A-Lời mở đầu
Quốc tịch là mối quan hệ chính trị - pháp lý gắn kết một cá nhân với một nhà nước có chủ quyền. Đây là cơ
sở pháp lý đầu tiên để xác định một cá nhân là công dân của một quốc gia nào đó, cũng là cơ sở làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Xác định quốc tịch của một cá nhân là vấn đề vô cùng
quan trọng, từ đó cá nhân mới được hưởng những quyền và lợi ích mà Nhà nước dành cho công dân của mình.
Về phía Nhà nước, việc xác định quốc tịch của công dân nhằm bảo hộ quyền và lợi ích của họ cũng có ý nghĩa
như vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Ở Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề quốc tịch, chỉ hơn một tháng sau ngày đọc “Tuyên
ngôn độc lập”, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 53 - SL quy định vấn đề quốc tịch Việt Nam. Từ
đó đến nay, trải qua các thời kỳ, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định vấn đề quốc tịch. Ngày
20/05/1998, tại kỳ họp Quốc hội thứ 3, Quốc hội khoá X đã ban hành Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998,
nhằm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của công dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
hội nhập khu vực và quốc tế. Hiện nay, nước ta có khoảng gần ba triệu người đang sinh sống và làm việc ở
khoảng 80 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong số này, đa phần đã và sẽ nhập quốc tịch nước ngoài đề
ổn định cuộc sống, làm ăn lâu dài ở nước sở tại nhưng vẫn mong muốn được giữ quốc tịch Việt Nam, được
gắn bó với quê hương Việt Nam. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều người nước ngoài đến làm ăn sinh sống tại
Việt nam, không ít người muốn xin nhập quốc tịch Việt Nam đề được hưởng những quyền và lợi ích về vật
chất và tinh thần mà Nhà nước dành cho công dân của mình. Vì vậy, những quy định về vấn đề quốc tịch Việt
Nam đã và đang thu hút được sự quan tâm và tìm hiểu của rất nhiều người có nhu cầu, các nhà nghiên cứu...Đó
cũng chính là lí do để chúng tôi lựa chọn“Vấn đề quốc tịch theo pháp luật hiện hành - Những điểm kế thừa và
phát triển” làm đề tài cho bài tập nhóm tháng đầu tiên của môn Luật Hiến pháp Việt Nam.
Tiếp cận đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin là: phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng những phương pháp đặc trưng của Khoa học
xã hội như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hoá, lịch sử...
Trong quá trình tìm hiểu không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong sẽ nhận được những ý kiến
đóng góp, phê bình của các thấy cô và các bạn để bài viết của chúng tôi được hoàn thiện hơn.
B- Nội dung
I . Những vấn đề chung về quốc tịch:
1. Quốc tịch là gì ?
Quốc tịch là một chế định cơ bản của luật hiến pháp về địa vị pháp lý của công dân, là tiền đề pháp lý bắt
buộc để một cá nhân có thể được hưởng các quyền và nghĩa vụ công dân của một nhà nước.
vận động xã hội mà kết quả của nó là sự xuất hiện Nhà nước.
Tóm lại, sự ra đời và tồn tại của quốc tịch mang tính khách quan. Nó ra đời, tồn tại và mất đi cùng với sự ra
đời, tồn tại và mất đi của chính quyền nhà nước.
3. Quốc tịch với vấn đề quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Quốc tịch là một chế định cơ bản về địa vị pháp lý của công dân, xác định địa vị xã hội thực tế của họ. Vì
vậy không phải ngẫu nhiên một số nước gọi quốc tịch là‘‘chế độ công dân’’. Để xác định quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân trước hết, phải xác định quốc tịch của họ. Nếu như quyền và nghĩa vụ là chế định trung tâm
của Luật Hiến pháp về địa vị pháp lí của công dân thì quốc tịch là chế định có tính chất tiền đề, có ý nghĩa
quyết định. Người có quốc tịch của Nhà nước nào thì được hưởng các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ do
pháp luật của nhà nước đó quy định, đồng thời phải chịu sự chi phối và quản lý về mọi mặt của Nhà nước.
Ngày nay, khi con người trở thành trung tâm của mọi sự phấn đấu, mọi hoạt động của Nhà nước thì các
quyền và nghĩa vụ của công dân ngày càng được mở rộng cùng với sự phát triển về mọi mặt của xã hội. Đồng
thời, yêu cầu của Nhà nước đối với công dân cũng lớn hơn, đòi hỏi họ phải sử dụng tích cực các quyền và thực
hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh hơn các nghĩa vụ công dân của mình. Hiến pháp 1992 của Nhà nước ta đã quy định
rộng rãi các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, làm cho mọi công dân ý thức dược rõ ràng và đầy đủ hơn
địa vị thực tế của mình trong xã hội. Qua đây ta có thể thấy được mối liên hệ hứu cơ giữa quốc tịch với các
quyền và nghĩa vụ của công dân. Chỉ khi nào một cá nhân đã trở thành công dân của một nhà nước độc lập, có
chủ quyền thì các quyền và nghĩa vụ công dân của họ mới thật sự có ý nghĩa thực tế và phát huy được tác dụng
thiết thực của nó.
