BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
--------------------------------------------------------- THÁI THỊ PHƯƠNG THẢO
VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI MIỀN TRUNG
TRONG TRUYỆN NGUYỄN MINH CHÂU
NHỮNG NĂM 80
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN KHA Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2010
Người thực hiện luận văn
Thái Thị Phương Thảo PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Ba mươi năm miệt mài trên con đường sáng tạo văn học, Nguyễn Minh Châu đã để lại
số lượng lớn những sáng tác vừa mang giá trị nhân văn cao cả vừa độc đáo về bút pháp thể
hiện. Đặc biệt, trong thời kì văn học đổi mới, với những tác phẩm không chỉ đánh dấu cho
bước chuyển âm thầm mà quyết liệt trong quan niệm sáng tác mà còn đạt tới sự hoàn thiện
nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã được công luận trân trọng ghi nhận là “người mở đường
đầy tài hoa và tinh anh”(Nguyên Ngọc). Ông trở thành đại diện tiêu biểu cho phong trào đổi
mới văn học thời kì sau chiến tranh với những sáng tác gây chú ý, hấp dẫn người đọc.
Tác phẩm Nguyễn Minh Châu sau 1975 phản ánh rất nhiều nội dung, một trong những
nội dung mà ông dồn nhiều tâm huyết là phản ánh văn hóa và con người miền Trung. Vấn đề
văn hóa và con người ở từng địa phương, từng vùng văn hoá đang là mũi nhọn nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học xã hội trong giai đoạn Đảng ta chủ trương xây dựng một nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì lẽ đó mà ở lĩnh vực văn chương, tìm hiểu
“Văn hoá và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80” sẽ
góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu văn hoá và con người Việt Nam hiện nay. Hơn thế
phê bình đăng trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương (theo Tôn Phương Lan). Mặc
dù thời kì này Nguyễn Minh Châu chưa thực sự là một gương mặt nổi bật, có sức hấp dẫn
lớn đối với giới phê bình nhưng số lượng đáng kể các bài phê bình ít nhiều cho thấy đã có
một gương mặt nhà văn Nguyễn Minh Châu khá ấn tượng trong đời sống văn học bấy giờ.
Đánh giá về ngòi bút Nguyễn Minh Châu trong tiểu thuyết đầu tay Cửa sông, nhà nghiên
cứu Phong Lê nhận xét: “Nguyễn Minh Châu tỏ ra có khả năng khái quát hoá cuộc sống.
anh biết chọn lựa những tình huống, những hoàn cảnh điển hình để có thể qua việc miêu tả
hình ảnh cuộc sống ở một nơi mà cho ta hiểu nhiều nơi. Anh biết thu gọn những vấn đề lớn
của xã hội vào trong khuôn khổ câu chuyện” [59, tr.122-123]. Nguyễn Đăng Mạnh – Trần
Hữu Tá khẳng định “hướng đi và triển vọng của Nguyễn Minh Châu” “nói chung là chắc
chắn” [59, tr.125]. Song Thành nhận ra dấu hiệu về “những suy nghĩ và trăn trở trong ngòi
bút” [59, tr.130] Nguyễn Minh Châu thời kỳ này.
Nhìn chung, các ý kiến phê bình thời kì này dù chưa có sự đánh giá cao tài năng Nguyễn
Minh Châu nhưng đều thống nhất ở sự khẳng định một cây bút có tiềm năng, có tâm huyết, đã ghi
được dấu ấn đáng kể trong đời sống văn học bấy giờ, đang “tiến những bước vững chắc và hứa
hẹn” (Phan Cự Đệ) [59, tr.137].
2.1.2 Thời kì từ 1975 đến 1985, với sự trăn trở và mạnh dạn trong đổi mới tư duy nghệ thuật,
sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã trở thành một hiện tượng văn học được dư luận đặc biệt chú
ý với những ý kiến đa chiều. Xung quanh những tác phẩm truyện ngắn như Bức tranh (1976),
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1982), Khách ở quê ra (1984)…đã có hẳn một cuộc
trao đổi về “Truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu” do tuần báo Văn nghệ tổ
chức vào tháng 6 – 1985. Đánh giá về “ hiện tượng Nguyễn Minh Châu” thời kì này, cuộc trao
đổi đã nổi lên hai luồng ý kiến: một bên tỏ ra nghi ngại, dè dặt về hướng tìm tòi đổi mới của
ông; một bên khác lại khẳng định sự tìm tòi của Nguyễn Minh Châu và xem những tìm tòi đó là
cần thiết và có hiệu quả tích cực.
