình yêu…
Nguyễn Du được khẳng định về hình thức cũng như về nội dung. Có thể nói đây là những ý kiến có giá trị
gợi mở cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình ở giai đoạn sau.
Năm 1960 nhà phê bình Hoài Thanh tìm hiểu tâm sự của Nguyễn Du trong bài viết Tâm tình của
Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán [26, tr 37]. Hoài Thanh khẳng định: “Cái đi
ều rõ ràng là Nguyễn
Du không bằng lòng với toàn bộ cuộc đời lúc bấy giờ” [26, tr 39]. Song thái độ không dứt khoát đã không
thể làm mờ được tấm lòng cảm thông, xót thương của Nguyễn Du đối với những kiếp người đau khổ. Dù
chưa nhìn rõ nguồn gốc của những điều bất công của cuộc đời nhưng “thái độ của Nguyễn Du rõ ràng tình
cảm của Nguyễn Du chân thành, sâu sắc” [ 26, tr 45].
Cùng với quan đi
ểm của Hoài Thanh, Xuân Diệu viết Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán
[26, tr 46] đã nghiêng hẳn về cái nhìn buồn thương, day dứt của Nguyễn Du trước cuộc đời. Xuân Diệu
cho rằng, giống như Khuất Nguyên xưa, Nguyễn Du “mang những vấn đề của ngàn năm, của triệu người,
nên cái đau khổ của ông là một đau khổ lớn có tính chất đại diện cho nhân loại” [26, tr 52]. Xuân Diệu
cũng đ
i sâu vào một số bài thơ tiêu biểu như Thái bình mại ca giả, Sở kiến hành, Phản chiêu hồn… tất cả
điều chứng tỏ một tấm lòng “yêu thương con người đến cháy gan cháy ruột”[26, tr 59].
Đây cũng là quan điểm đánh giá của Lê Trí Viễn trong Lịch sử văn học Việt Nam (tập III) [103],
ông đi sâu vào thế giới nhân vật đó là những người trung can nghĩa khí bị hãm hại, những kiếp người tài
hoa lỗi lạc lầm than, những kẻ hèn yếu đáng thương. Đặc biệt cảm thương những người phụ nữ như người
ca nữ đất Long Thành, Tiểu Thanh, Dươ
ng Phi…
Đến năm 1965, có bài viết của Nguyễn Huệ Chi, Tìm hiểu thơ chữ Hán Nguyễn Du, Tạp chí văn
học số 11 [9]. Bài viết này đã mở ra một hướng đi trên hành trình nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du đó
là tìm kiếm chân dung của chính tác giả. Ông viết “Nguyễn Du là con người tư tưởng” với bao mâu thuẫn
dằng xé trong tâm can. Nhưng vượt lên khối mâu thuẫn là nguồn cảm hứng nhân đạo lớn lao, sâu sắc.
Đi
ều đó thể hiện trong thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán. Nguyễn Du không dừng lại ở đó mà khái quát
bản chất sâu xa của xã hội phong kiến.
Ông viết “Những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa mới lạ
và độc đáo trong một nghìn năm thơ ca của ông cha đã dành; mà cũng mới lạ và độc đáo so với thơ chữ
Hán Trung Quốc” [62, tr 7]. Bên cạnh đó, Mai Quốc Liên cũng nêu lên những vấn đề thi pháp thơ cần tiếp
tục khám phá như thanh vận, đối ngẫu, cú pháp, tự
pháp.
Hướng nghiên cứu này đã được Lê Thu Yến viết trong cuốn Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán
Nguyễn Du, Nxb Thanh Niên TP. Hồ Chí Minh năm 1999 [106]. Công trình này tiến hành những khảo sát
cụ thể, những chất liệu minh họa và phân tích phạm trù: hình ảnh con người nghệ thuật, không gian và
thời gian nghệ thuật. Qua đó, tác giả Lê Thu Yến nhận thấy “có rất nhiều Nguyễn Du trong một Nguyễn
Du”.
Gần đây, phả
i kể đến một số bài viết về tác phẩm cụ thể của Nguyễn Du:
- Góp phần tìm hiểu thêm về nội dung bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du, Nguyễn Danh
Đạt, Tạp chí Hán Nôm số 1 (14) năm 1993.
- Bàn thêm về bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du, Tạ Ngọc Liễn, Tạp chí Hán Nôm
số 3 (24) năm 1995.