Mối quan hệ giữa quốc tịch với các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được thể hiện rõ trong lịch sử
phát triển của Nhà nước ta. Khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, nhân dân ta từ chỗ mất
nước đã trở thành công dân của một quốc gia độc lập, có chủ quyền ; từ chỗ không có chút quyền nào đến chỗ
có quyền làm chủ đất nước. Vị trí làm chủ đó ngày càng được hoàn thiện và củng cố. Các quyền và nghĩa vụ
công dân ngày càng được mở rộng và đảm bảo chắc chắn đi đôi với sự tăng cường, mở rộng kinh tế, chính trị,
xã hội của Nhà nước ta. Công dân không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của Nhà nước. Mọi hoạt động của
Nhà nước ta từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp ngày càng mang tính xã hội hoá cao độ.
Như vậy, quốc tịch có mối liên hệ mật thiết với các quyền và nghĩa vụ của công dân, thể hiện đầy đủ và sâu
sắc địa vị làm chủ của công dân trong nhà nước xã hội chủ nghĩa; có tính chất động lực, thúc đẩy sự phát triển
xã hội cũng như quá trình dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội.
II. Những vấn đề cơ bản trong pháp luật quốc tịch Việt Nam hiện hành - sự kế thừa và phát
- Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định tại Điều 45 quyền của mỗi cá nhân đối với quốc tịch: “Cá
nhân có quyền có quốc tịch. Việc công nhận, thay đổi, nhập quốc tịch, thôi quốc tịch Việt Nam được thực hiện
theo theo quy định của pháp luật về quốc tịch.”
- Luật quốc tịch Việt Nam ngày 20/5/1998 với 42 điều, chia làm 6 chương. Đây là đạo luật quy định tương
đối toàn diện các vấn đề cơ bản về quốc tịch Việt Nam.
- Nghị định số 104/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/1998 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Luật quốc tịch Việt Nam: gồm 34 điều quy định thủ tục, trình tự giải quyết việc xin nhập, xin trở lại, xin thôi
quốc tịch Việt Nam, việc cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, xác nhận mất quốc tịch Việt Nam, tước
quốc tịch Việt Nam.
- Thông tư liên tịch số 09 ngày 31/12/1998 của Bộ trưởng Bộ tư pháp về việc ban hành các mẫu giấy tờ liên
quan đến quốc tịch Việt Nam, trong đó quy định 19 loại mẫu giấy tờ.
Ngoài ra, bộ phận quan trọng khác của hệ thống luật quốc tịch Việt Nam là điều ước quốc tế mà Nhà nước
ta đã hoặc sẽ ký kết, trực tiếp điều tiết các vấn đè về quốc tịch như hiệp định biên giới, hiệp định về nuôi con
nuôi, Công ước quốc tế về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi, Công ước về hạn chế và ngăn ngừa
tình trạng không quốc tịch, hiệp định tương trợ tư pháp.
Tóm lại, hệ thống pháp luật về vấn đề quốc tịch Việt Nam hiện nay đã khá hoàn thiện, bao gồm nhiều văn
bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Luật quốc tịch năm 1998. Trên cơ sở kế thừa và phát triển các văn bản
pháp luật trước đó về vấn đề quốc tịch, Luật quốc tịch 1998 là căn cứ chủ yếu để giải quyết những vấn đề liên
quan đến quốc tịch Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay.
2. Các nội dung cơ bản của Luật quốc tịch Việt Nam hiện hành.
2.1. Nguyên tắc Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một
quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.
Theo Luật quốc tịch năm 1998 cùng với việc khẳng định mỗi cá nhân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có quyền có quốc tịch tại Điều 1, nguyên tắc một quốc tịch được quy định rõ ràng tại Điều 3: ‘‘Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam’’.
Theo đó, người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Việt Nam hoặc công dân đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập
quốc tịch nước ngoài, nay muốn trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài. Nguyên tắc
này có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đây cũng là nội dung xuyên suốt
trong các văn bản pháp luật trước đó quy định về vấn đề quốc tịch, ngay từ những văn bản đầu tiên mang tính
sơ khai như Sắc lệnh số 53-SL ngày 20/10/1945, Sắc lệnh số 73-SL ngày 7/12/1945... nhưng trực tiếp nhất là
Nguyên tắc một quốc tịch trong Luật quốc tịch 1998 đã có sự kế thừa Luật quốc tịch 1988, song do rất khó
áp dụng triệt để nguyên tắc này trong thực tế nên Luật quốc tịch 1998 đã tạo ra cơ chế thực thi nguyên tắc một
quốc tịch một cách linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với thực tiễn.
2.2. Có quốc tịch Việt Nam.
Luật quốc tịch Việt Nam 1998 đã quy định rõ đối tượng nào có quốc tịch Việt Nam tại Điều 14:‘‘Người có
quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người
có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này’’. Trên cơ sở này, ta có thể chia thành các trường hợp sau:
Thứ nhất, là những người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật quốc tịch 1998 có hiệu lực.