Ở luồng ý kiến thứ nhất, một số nhà nghiên cứu cho rằng sự tìm tòi đổi mới của Nguyễn
Minh Châu đã được đẩy theo “một hướng có vẻ phức tạp hơn nhưng chưa chắc đã là sâu sắc
hơn” (Bùi Hiển). Cũng chính vì thế đã có không ít những “băn khoăn”, những hoài nghi về
“những con người lạ lẫm quá” (Đào Vũ), “những nhân vật dị thường” (Nguyễn Kiên) trên trang
viết của anh. “Một số nhân vật được xây dựng có tính chất khiên cưỡng”, “độc đáo nhưng hơi
lưỡng trên nhiều bình diện về tác giả cũng như tác phẩm,có thể kể tới những công trình tiêu
biểu như việc phân tích tác phẩm bằng việc giải mã các hình tượng ám ảnh ngay trong văn
bản tác phẩm của ông (Đỗ Đức Hiểu, Chu Văn Sơn), tìm hiểu cấu trúc và tình huống của
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (Bùi Việt Thắng), tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn
Minh Châu (Tôn Phương Lan), Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học sau 1975
(Trịnh Thu Tuyết – Nguyễn Văn Long)…
Nhìn chung, Nguyễn Minh Châu đã được xem xét khá kĩ lưỡng ở từng tác phẩm cụ thể,
ở từng giai đoạn sáng tác, ở chân dung con người và cả ở khu vực phê bình tiểu luận. Cũng
như mọi nhà văn lớn, lịch sử sáng tác của ông sẽ còn ngắn hơn nhiều lịch sử quá trình nghiên
cứu về ông. 2.2 Những ý kiến bàn về văn hoá và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh
Châu.
Trong cái trăn trở đầy trách nhiệm, Nguyễn Minh Châu đã dành tình cảm sâu nặng đối
với quê hương mảnh đất miền Trung – nơi ông đã sinh ra và lớn lên. Tác phẩm đầu tiên ông
viết về những con người Cửa sông quê hương, tác phẩm cuối cùng - Phiên chợ Giát – ông
cũng dành phần lớn công sức và tâm huyết để khám phá thể hiện con người miền Trung.
Ngay từ những năm 70, theo dõi bước đi ban đầu của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Kiên
đã tinh tế nhận ra “vùng khám phá” trong sáng tác truyện của ông: “anh đặc biệt rung động
trước những số phận gắn bó với mảnh đất miền Trung khắc khổ, thi vị, anh hùng. Ở đây có
những kỉ niệm quê hương của bản thân anh. Anh tựa vào đó, tựa vào cái thân thiết riêng tư của
số phận từng người để nâng lên thành mối quan hệ giữa chiến sĩ, quân đội với nhân dân và đất
nước” [59, tr.124]. Có thể nói đó là một nhận xét hết sức tinh tế, đã nắm được cái hồn, cái cốt
trong sự trăn trở của Nguyễn Minh Châu ngay từ những ngày đầu.
Năm 1982, khi viết lời tựa cho tiểu thuyết Miền cháy được dịch và in ở Liên Xô,
Nguyễn Đình Thi đã phân tích kĩ lưỡng vùng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm: “cái
giải đất nơi chính khúc giữa nước Việt Nam! Cái vùng đất từ bao đời con người đánh vật với
cát sỏi, gió bão mà dành lấy từng tấc đất trồng trọt, cái nơi “chó ăn đá, gà ăn sỏi” ấy!-
những con người ở đây gan góc, bền bỉ thông minh dưới cái bề ngoài lam lũ, nghèo
Những đồi sim không đủ quả nuôi người
Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười
Chỉ tiếng gió mù trời chen tiếng súng.
để thể hiện những vấn đề da diết nhất của số phận dân tộc mình” [59, tr.87].
Năm 1995, nhân “Kỉ yếu hội thảo 5 năm ngày mất Nguyễn Minh Châu” do hội văn
nghệ Nghệ An tổ chức, Nguyễn Tường Lân đã đi tìm “cốt cách xứ Nghệ quê hương” trong
con người và trên trang viết Nguyễn Minh Châu. Điều đặc biệt được tác giả chỉ rõ, cái cốt
cách ấy không chỉ thấm đẫm sắc nét trên những trang viết về quê hương mà “ngay những tác
phẩm anh viết về những vùng trời khác, những miền đất khác, cái tâm hồn và cốt cách xứ
Nghệ của người viết vẫn lồ lộ in đậm lên mỗi trang văn” [47, tr.497]. Đây là một nhận xét rất
đáng quý để khi khai triển đề tài, chúng tôi không chỉ chú trọng những tác phẩm viết về miền
Trung mà còn phải luôn đặt vấn đề nghiên cứu trong hệ thống là toàn bộ sáng tác của
Nguyễn Minh Châu.