- Thử tìm một cách hiểu bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du
, Nguyễn Văn Hoàn,
Nghiên cứu Văn học số 9 năm 2006.
- Độc Tiểu Thanh Ký tư liệu và hướng nghiên cứu, Nguyễn Đăng Na, Nghiên cứu văn học số
6 năm 2006.
- Đạo ý – Một bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Dương Văn Kha, Tạp chí Hán Nôm số 3 (76)
năm 2006.
- …
Những phát hiện cụ thể những bài viết này góp phần không nhỏ vào việc tìm hiểu thơ chữ Hán c
ủa
Nguyễn Du.
Trên đây, là những phác thảo quá trình nghiên cứu về văn hóa, văn hóa ứng xử của người Việt và
thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Tất cả các công trình nghiên cứu về văn hóa đi sâu về bản sắc văn hóa Việt
Nam, phân vùng văn hóa, hay văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á… chưa có công trình
văn của một số tác giả mà nội dung có liên quan để thấy được nét ứng xử tiêu biểu trong đời sống của
người Việt.
Phạm vi khảo sát, nghiên cứu: Đề
tài chỉ chú trọng khảo sát về thơ chữ Hán của Nguyễn Du, từ đó
luận văn cố gắng chỉ ra và hệ thống những nét ứng xử tiêu biểu mà đã trở thành chuẩn mực trong đời sống
của người Việt.
Từ mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn chúng tôi cố gắng tìm hiểu thơ chữ Hán của
Nguyễn Du từ góc nhìn truyền thống v
ăn hóa của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trước giới hạn rộng lớn
của truyền thống văn hóa Việt, chúng tôi chỉ xin đi vào văn hóa ứng xử, là những nét cư xử trong cuộc
sống hằng ngày của ông cha ta đã đi vào thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi có ý tiếp thu cách làm văn hóa so sánh để có thể chỉ
ra được đâu là nét văn hóa thuần Việt và đâu là ảnh hưở
ng văn hóa ngoại sinh đến văn hóa, đặc biệt là văn
hóa ứng xử của người Việt. Chúng tôi hi vọng rằng luận văn sẽ cung cấp phần nào một cách nhìn về thơ
chữ Hán của Nguyễn Du từ góc độ văn hóa ứng xử, cũng như những lý giải khá thú vị về văn hóa ứng xử
của người Việt qua thơ chữ Hán này.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử: Khảo sát thơ chữ Hán của Nguyễn Du theo thời gian để nhận diện những
nét Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
- Phương pháp so sánh: So sánh Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du với văn hóa
ứng xử của một số danh nhân văn hóa trước và sau đó đề làm nổi bật những ứng xử thể hiệ
n rõ bản sắc
văn hóa.
- Phương pháp thống kê: Thống kê những từ ngữ quan trọng được Nguyễn Du sử dụng trong
những sáng tác của ông nhằm góp phần làm rõ hơn tư tưởng, tình cảm cũng như những lựa chọn ứng xử
của ông.
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Xem xét thơ chữ Hán của Nguyễn Du với tư cách là một chủ
2.1.2. Gia thế và cuộc đời Nguyễn Du
2.2. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du
Chương 3: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU
3.1. Ứng xử đối với bản thân
3.2. Ứng xử với môi trường tự nhiên
3.2.1. Thiên nhiên tươi đẹp để hưởng thụ ngâm vịnh
3.2.2. Thiên nhiên kỳ quái khiến con người phải khiếp sợ
3.3. Ứ
ng xử với môi trường xã hội
3.3.1. Vua chúa
3.3.2. Quan lại
3.3.3. Những người nghèo khổ
3.3.4. Người hiền người tài
3.3.5. Phụ nữ
3.4. Ứng xử trong gia đình
C. KẾT LUẬN
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO B. NỘI DUNG
Chương 1 : VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU - NHỮNG VẤN ĐỀ
CHUNG
1.1. Các khái niệm:
1.1.1. Khái niệm văn hóa:
Trong bối cảnh của một thế giới mở cửa và đầy biến động như hiện nay, văn hóa là một lĩnh vực
luôn được hầu hết, quốc gia, dân tộc trên thế giới dành cho sự quan tâm đặc biệt tầm quan trọng của văn
hóa được nêu lên hàng đầ
u. Kể từ khi văn hóa trở thành một đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học