Trường hợp này bao gồm tất cả những ai hiện đang là công dân Việt Nam, không phụ thuộc vào việc họ được
xác định và công nhận như thế nào. Còn từ ngày Luật quốc tịch năm 1998 có hiệu lực thì việc xác định người
có quốc tịch Việt Nam căn cứ vào những quy định trong Luật, phù hợp với những quy định chung về quyền
đối với quốc tịch được quy định trước đó trong Điều 1 Luật quốc tịch 1988:‘‘Mọi thành viên của các dân tộc
đều có quốc tịch Việt Nam’’ và nay được quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật quốc tịch 1998:‘‘Ở nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch’’. Nghĩa là các dân tộc sinh sống lâu đời
trên lãnh thổ Việt Nam đều có chung một nhà nước là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các
thành viên của dân tộc đó là công dân Việt Nam.
Thứ hai, là những người có quốc tịch Việt Nam do sinh ra. Việc xác định quốc tịch do sinh ra là một vấn đề
quan trọng trong pháp luật quốc tịch. Đối với nước ta, việc xác định quốc tịch của những trẻ em sinh ra được
dựa trên cơ sở kết hợp hài hoà hợp lý của cả hai tiêu chí huyết thống và nơi sinh. Tuy nhiên, nguyên tắc huyết
thống là nguyên tắc giữ vị trí ưu tiên trong Luật quốc tịch Việt Nam 1998. Đây cũng là nguyên tắc cơ bản
xuyên suốt trong các văn bản pháp luật quy định về quốc tịch trước đó.
Luật quốc tịch 1998 đã kế thừa gần như hoàn toàn Điều 6 Luật quốc tịch 1988 vấn đề này tại điều 16, 17.
Điều 16:‘‘Trẻ em có cha mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh ra
trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam’’. Nghĩa là luật xác định quốc tịch Việt Nam cho con của những người
mang dòng máu Việt Nam, không phụ thuộc vào nơi sinh của chúng. Điều này phù hợp với nguyên tắc nhân
đạo của Nhà nước ta để hạn chế tình trạng không quốc tịch.
Theo khoản 1 Điều 17 trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người
không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam, không kể
trẻ em đó sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Đây cũng là điều luật khẳng định việc có quốc tịch Việt Nam không phụ thuộc vào nơi sinh. Luật quốc tịch
5. Các căn cứ quy định tại Điều 19, 28 và 30 của Luật này.’’
Tóm lại, trên cơ sở kế thừa Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 và những văn bản pháp luật trước đó, Luật
quốc tịch năm 1998 có những điểm phát triển hơn để phù hợp với hoàn cảnh mới và thể hiện trình độ lập pháp
của các nhà làm luật.
2.3. Nhập quốc tịch Việt Nam :
Nhập quốc tịch là việc một cá nhân sau khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định được trở
thành công dân của một Nhà nước thông qua quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Điều 20 Luật quốc tịch
năm 1998 quy định về vấn đề này.
Trên cơ sở kế thừa khoản 1 Điiêù 7 Luật quốc tịch 1988.khoản 1, Điều 20 quy định các điều kiện để nhập
quốc tịch Việt Nam:‘‘Công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch hiện đang thường trú ở Việt Nam có
đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam, thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây :
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Việt
Nam;
c) Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập cộng đồng xã hội Việt Nam;
d) Đã thường trú ở Việt Nam 5 năm trở lên;
đ) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.’’
So với các điều kiện trong Luật quốc tịch 1988, Luật quốc tịch 1998 nêu ra những điều kiện nhiều hơn(5
điều kiện trong khi trước đó chỉ có 3). Mặt khác, những điều kiện đã được đề cập đến trước đó nay cũng được
sửa đổi, bổ sung cho cụ thể và chính xác hơn.Việc quy định các điều kiện trên nhằm đảm bảo rằng người nước
ngoài sau khi nhập quốc tịch Việt Nam đã có sự hiểu biết tối thiểu về chính sách pháp luật của nhà nước, về
phong tục tập quán của Việt Nam và có khả năng hoà nhập vào cộng đồng xã hội Việt NamởnTên cơ sở đó có
thể ổn định cuộc sống, làm ăn tại Việt Nam.
Qua đây ta thấy, tuy các điều kiện trong Luật quốc tịch 1998 đặt ra nhiều hơn nhưng rõ ràng là mang tính
khả thi, dễ thực hiện và sát hợp với thực tế hơn.
Khoản 2 quy định những trường hợp được miễn, giảm điều kiện xin nhập quốc tịch Việt Nam:‘‘Công dân
nước ngoài và người không quốc tịch có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có đủ các điều kiện
quy định tại các điểm c,d, đ khoản 1 điều này, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây :
a) Là mẹ, chồng, con, cha hoặc mẹ của công dân Việt Nam;
b) Có công lao trong việc xây dựng và phát triển Tổ quốc Việt Nam;