Năm 2004, TS.Nguyễn Văn Kha trong bài viết “Con người miền Trung trong sáng
tác của Nguyễn Minh Châu” trên cơ sở sự phân tích khá kĩ lưỡng và thấu đáo đã đưa ra
những nhận xét tiêu biểu về con người miền Trung trên trang viết Nguyễn Minh Châu ở ba
phương diện:1. Cái nhìn sâu rộng có tính lịch sử về con người và xứ sở mảnh đất miền
Trung. 2. Viết về con người miền Trung, Nguyễn Minh Châu tập trung chú ý vào thân phận
con người và tính cách nhân vật. 3. Khám phá và phát hiện phẩm chất con người là cảm
hứng chủ đạo trong những trang viết về con người miền Trung. Những đóng góp của
Nguyễn Minh Châu cho vùng đất quê hương nói riêng, cho dân tộc nói chung được tác giả
khẳng định đầy trân trọng: “Mảng truyện viết về xứ sở và con người miền Trung của Nguyễn
Minh Châu là bài ca về đất nước, về năng lực người. Cùng với thời gian, mảng truyện này
góp phần khẳng định tư tưởng nhân văn của Nguyễn Minh Châu chứng tỏ sự lịch lãm, am
hiểu sâu sắc về cuộc sống và con người Việt Nam” [54, tr.86]. Đây có thể xem là những định
hướng quan trọng trong quá trình khai triển đề tài của chúng tôi.
Nhìn chung, những ý kiến của các nhà nghiên cứu phê bình đánh giá về tư tưởng, nghệ
thuật, về tài năng, phong cách …của Nguyễn Minh Châu có thể nói khá phong phú, đa dạng
và sâu sắc. Tuy nhiên, những ý kiến liên quan đến vấn đề “văn hoá và con người miền
Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80” lại không nhiều. Dù vậy, những
Trung sẽ đọc Nguyễn Minh Châu, Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân; cũng như muốn biết văn
hóa Nam Bộ phải đọc Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc; muốn thưởng thức văn hóa ẩm thực
miền Bắc phải đọc Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Thạch Lam…Thể hiện bằng hình tượng và
thông qua hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học, những nét riêng của văn hóa được
người đọc cảm nhận sống động, tươi nguyên và cụ thể hơn. Ngược lại, tiếp cận cuộc sống từ
góc nhìn lịch sử văn hóa, nhà văn cũng đem đến những cách nhìn nhận mới mẻ về hiện thực.
Dĩ nhiên không thể đánh giá văn học bằng các tiêu chí và nội dung của văn hóa nhưng xét
văn học từ góc độ này sẽ nhận ra thêm những giá trị rộng hơn và bền vững hơn của nghệ
thuật ngôn từ.
4.2. Phương pháp nghiên cứu lịch sử cũng là phương pháp được vận dụng cùng với
hướng tiếp cận văn hóa học. Yếu tố văn hóa giúp nhà văn miêu tả và lý giải, hay nói cách
khác, tầm văn hóa giúp nhà văn thể hiện về lối sống, tín ngưỡng, phong tục, tập quán,
v.v…của cá nhân, của một cộng đồng thì lịch sử cũng chi phối đời sống của cá nhân, của
cộng đồng và điều này cần được nhận thức, thể hiện. Hiểu như thế thì văn hóa và con người
là sản phẩm của lịch sử. Môi trường chiến tranh chuyển sang hòa bình, biến động về kinh tế,
phong trào xã hội qua các thời kỳ, qua lăng kính của nhà văn đều để lại dấu ấn trong tác
phẩm và nhân vật. Vì vậy khi tiến hành khảo sát văn hóa và con người miền Trung trong
truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu không thể không vận dụng quan điểm lịch
sử để xem xét.
4.3. Phương pháp nghiên cứu loại hình, kiến thức về thi pháp học được vận dụng để
mổ xẻ, phân tích tác phẩm gắn với chiều sâu nhận thức về con người của tác giả; soi sáng
thêm những đặc điểm về văn hóa và con người miền Trung trong truyện của Nguyễn Minh
Châu gắn với đặc trưng thể loại tiểu thuyết.
4.4. Phối hợp giữa các phương pháp có tính công cụ, phát huy tối đa tác dụng của
chúng trong quá trình nghiên cứu để làm nổi bật vấn đề, cụ thể là:
4.4.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp: được dùng để làm sáng tỏ các vấn đề văn
hoá và con người miền Trung trong truyện Nguyễn Minh Châu những năm 80, đi đến kết
luận tính đặc trưng miền Trung trong hệ thống chỉnh thể văn hoá Việt Nam được Nguyễn
Minh Châu thể hiện bằng tư duy nghệ thuật trong sáng tác của mình.
4.4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu: phương pháp này được dùng để so sánh sáng
1.1. Khái niệm văn hoá
Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo ra, có từ thuở bình minh của xã hội loài người.