về văn hóa, khởi nguồn từ định nghĩa của E.B Taylor trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy” xuất bản ở
London, năm 1871 cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa. Vào năm 1952 hai nhà nhân học
Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp,
văn hóa kinh doanh… Giới hạn theo không gian văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của t
ừng
vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những
giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn…)
Hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được xã hội hóa trong lao
động sáng tạo của con người. Nhờ tiếp cận những giá trị ấy, con người trong cộng đồng trở thành con
người có nă
ng lực và hoạt động của văn hóa luôn hướng tới giá trị “Chân –Thiện - Mỹ”. Với tư cách là
một phạm trù rộng, văn hóa luôn bao hàm nội dung và sự phản ánh thực tại của đời sống con người. Văn
hóa là tất cả những giá trị do con người sáng tạo ra và được trao quyền từ thế hệ này cho đến các thế hệ
sau, là sự thể hiện trình độ phát triển của con người trong mỗi thờ
i đại lịch sử nhất định. Với sự phát triển
không ngừng của đời sống xã hội làm cho nội dung và khái niệm văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng
hơn. Và vì vậy, các nhà khoa học có thể tiếp cận khái niệm văn hóa ở nhiều lĩnh vực khác nhau như ngôn
ngữ học, tâm lý học, triết học, dân tộc học, xã hội học… Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về văn hóa.
Vào nửa cu
ối thế kỉ XIX, Eduard Burnett Tylor, nhà văn hóa xã hội học người Anh là người đầu
tiên cấp cho văn hoá định nghĩa được chấp nhận một cách rộng rãi. “Văn hóa là một chỉnh thể phức tạp
bao gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và bất kỳ năng lực và thói quen
khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [24, tr 13].
Tiếp nhậ
n quan điểm của Ward Goodnough, R.A.Hudson cho rằng “Văn hóa là một xã hội theo tôi
quan niệm, bao gồm tất cả những cái gì mà một người phải biết và phải tin để có thể hành xử theo cách
sao cho được các thành viên khác trong cộng đồng chấp nhận… Văn hóa vốn là những cái mà con người
phải học mới có được, khác với vốn thừa kế sinh vật học của mình, suy cho đến cùng là những hiểu biết –
sản phẩm của s
ự học tập, theo cách hiểu chung nhất của thuật ngữ này” [7, tr 1].
V. Gudinaf lại coi văn hóa “không phải là hiện tượng vật chất mà là một tổng thể nhất định các tri
thức và mô hình giải thuyết cái mà con người nói ra và làm ra”[79, tr 16].
tạo và phát minh tức là văn hóa. Văn hóa là tổng thể của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện
của nó mà loại người đã phải sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống mà đòi hỏi của sự sinh tồn”
[98, tr 21].
Có thể thấy, định nghĩa về văn hóa của H
ồ Chí Minh đã bao quát một phạm vi rộng lớn, bao gồm
toàn bộ hoạt động sáng tạo tinh thần cũng như sinh hoạt vật chất của xã hội, mang dấu ấn sâu sắc của một
trật tự văn minh, bản sắc của dân tộc. Định nghĩa về văn hóa trên còn nguyên giá trị. Từ truyền thống văn
hóa Việt Nam và phương Đông kết hợp với việc trực tiếp kh
ảo sát chủ nghĩa thực dân, nghiên cứu phong
trào dân tộc, phong trào công nhân trên thế giới, tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh đã
đến với văn hóa Việt Nam trong tư tưởng của Người đó là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, tinh
thần “không có gì quý hơn độc lập tự do”, ý thức tự cường và lạc quan, thông minh và sáng tạo, ý chí
đoàn kết quyết chiến, quyết thắng kẻ thù; đó là lòng nhân ái, thủy chung, bao la, đạo làm người đấu tranh
v
ươn tới con người có nhân phẩm và trí tuệ. Chính Hồ Chí Minh từ năm 1924 đã báo cáo với quốc tế
Cộng Sản rằng, “phải bổ sung củng cố chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông” [65, tr 465, tập 1].