Văn hoá là một khái niệm rất rộng. Nói như Từ Chi: “Tất cả những gì không phải là tự nhiên đều là
văn hoá” (dẫn theo 110, tr.23). Trong tiếng Việt, văn hoá được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ
học thức, lối sống hoặc theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn,…Trong
khi đó, theo nghĩa rộng thì văn hoá bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín
ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động,…Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu theo nghĩa rộng này, trên
thế giới cũng có hàng trăm định nghĩa khác nhau. Năm 1952, hai nhà nghiên cứu văn hoá người Mĩ là
A.Kroeber và C.Kluckhohn đã thống kê được 150 định nghĩa khác nhau về văn hoá. Cho đến nay, số
lượng các định nghĩa về văn hoá đã vượt qua con số 400. Đúng như F.Mayor đã nói: “Ai nấy đều biết
rất khó định nghĩa văn hoá, có lẽ vì văn hoá định nghĩa chúng ta nhiều hơn là chúng ta định nghĩa
văn hoá” [dẫn theo 68, tr.35].
Trong phạm vi của luận văn, để làm công cụ cho việc triển khai vấn đề, chúng tôi đồng ý với
cách hiểu về văn hoá theo định nghĩa của PGS. Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [93, tr.10].
Trong định nghĩa về văn hóa, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến quan niệm giá trị của chủ
thể văn hóa. Nhìn từ góc độ văn hóa, con người là giá trị cao nhất của đời sống. Con người
với tư cách là một thực thể của văn hóa bao giờ cũng tồn tại trong ba mối quan hệ căn bản:
quan hệ với môi trường tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân mình.
Trong tiến trình phát triển, con người không ngừng tìm kiếm xác lập nguyên tắc cho các
ứng xử với ba mối quan hệ này. Sáng tạo của nhà văn nhìn từ góc độ văn hóa là sự lắng đọng của
các tầng sâu văn hóa được nhà văn tìm cách thể hiện bằng tư duy nghệ thuật. Chính vì vậy, có ý
kiến cho rằng, đọc tác phẩm theo quan điểm văn hóa học là vận dụng những tri thức về văn
hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm.
Mặt khác cũng phải thấy rằng, con người là thực thể văn hóa. Tính cách con người (cá
nhân, cộng đồng người) là sản phẩm của môi trường địa lý, hoàn cảnh lịch sử, gắn với hệ
thống tôn giáo, đạo đức, gắn với phong tục, tập quán, ngôn ngữ , v.v…trong sinh hoạt cá
nhân, cộng đồng. Vì vậy, những nét bản sắc nằm trong hệ giá trị của văn hóa cộng đồng, dân
vào tâm hồn mỗi người dân đất Việt.
Suốt dải đất Trung Bộ, đường bờ biển Việt Nam “ưỡn cong”, “lồi” ra phía sau biển
Đông, đối mặt với hướng gió bão và sóng thần. Chính với đặc điểm này, miền Trung thường
xuyên phải hứng chịu những trận bão lụt nặng nề. Sát bờ biển, từ Quảng Bình trở vô Nam,
Ngãi, Bình, Phú có các dải cồn cát chạy dọc dài Bắc - Nam ghi dấu những đường biển cũ. Ở
giữa các dải cồn cát là một vùng trũng nổi, phân bố xóm làng và ruộng lúa ngày nay. Chân cồn
là những bàu nước ngọt.
Khí hậu miền Trung cực kì khắc nghiệt: gió Lào khô nóng, nắng thì chói gắt như đổ
lửa…Ám ảnh bởi những cơn gió Tây khô rang, bỏng rát, nhà thơ Chế Lan Viên từng thốt lên
chua xót:
Ôi gió Lào ơi, Ngươi đừng thổi nữa
Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ
Những đồi sim không đủ quả nuôi người.
Trên trang thơ Hàn Mặc Tử, trong nguồn cảm xúc dạt dào, da diết của kẻ tha hương,
nỗi nhớ quê được đong đầy bởi hình ảnh khó nhọc, lam lũ:
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang.
Có thể nói, địa hình và khí hậu miền Trung được xem như những dấu hiệu khu biệt
miền Trung với các vùng miền khác.
Về lịch sử, miền Trung cũng trải qua không ít thăng trầm. Năm 1059, vùng Quảng
Bình thuộc về nhà Lí. Năm 1336, Châu Ô, Châu Lí (tức vùng Quảng Trị, Thừa Thiên –
Huế ngày nay) thuộc về nhà Trần. Năm 1470, vùng đất từ núi Thạch Bi (nay thuộc Phú
Yên) trở ra thuộc nhà Lê. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn phủ xứ Thuận Hoá. Từ đó, sự
nghiệp khai phá miền Trung được đẩy lên một bước mới. Rồi 200 năm chiến tranh giữa
Đàng Trong và Đàng Ngoài, miền Trung trở thành lãnh địa được các chúa Nguyễn tạo ra
với ý thức đối kháng với Đàng Ngoài. Kinh đô của vương triều này là vùng Phú Xuân.