Gần đây một số độc giả Việt Nam cũng đưa ra một số quan niệm về văn hóa. Có quan niệm cho rằng tất
cả những gì không phải thiên nhiên đề
u là văn hóa “Văn hóa không phải là kỹ thuật, cũng không phải là
bản thân sản xuất, không phải là hoạt động tinh thần ở tự bản thân nó, không phải là hoạt động xã hội,
chính trị… cũng không phải là phong tục… Văn hóa là các dấu ấn của một thể cộng đồng này từ tín
ngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghệ, bán ra thị trường” [67, tr 20].
Phạm Xuân Nam thì khẳng định: Yếu tố hàng đầu của văn hóa là sự hiểu biết, bao gồm tri thức
khoa học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan tích lũy được trong quá trình học tập, lao động sản xuất và đấu
tranh để duy trì và phát triể
n cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc và các thành viên trong cộng đồng ấy.
Nhưng chỉ riêng sự hiểu biết không thôi chưa làm nên văn hóa. Sự hiểu biết chỉ trở thành văn hóa khi nó
làm nền và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu, hành vi…) của mỗi
cá nhân và cả cộng đồng hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ
n của các dân tộc xưa nay biến chuyển thế nào, là nghiên cứu văn hóa lịch sử của
dân tộc ấy” [1, tr 3]. Đào Duy Anh đã nhận thấy văn hóa cách sinh hoạt của con người nảy sinh trong quá
trình lao động trong quá trình sinh hoạt nhất định. Ông còn nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa văn hóa của
các dân tộc. “Người ta thường cho rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng loài người, nhân thế mà
xem xét văn hóa có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải là vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên
là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phận sự về sinh hoạt kinh tế, về chính tr
ị, về xã hội cũng hết thảy
các phong tục tập quán thường lại không ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hay tiếng văn hóa chẳng qua
chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh
hoạt” [1, tr 13].
Trần Quốc Vượng nhận định: “Môn nghiên cứu tộc người đã được phương Tây khai thác trong
công cuộc khám phá và chinh phục thổ dân vùng đất mới, mở rộng thị
trường và có thể cả trong việc kích
thích mâu thuẫn sắc tộc trong các quốc gia độc lập. Vào thời hiện đại các nước phương Tây đi từ “tộc
người học” đến “nhân học” ít chú ý đến văn hóa quốc gia – dân tộc, thậm chí vấn đề bản sắc dân tộc gắn
với độc lập quốc gia có vẽ như không thích hợp với chiến lược toàn cầu hóa. Trong khoa học phương Tây,
văn hóa là nội dung c
ơ bản của “xã hội học”. Từ lâu, thế giới khoa học Việt Nam đã nhận thấy “chúng ta
còn thiếu hẳn việc xây dựng một khung cảnh khái niệm và những công cụ lý luận, phân tích và tổng hợp
để áp dụng vào công cuộc nghiên cứu văn hóa Việt Nam dù là dưới nhãn quan đồng đại hay dưới nhãn
quang lịch đại” [99, tr 94].
Như vậy, việc áp dụng phương pháp nghiên cứu văn hóa phương Tây vào nền văn hóa Việt Nam
vẫn chưa có điểm phù hợp, đòi hỏi người nghiên cứu phải có những cơ sở nghiên cứu để áp dụng vào thực
tiễn nền văn hóa. Do đó, khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi dựa vào những quan điểm nghiên cứu của tác giả
Trần Quốc Vượng và Trần Ngọc Thêm đó là những học giả xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu văn hóa
xuất phát từ đặc trư
ng của nền văn hóa Việt Nam để khảo sát đề tài.
Theo Trần Quốc Vượng “cái văn hóa là sự biến đổi cái tự nhiên của từng cộng đồng người nhất
định. Văn hóa là sự phản ứng, sự chế ngự, sự trả lời của một cộng đồng người trước những thách đố của
Văn hóa có tính lịch sử: là một quá trình có bề dày tích lũy, được lưu truyền và tạo nên truyền
thống. Truyền thống tồn tại và phát triển thông qua giáo dục nên văn hóa có chức năng giáo dục, giáo dục
những giá trị truyền thống và cả những giá trị đang hình thành, tạo thành một hệ thống chu
ẩn mực, cho
con người hướng tới. Từ chức năng giáo dục văn hóa có chức năng tái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch
sử di truyền phẩm chất tốt đẹp của dân tộc cho các thế hệ mai sau.
Hình thức biểu hiện gồm có văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần hay văn hóa vật thể (tangible)
và văn hóa phi vật thể (intangible).