Phong trào nông dân khởi nghĩa thế kỉ XVIII làm lung lay chế độ phong kiến. Năm
1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua ở Phú Xuân, đất nước được thống nhất trên cơ bản. Năm
1802, dựa vào thế lực của phương Tây, Nguyễn Ánh chiến thắng vương triều Tây Sơn, cai
quản một đất nước thống nhất. Từ 1802 đến 1945, nhà Nguyễn đặt kinh đô ở Huế. Như vậy
Trong văn hoá của cư dân Việt ở vùng đất đồng bằng và ven biển Trung Bộ có
những yếu tố nằm trong cội nguồn văn hoá Bắc Bộ, như tục thờ thần thành hoàng, những
nghi lễ nông nghiệp như lễ động thổ, tục cúng thổ công, thổ địa…Nhưng cũng lại có
những yếu tố văn hoá mới nảy sinh trong những điều kiện tự nhiên và xã hội mới. Như
bên cạnh làng nông nghiệp có sự tồn tại đan xen các làng của ngư dân, bên cạnh lễ hội
đình của làng nông nghiệp có lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ cá Ông của các làng làm nghề
đánh cá; như lễ cúng đất ở Khánh Hoà, lễ tá thổ ở Phú Yên mà đối tượng là các vị thần
Đất của Champa xưa kia, phản ánh một khía cạnh tâm linh trong cách ứng xử của người
Việt di cư đến lập nghiệp tại một vùng đất khách, quê người.
Văn hoá miền Trung như đã trình bày là một vùng văn hoá vừa có tính thống nhất
vừa có tính đa dạng. Tính đa dạng khiến liền một dải “khúc ruột miền Trung” có thể được
phân vùng thành vùng văn hóa đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ (từ Thanh Hóa đến
Thừa Thiên – Huế), vùng văn hóa duyên hải Trung Bộ (từ Quảng Nam đến Bình Thuận)
[dẫn theo77, tr.352]. Như ở phần giới hạn đề tài đã trình bày, khái niệm miền Trung trong
tác phẩm Nguyễn Minh Châu chủ yếu được giới hạn trong vùng văn hoá Bắc Trung Bộ
với tâm điểm là văn hoá xứ Nghệ nên ở đây chúng tôi chú ý trình bày về vùng văn hoá xứ
Nghệ.
1.2.2. Văn hoá xứ Nghệ
Nằm trong tổng thể văn hoá miền Trung, xứ Nghệ hay còn gọi là Nghệ Tĩnh, vừa có
dấu ấn chung của văn hoá vùng, vừa có nét riêng đầy ấn tượng. Đây là một vùng đất cổ,
một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ thuộc khu vực phía Nam nhà nước Văn
Lang và Âu Lạc xưa. Xa hơn, Nghệ Tĩnh thuộc đất Việt Thường thời cổ. Vùng đất này có
những đặc điểm riêng về thiên nhiên, lịch sử, tiếng nói, con người, về sinh hoạt văn hoá rất
dễ dàng phân biệt với những vùng văn hoá khác trên đất nước. Những điều kiện địa lí, lịch
sử, những thăng trầm đau thương và anh dũng đã hun đúc cho người xứ Nghệ những tính
cách riêng biệt.
Là một phần máu thịt của Việt Nam, Nghệ Tĩnh gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh với
16 ngàn cây số vuông diện tích, cùng chung một dải đất liền với các địa phương khác.
Trước hết, về địa hình, địa mạo, Nghệ Tĩnh có núi rừng trùng điệp, mênh mông,
chiếm ngót hai phần ba diện tích. Núi trải dài và dày đặc ở phía tây, bốn mùa mây phủ,
Từ tính cách này con người Nghệ Tĩnh đã góp phần làm nên lịch sử của Tổ quốc, mở
ra những trang sử vẻ vang cho xứ Nghệ. Vùng đất này đã nhiều phen là bức thành ngăn chặn
hoặc là mũi tiên phong làm tan rã nhiều đội quân xâm lược của các quốc gia, các tộc người.
Nghệ Tĩnh là nơi có nhiều người con nổi tiếng gan góc, mưu trí, kiên cường, bất khuất
trong đấu tranh thiên nhiên cũng như trong đấu tranh xã hội. Nhiều tài năng xuất chúng,
nhiều bậc anh hùng hào kiệt đã được sinh ra và nuôi dưỡng từ mảnh đất nhọc nhằn nhưng
nổi tiếng là “địa linh nhân kiệt” này. Những lãnh tụ kiệt xuất như Quang Trung, Phan Bội
Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh, v.v…là niềm tự hào của người dân xứ Nghệ, là những sao
sáng của nước Việt. Đúng như câu phương ngôn cổ:
Ngàn Hống chon von
Biển ngư bát ngát
Thịnh trị gặp thời
Nhân tài đua phát
Nổi bật của người xứ Nghệ là hành động, hành động đấu tranh đến quên mình. Thế nên,
tính tình người xứ Nghệ cũng có phần hơi khác: chịu gian khổ chứ nhất quyết không chịu
nhục, gan góc có phần bướng bỉnh, mưu trí đến liều lĩnh. Nhưng nổi bật hơn hết đó là khẳng
khái, thẳng thắn, biết quên mình vì nghĩa lớn, ý thức cộng đồng mạnh mẽ, tha thiết yêu quê
hương đất nước.
Nơi đây còn tự hào là vùng đất học. Sự học ở đây không chỉ cho hiểu biết mà còn để
“đổi đời”, học để “lấy chữ làm sang”. Thời đại nào cũng vậy, học trò xứ Nghệ thường đỗ đạt
cao, đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài, nhiều nhà khoa học. Nhắc đến con người xứ
Nghệ, người ta hay nhắc đến “ông đồ xứ Nghệ” với biệt danh “ông đồ gàn”. Gàn của ông đồ
Nghệ là bắt nguồn từ ý thức buộc thiên nhiên, buộc hiện thực phải theo lí trí; bắt nguồn từ
tính cách của một cộng đồng bất chấp cái khắc nghiệt của vùng đất khô cằn, sỏi đá nhằm
“vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” để tạo nên sự sống; bắt nguồn từ ý thức biết vượt qua
hoàn cảnh bằng lòng quyết tâm nhiều khi đậm màu…duy ý chí của người xứ Nghệ. Có thể
nói tính gàn, tính cương trực, rắn rỏi, bất chấp là nét chung của người dân xứ Nghệ.
Miền đất xứ Nghệ hùng vĩ, hữu tình, con người xứ Nghệ thông minh quả cảm. Những
tên núi, tên sông, tên làng, tên xã, những phong tục tập quán, con người xứ Nghệ đã bước vào
trang viết Nguyễn Minh Châu vừa như một lẽ giản dị, vừa như niềm trăn trở thao thức khôn
lấy rổ đựng ruột cho ông ta, buộc lại rồi đưa đi bệnh viện. Ông ta chết. Có một chuyện cũng
lạ: một anh đi biển gặp bão, chết ngoài khơi xa, xác trôi về, cứ trôi quanh co theo con Lạch
Thơi mà vào đến tận cửa nhà mình mới dừng lại. Mùa bão, sau mỗi trận bão, người làng
khóc như ri vì có người nhà chết ngoài biển…”[47, tr.429]. Đó chính là hình ảnh những
người nông dân vùng biển Nghệ Tĩnh quê ông. Nói như nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh, họ là
“những con người chất phác, cục mịch, lực lưỡng như mọc lên từ sỏi đá, rồi nhờ sóng gió
bão táp mà luyện thành xương sắt da đồng. Những con người như thuộc vào thế giới hoang
sơ nào”[47, tr.428].
Tuổi thơ Nguyễn Minh Châu lớn lên trong tiếng mẹ ru, tiếng sóng biển rì rào và cả
trong những tiếng mưa gào gió giật của những trận cuồng phong. Sinh ra trong một gia đình
nông dân đông con (ông bà thân sinh có bốn trai hai gái), Nguyễn Minh Châu là út nên được
cha mẹ và các anh chị thương yêu, được học hành đến nơi đến chốn. Người mẹ phúc hậu và
tần tảo đã để lại niềm yêu kính và cả nỗi day dứt trong ông vì suốt đời ông xa nhà không
chăm chút được tuổi già của mẹ. Bà Doanh, vợ ông, kể: khi nghe tin mẹ qua đời vì bị bỏng
than, ông kêu lên: “ Ôi mẹ! Nỗi thương vô vọng của con!”. Cũng từ đấy, mỗi lần đau ốm mê
sảng lại nghe ông gọi: “Mẹ! Mẹ ơi!”.
Trong hồi ức của nhiều người bạn cùng quê, mỗi lần nhớ lại, họ thường xuýt xoa thán
phục tấm gương hiếu học và cái tài chịu khổ của ông. Nơi mảnh đất người nông dân bốn
mùa bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, vắt cục đất làm ra củ khoai hạt lúa, Nguyễn Minh
Châu cũng như bao học trò nghèo xứ Nghệ từng nếm trải cái đói vàng mắt của những năm
thất bát và khi được mùa dư dật cũng chỉ là “cơm gạo lốc, trốc cá thèn” rất đạm bạc mà thôi.
Vậy mà, cái khổ nghèo của quê hương lại thân thương với ông đến mức tận những ngày sắp
từ giã cõi đời, ông còn thổ lộ với vợ: “Giá bây giờ lại được về ăn bát cơm chiêm với con cá
thèn cửa Lạch quê nhà!”.