Quan điểm hệ thống cấ
u trúc văn hóa theo Trần Ngọc Thêm thì văn hóa là một hệ thống gồm
nhiều phân hệ trong hệ thống văn hóa (nền văn hóa) gồm 4 thành tố (tiểu hệ) cơ bản:
- Văn hóa nhận thức.
- Văn hóa tổ chức cộng đồng.
- Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên.
- Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.
Trên đây là kế
t quả của những phương diện chính của khái niệm văn hóa. Qua đó chúng ta có thể
hiểu “văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất, tinh thần và loại người sáng tạo ra trong lịch sử của
mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn
mực xã hội”.
Như vậy, văn hóa có một số nội dung cơ b
ản sau:
- Văn hóa là thuộc tính bản chất của con người và xã hội loại người, có mặt hầu như trong tất cả
các hoạt động, các lĩnh vực của con người và xã hội.
- Đối với cộng đồng xã hội, văn hóa thường được thể hiện như một lối sống một kiểu ứng xử riêng
biệt và tương đối ổn định, được di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Yếu tố cốt lõi văn hóa là một cộng đồng người là hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, thể hiện như là
bản sắc củ
a cộng đồng nó có chức năng điều tiết hành vi của các thành viên, tạo nên sự thống nhất hoạt
trường xã hội văn hóa ảnh hưởng thế nào đến ứng xử con người [2, tr 19].
Từ góc độ sinh học, nhà khoa học cho rằng ứng xử có nghĩa “toàn thể những phản ứng thích nghi
có thể quan sát khách quan là một cơ chế, cơ chế có một hệ thống thần kinh thực hiện để đáp trả lại
những khích thích… Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy (những ứng xử, xử lý để đáp ứng) được diễn
ra theo cách tương đối ổn định” [21, tr 43].
Dưới góc độ xã hội học, ứng xử dùng để chỉ “các hoạt động như thế nào đó của một vai trò xã hội
nào đối diện với một vai trò khác (tức một cặp vai trò như: vợ/ chồng, cha/ mẹ
,…) Và đó là những hoạt
động hoặc gọi là phản ứng theo một cách tương đối. Ứng xử trong chỉ giới hạn những vai trò xã hội với
nhau còn ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên” [21 ,tr 43].
Từ góc độ ngôn ngữ học, “ứng xử là một từ ghép hai từ ứng xử. Mà ứng xử lại bao gồm nhiều
nghĩa khác nhau như ứng phó,
ứng đáp, ứng biến và xử sự” [21, tr 44].
Trong cuốn sách “Tâm lý ứng xử”, Lê Thị Bừng định nghĩa: “Ứng xử là sự phản ứng của con
người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở
chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán,
thể
hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của
mỗi người nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.” [5, tr 17].
Trong cuốn “Xã hội văn hóa” của tác giả Đoàn Văn Chúc đề cập đến khái niệm Ứng xử “là một
trừu tượng chỉ sự dính líu nhau của mỗi người, mỗi nhóm người trong cuộc sống xã hội. Liên hệ xã hội
chỉ trở thành hữ
u hình nắm bắt được mỗi khi con người hay nhóm người hoạt động như thế nào đấy là
khách thể hóa, cụ thể hóa một liên hệ xã hội. Hoạt động và nói thế nào đấy là ứng xử. “Ứng”: đáp lại,
đối lại. “Xử”: đối đãi” [12, tr 61]. Từ đó cho thấy, sự ứng xử được biểu hiện ở con người và các nhóm
người trong mọi hoạt động sinh tồn, trong đ
ó là chủ yếu những người với người và tất nhiên gồm cả mối
quan hệ giữa chủ thể và đối tượng. Ứng xử với người gồm ba yếu tố tạo thành một tổng thể không tách
rời.
Thứ nhất, nói đến ứng xử là nói đến cách xử trí trong mối quan hệ giữa người với người hoặc giữa
cá nhân với cộng đồng trước những sự kiện hoặc sự việc cụ thể.
Thứ hai, ứng x
ử cũng là một phương diện cấu thành của văn hóa, là biểu hiện tổng hợp của văn
hóa.