Như vậy đấy, quê hương với một thiên nhiên nước biếc non xanh, một truyền thống
nghìn năm văn hiến, một làng quê dữ dội mà hiền hoà, một gia đình thanh bạch nhưng đầm
ấm, một người mẹ nhẫn nại hi sinh…tất cả hoà quyện chung đúc nên nhân cách Nguyễn
Minh Châu, thấm đượm trên từng trang văn đặc sắc của ông. Nhà văn Nguyễn Tường Lân
khẳng định: “Ai từng một lần ghé thăm huyện Quỳnh Lưu, thăm vùng Lạch Thơi, mảnh đất
dồi dào mạch thư hương và rất “phát về văn” này, sẽ càng thấy rõ cái cốt cách xứ Nghệ
Minh Châu là người đầu tiên vào đây. Trong hồi ức của mình, Nguyễn Xuân Thiều đã ghi
lại: “Cuối năm 1975 tôi từ Sài Gòn ra Huế và được biết Nguyễn Minh Châu đang ở ngoài
Quảng Trị. Hoàng Phủ Ngọc Tường kể rằng anh vừa gặp anh Châu rất tình cờ. Anh vừa vào
Diên Sanh thăm cái khu địch dồn dân hồi trước nay đã trở nên hoang phế thảm hại. Trên bãi
cát chỉ còn dây thép gai vương vãi, những túp lều xiêu vẹo trống hoác, ngoài gió và cát nóng
ong ong, chẳng có ma nào hết. Sinh vật đầu tiên mà Tường gặp là con chó gầy giơ xương,
mắt chảy rỉ bước thất thểu, hẳn là một chú chó đói lạc chủ. Và sinh vật thứ hai là Nguyễn
Minh Châu. Anh gặp Châu đang ngồi hí hoáy ghi chép gì trong túp lều hoang…”[47,
tr.469].
Tháng 5-1975, Sài Gòn được giải phóng, Nguyễn Minh Châu theo đại quân rong ruổi
khắp miền Nam nhưng vẫn thấy trong người thiếu một cái gì, và như tuân theo một thứ quán
tính, anh lại quay trở về miền Trung, lại về Quảng Trị - “Về những đồn bốt giữa cồn cát trắng
phau và những xóm làng hoang đến rợn người, trở về cái xứ người chết đầy vui tươi (những
khu tha ma rộng bát ngát và rực rỡ dưới trời xanh) và cái thế giới người sống thì vắng tanh
vắng ngắt, cái xứ mà sự thù hằn, chết chóc, li tán đã trở thành nếp sống” (trích thư Nguyễn
Minh Châu gửi nhà văn Nguyễn Trung Thu) [47, tr.437].
Khẳng định về mối lương duyên “tiền định” giữa Nguyễn Minh Châu và mảnh đất
nhọc nhằn này, Nguyễn Trung Thu đã cho chúng ta một con số tổng kết đầy sức thuyết phục:
“Anh Nguyễn Minh Châu để lại bảy cuốn tiểu thuyết thì bốn cuốn anh viết về con người và
mảnh đất Quảng Trị: Dấu chân người lính, Miền cháy, Những người đi từ trong rừng ra,
Mảnh đất tình yêu. Truyện vừa Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành cùng rất nhiều
truyện ngắn đặc sắc khác, và gần nhất là truyện vừa Cỏ lau – thiên truyện vào loại hay nhất
của Nguyễn Minh Châu hoàn thành trước khi anh lâm bệnh vài tháng, đều là truyện về con
người và về vùng đất này” [47, tr.433]. Lịch sử của vùng đất Quảng Trị nói riêng, của mảnh
đất miền Trung nói chung với những nét đẹp lâu đời, những giá trị vĩnh hằng của xứ sở, với
những cuộc vật lộn đằng đẵng không ngừng không nghỉ…đã được Nguyễn Minh Châu khắc
hoạ đầy chân thực và sống động. Người đọc dẫu chưa một lần được đặt chân tới Quảng Trị
nhưng qua trang viết của Nguyễn Minh Châu cũng như được tận mắt chứng kiến, được sống
cùng những con người và cảnh vật nơi đây.
Sự “si mê” với Quảng Trị cùng những ngày bám sát mảnh đất này đã giúp Nguyễn
với một giọng văn nhiều trắc ẩn” (lời nói đầu tập Cỏ may)[47, tr.513]. Ông ra đi còn để
lại ngổn ngang, dang dở những dự định sáng tác về vùng đất Quảng Trị từng bao năm lăn
lộn, gắn bó, về làng Thơi mảnh đất quê hương nhọc nhằn, lam lũ. Nhưng bằng tài năng và
tấm lòng, bằng một hành trình dẻo dai và gian khổ, bằng cả tâm huyết và sự dũng cảm,
Nguyễn Minh Châu đã để lại một di sản văn chương quý giá, trong đó nổi bật nhất là
những trang viết đặc sắc về văn hoá và con người miền Trung. 1.4. Văn hóa miền Trung trong truyện của Nguyễn Minh Châu.