1.1.3. Khái niệm văn hóa ứng xử:
Truyền thống văn hóa Việt Nam, ông cha ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề giao tiếp ứng xử. Các
câu danh ngôn được truyền dạy cho thế hệ sau “Lời nói chẳng mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng
nhau”, “Kỷ sở bất dục vật thi ư
nhân” (Điều gì mà mình không muốn thì đừng gán cho người khác), “Phải
học ăn học nói học gói học mở”… những vẻ đẹp trong ứng xử đã được cha ông ta đã gìn giữ và phát triển
tạo thành truyền thống văn hóa của dân tộc.
Ứng xử của con người trong xã hội không diễn ra tùy tiện, ngẫu phát của mỗi cá nhân, mà chúng
lập đi lập lại thường xuyên bởi nhiều người trong cả không gian lẫn th
ời gian và do nó đã tạo thành những
khuôn mẫu. Cái khuôn mẫu ấy được coi là ứng xử có văn hóa. Vì khuôn mẫu ứng xử là khách thể hóa
những kiến thức, những tư tưởng tình cảm đã đạt được và mong ước đạt được một nền văn hóa. Ứng xử
của con người có rất nhiều, song không phải bất kì ứng xử nào cũng trở thành khuôn mẫu có văn hóa. Để
xác lập một ứ
ng xử nào đấy có khuôn mẫu hay không thì phải có các yếu tố để đánh giá. Theo tác giả
Đoàn Văn Chúc có bốn yếu tố sau:
- Ứng xử được thường xuyên lập đi lập lại tức là tính thời gian của ứng xử.
- Ứng xử được thường xuyên lập lại tương đối theo cùng một cách bởi nhiều người, tức là
tính không gian của ứng xử.
- Ứng xử có tác dụng chỉ nam mẫu mực hay quy tắc cho các thành viên của một nhóm hay
một xã hội.
- Ứng xử ấy chứa đựng một ý nghĩa xã hội nào đấy, tức là nó biểu hiện kiến thức tư tưởng
hoặc tình cảm mà chủ thể đã đạt được, nói cách khác nó mang vác một giá trị (kinh tế, chính
được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa người với người trên các căn cứ pháp luật và đạo lý nhằm
thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng, của xã hội” [54, tr 73].
Cùng với quan niệm nêu trên nhà nghiên cứu khác cũng đã đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh văn
hóa ứng xử của cộng đồng, của cá nhân trong quan niệm của họ về văn hóa. Có thể dẫn ra hàng loạt định
nghĩa về văn hóa có liên quan đến ứng xử.
Theo Trần Quốc Vượng “Văn hóa là thế ứng xử, năng động của một cộng đồng (ứng xử t
ập thể)
hay một cá nhân (ứng xử cá nhân), đứng trước thiên nhiên xã hội, to nhỏ và đứng trước chính mình. Văn
hóa là lối sống (mode di vie), là nếp sống (train de vie) tập thể và cá nhân “[98, tr 97].
Còn Bùi Thiết trên cơ sở quan niệm văn hóa là một phức hệ hay là đa phức hệ các hoạt động của xã
hội loài người đã được xem văn hóa ứng xử là một trong ba thành tố văn hóa (gần văn hóa vật chất, văn
hóa tinh thầ
n, văn hóa ứng xử). Theo đó văn hóa ứng xử là cách ứng xử mà con người sáng tạo và xác lập
để duy trì các mối liên hệ người với người và giữa con người với thế giới xung quanh [90, tr 21]. Bùi
Thiết cũng xác định “Văn hóa ứng xử như ta biết, tồn tại phổ biến và rộng khắp mọi lĩnh vực hoạt động
của con người”[91, tr 23].
Tác giả Trần Thúy Anh trong cuốn “Th
ế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ
qua một số câu ca dao tục ngữ” cho rằng “Văn hóa ứng xử là toàn bộ những tín điều, truyền thống…
hướng dẫn hành xử mà các cá nhân trong một xã hội được xã hội đó trao truyền bằng nhiều hình thức học
tập” [2, tr 19].
Phạm Vũ Dũng cũng định nghĩa văn hóa ứ
ng xử: “Văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những
nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người với những
đối tượng khác thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi nếp sống tâm sinh lý… trong quá trình phát triển và hoàn
thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hóa xã hội hóa trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội, toàn
bộ xã hội, phù h
ợp với đời sống xã hội, với đặc trưng bản sắc của văn hóa dân tộc, một quốc gia… được
cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội thừa nhận và làm theo”[20, tr 27].