1.4.1. Cái nhìn sâu rộng có tính lịch sử về vùng quê miền Trung.
Lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc luôn sáng lấp lánh trong
những trang sử hào hùng của mỗi miền quê. Trong từng bước đi lên của dân tộc, “khúc ruột
miền Trung” luôn gắn với bề dày truyền thống của đất nước. Nhịp bước cùng bao thăng trầm
biến thiên của lịch sử, mảnh đất miền Trung được hun đúc từ nỗi khó nhọc của nhiều thế hệ
để làm nên truyền thống lịch sử của làng xã Việt Nam.
Truyền thống lịch sử của đất và người nơi đây trước hết được khẳng định trong sự tiếp
nối của lớp lớp thế hệ góp sức làm nên những tên đất tên làng. Trong Những người đi từ
trong rừng ra, qua sự hồi tưởng của ông lão Đuốc, bóng dáng những con người làm nên
truyền thống lịch sử cho vùng đất quê hương được dựng dậy:
…Ông lão cũng không muốn nhắc lại những thời xa xưa hơn nữa, về những
đoàn người từ ngoài Đèo Ngang, từ cửa Nhật Lệ kéo về đây với lính tráng đi
kèm, những đoàn tù chung thân, những kẻ đạo tặc, những tử tù chờ ngày ra
pháp trường; hoặc những dân xứ biển mạn ngoài Nghệ An, Thanh Hóa hoặc
tận ngoài Bắc đã lang thang phiêu giạt trên con đường đi tìm miếng sống, hoặc
vì bão lụt đắm thuyền, hoặc để chạy trốn cái xứ sở của hào lí phong kiến lâu
đời, hoặc vì can qua chiến tranh, giặc Minh giặc Thanh từ phương Bắc kéo
xuống… [18, tr.486].
Trên bước đường loạn lạc lưu đày, như một sự ngẫu nhiên đầy may rủi của số phận, chính
những con người đó đã đóng vai trò làm nên lịch sử: “Ông lão nghĩ, chính những con người cùng
đường kiệt lối hoặc khốn khổ vì miếng sống đó đã mở rộng đất đai bờ cõi, đã đổ mồ hôi khai phá
những lớp thời gian và nỗi vui buồn của bao người trước- những con người thân
yêu đã trao gửi lại cho chúng tôi xương thịt và linh hồn của họ rồi trở về trong
đất. Trước khi trở về nghỉ ngơi mãi mãi trong đất cát, họ đã cật lực lao động để
để lại cho chúng tôi bây giờ những thôn ổ, làng mạc, những kinh nghiệm, thói
quen làm ăn và cả giọng nói, tiếng cười như sấm của người ven biển. Ai đếm
được có bao nhiêu đời con người đã sống, làm ăn ở đây? Chúng tôi lật từ lòng
đất lên từng vỉa đời sống quá khứ…[19, tr.959-960].
Truyền thống lịch sử đã trở thành chỗ dựa vững chắc, thành những gì thân thương gần gũi
nhất trong tâm hồn mỗi người con đất quê hương. Trở đi trở lại như một nỗi quan hoài, như
niềm tâm đắc, dường như nhà văn muốn truyền đến người đọc niềm tự hào và tình yêu tha thiết
với mảnh đất miền Trung.
Bề dày truyền thống của mảnh đất miền Trung còn được Nguyễn Minh Châu khắc
họa trong dáng vẻ vững chãi, trong nếp sống ngàn đời của mỗi thôn làng. Dẫu qua bao
thăng trầm những thôn làng miền Trung vẫn tồn tại “lâu bền như những hằng số lịch
sử”(chữ dùng của Ma Văn Kháng). Chẳng thế mà xa quê đã hơn chục năm, Định vẫn nhớ,
vẫn ám ảnh bởi những lề thói luật tục vững bền của quê hương. Quy, nhân vật trong Mảnh
đất tình yêu, sau bao thất bại đã tìm thấy cho mình những khoảnh khắc thật bình yên khi
quay về sống giữa đất quê hương: “Sau lưng tôi vẫn là sông, là phá, là nhà cửa và thôn
xóm ấm cúng, là cuộc sống lâu đời và bất diệt của con người với những con sóng đời vô hình
đầy nghiệt ngã…” [19, tr.858].
Cũng chính làng quê hiền lành, thân thương ấy đã chôn vùi bao nhiêu thứ giặc ngoại
xâm: “Hàng chục năm nay cũng như từ ngàn đời, bao nhiêu thứ giặc ngoại xâm đến đây đều