Lời nói đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay, hội
nhập và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế đã trở thành một xu
thế tất yếu khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều các nước tham
gia, buộc các nước phải thực hiện chiến lược mở cửa kinh tế
nhằm tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế và vượt qua thách thức
thì mới có thể phát triển nhanh nền kinh tế của quốc gia mình,
đóng góp chung vào tăng trưởng kinh tế khu vực và toàn cầu.
Không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu không tham
gia vào quá trình này và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế
chung này. Hiện nay mỗi quốc gia muốn phát triển thì không còn
cách nào khác là tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) - Tổ chức thương mại toàn cầu lớn nhất, quan trọng nhất
thu hút tới 149 quốc gia thành viên và chi phối đến 95% tổng kim
ngạch thương mại thế giới. Đây cũng chính là nguyên nhân chi
phối trong việc định hướng cho kế hoạch phát triển kinh tế của
Việt Nam trong những năm gần đây. Các chính sách mà Nhà nước
Việt Nam đưa ra đều phục vụ cho mục tiêu được là thành viên
chính thức của WTO xem đó như là một con đường tốt nhất để
rút ngắn tụt hậu so với các nước khác và có điều kiện phát huy
tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mình trong phân công lao
động và hợp tác quốc tế.
Mặc dù vị thế của Việt Nam khi gia nhập WTO không giống
như các nước thành viên khác (ví dụ như nước láng giềng Trung
Quốc) nhưng chúng ta có thể rút kinh nghiệm từ những thành
1
công và hạn chế của các nước đó để có thể tiến hành tốt nhất tự
do hoá thương mại theo như cam kết từ đó đưa nền kinh tế phát
triển một cách hiệu quả và hạn chế những thua thiệt mà quá trình
cạnh tranh không cân sức này mang lại.
Chính vì lý do này, mà em chọn đề tài “WTO và những vấn
II. Điều kiện cần thiết để tham gia WTO
III.Những lợi ích mà WTO mang lại cho các nước thành viên
Chương II
KháI quát chung về kinh tế việt nam
I.Đặc điểm cơ bản của các ngành kinh tế chủ chốt của Việt
Nam trước khi gia nhập WTO
1. Công nghiệp
1.1Ngành dệt may
1.2. Các ngành công nghiệp lắp ráp (điện tử, ô tô, xe máy)
3
1.3. Công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu
2. Nông nghiệp
II. Những tác động từ việc gia nhập WTO
1. Tác động đến kinh tế
2.Tác động đến xã hội
Chương III
Những lợi thế của Việt Nam khi gia nhập WTO
I. Lợi thế về thương mại
1. Khái quát thương mại Việt nam trước khi gia nhập WTO
2. Phân tích những điều kiện mà WTO đem lại cho thương mại
Việt Nam
2.1 Thương mại tự do giúp giảm chi phí cuộc sống và tăng thu
nhập
2.2 Kích thích tăng trưởng kinh tế
3.Thực trạng thương mại Việt nam khi tham gia WTO
II/ Lợi thế về xuất khẩu
1.Khái quát xuất khẩu Việt nam trước khi gia nhập WTO
2.Những lợi thế mà WTO mang lại cho xuất khẩu Việt nam.
2.1 Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam
2.2 Các định hướng chiến lược trong kỳ hội nhập
chức Thương mại quốc tế có thể được sử dụng để kiểm soát chứ
không phải đem lại tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn của
Hoa Kỳ (Lisa Wilkins, 1997).
6
ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào để
điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại. Đó là Hiệp định chung
về Thuế quan và Thương mại (GATT).
GATT ra đời sau Đại chiến Thế giới lần thứ II trong trào
lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên nhằm điều tiết các hoạt
động hợp tác kinh tế quốc tế. GATT đóng vai trò là khung pháp
lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50
năm mà điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển,
thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank –
WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF)
ngày nay. Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật
chơi cho thương mại quốc tế điều tiết các lĩnh vực về công ăn
việc làm, về thương mại hàng hóa, khắc phục tình trạng hạn chế,
ràng buộc các hoạt động này phát triển,23 nước sáng lập GATT
đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và
việc làm, dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức
thương mại Quốc tế (International Trade Oganization –ITO) với
tư cách là cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc. Đồng thời,
các nước này cùng tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và
xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong
thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục
tiêu tự do hoá mậu dịch, mở đường cho kinh tế thương mại phát
triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của
nhân dân của các nước thành viên.
Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO)
7
sau:
WTO là nơi đề ra những qui định: Để điều tiết hoạt động
thương mại giữa các quốc gia trên qui mô toàn thế giới hoặc gần
như toàn thế giới. Tính đến thời điểm 31 tháng 12 năm 2005,
WTO có 149 thành viên.
WTO là một diễn đàn để các nước, các thành viên đàm
phán: Người ta thường nói, bản thân sự ra đời của WTO là kết
quả của các cuộc đàm phán. Sau khi ra đời, WTO đang tiếp tục tổ
chức các cuộc đàm phán mới. “Tất cả những gì tổ chức này làm
được là đều thông qua con đường đàm phán”. Có thể nói, WTO
chính là diễn đàn để các quốc gia, các thành viên tiến hành thoả
thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề thương
mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, để giải quyết tranh chấp
phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên.
WTO gồm các qui định pháp lý nền tảng của thương mại
quốc tế: Ra đời với kết quả ghi nhận trong hơn 26.000 trang văn
bản pháp lý, WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ
để mỗi thành viên hoạch định và thực thi chính sách nhằm mở
rộng thương mại, tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập và nâng
cao đời sống nhân dân các nước thành viên. Các văn bản pháp lý
9
này bản chất là các “hợp đồng”, theo đó chính phủ các nước tham
gia ký kết công nhận (thông qua việc gia nhập và trở thành thành
viên của WTO) cam kết duy trì chính sách thương mại trong
khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận. Tuy là do các chính phủ
ký kết nhưng thực chất mục tiêu của các thoả thuận này là để tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất hàng hoá, cung
cấp dịch vụ, các nhà nhập khẩu thực hiện hoạt động kinh doanh,
buôn bán của mình.
WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp: Nếu mục tiêu
- Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát
triển.
- Để đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan điểm trong việc
tạo lập các chính sách kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ
hợp tác với Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới và các
cơ quan trực thuộc của nó.
1.3. Mục tiêu của WTO
- Mục tiêu kinh tế: Thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương
mại hàng hóa và dịch vụ; phát triển bền vững và bảo vệ môi
trường; thúc đẩy phát triển thể chế thị trường. Những hoạt động
11
này được thực hiện thông qua việc loại bỏ hàng rào thương mại,
nâng cao nhận thức và hiểu biết của chính phủ, tổ chức và cá
nhân về các qui định điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế, xây
dựng môi trường pháp lý, thương mại rõ ràng.
- Mục tiêu chính trị: Giải quyết các bất đồng và tranh chấp
thương mại giữa các thành viên trong khuôn khổ hệ thống thương
mại đa phương phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của công pháp
quốc tế và luật lệ của tổ chức này; bảo đảm cho các nước đang
phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ
hưởng lợi ích đích thực từ sự tăng trưởng của thương mại thế
giới, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước và
khuyến khích hội nhập ngày càng sâu hơn vào đời sống kinh tế
thế giới.
- Mục tiêu xã hội: Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm
cho người dân của các nước thành viên, đảm bảo các quyền và
tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng.
1.4. Các nguyên tắc hoạt động của WTO
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử: bao gồm 2 nguyên tắc nhỏ
là dành cho quy chế đối xử quốc gia. Quy chế tối huệ quốc có
13
thuế quan và thương mại; Hiệp định về nông nghiệp; Hiệp định
về các biện pháp tự vệ dịch tễ (kiểm dịch động thực vật); Hiệp
định về hàng may mặc, hàng dệt; Hiệp định về rào cản kỹ thuật
đối với thương mại; Hiệp định về đầu tư liên quan đến thương
mại; Hiệp định về chống bán phá giá; Hiệp định về định giá hải
quan; Hiệp định về kiểm định hàng hoá khi xuất khẩu hàng hóa;
Hiệp định về chứng nhận xuất xứ hàng hoá; Hiệp định về thủ tục
cấp phép xuất nhập khẩu; Hiệp định về biện pháp bảo hộ, trợ giá;
Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS); Hiệp định về sở hữu
trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS); Hiệp định về các biện
pháp tự vệ; Hiệp định liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp.
14
1.5. Cơ cấu tổ chức của WTO
Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội
đồng, uỷ ban của WTO, ngoại trừ Cơ quan Phúc thẩm, các Ban
Hội thẩm giải quyết tranh chấp và các uỷ ban đặc thù.
- Cấp cao nhất: Hội nghị Bộ trưởng – Cơ quan quyền lực
cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai năm
một lần. Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO.
Các thành viên này có thể là một nước hoặc một liên minh thuế
quan (chẳng hạn như Cộng đồng châu Âu). Hội nghị Bộ trưởng
có thể ra quyết định đối với bất kỳ vấn đề trong các thỏa ước
thương mại đa phương của WTO.
- Cấp thứ hai: Đại hội đồng – Công việc hàng ngày của
WTO được đảm nhiêm bởi 3 cơ quan: Đại hội đồng, Hội đồng
giải quyết tranh chấp và Hội đồng rà soát các chính sách Thương
mại. Tuy tên gọi khác nhau, nhưng thực tế thành phần của 3 cơ
quan đều giống nhau, đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ
hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên. Điểm khác
thuận thương mại khu vực, và các vấn đề quản lý khác. Đáng chú
ý là trong số này có Nhóm công tác về việc Gia nhập chịu trách
nhiệm làm việc với các nước xin gia nhập WTO.
16
Hội đồng Thương mại hàng hoá chịu trách nhiệm đối với
các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan
và Thương mại (GATT), tức là các hoạt động liên quan đến
thương mại quốc tế về hàng hoá.
Hội đồng Thương mại dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các
hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại
dịch vụ (GATS), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại
quốc tế về dịch vụ.
Hội đồng các khía cạnh của Quyền sở hữu trí tuệ liên quan
đến thương mại chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc
phạm vi của Hiệp định về Các khía cạnh của Quyền sở hữu trí tuệ
liên quan đến Thương mại (TRIPS), cũng như việc phối hợp với
các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.
- Cấp thứ tư: Các Uỷ ban và Cơ quan
Dưới các Hội đồng trên là các Uỷ ban và cơ quan phụ trách
các lĩnh vực chuyên môn riêng biệt.
Dưới Hội đồng thương mại hàng hóa là 11 Uỷ ban, 1 nhóm
công tác và 1 uỷ ban đặc thù.
Dưới Hội đồng thương mại dịch vụ là 2 Uỷ ban, 2 nhóm
công tác và 2 Uỷ ban đặc thù.
Dưới Hội đồng giải quyết tranh chấp (cấp thứ 2) là Ban Hội
thẩm và Cơ quan Phúc thẩm.
17
Ngoài ra, do yêu cầu của Vòng đám phán Doha, WTO đã
thành lập Uỷ ban đàm phán Thương mại trực thuộc Đại Hội đồng
để thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán. Uỷ ban này
gia đó có các nghĩa vụ khi trở thành thành viên WTO dựa trên
các thoả thuận đã đạt được sau các cuộc đàm phán song phương,
đàm phán đa phương và tổng hợp các cam kết song phương.
3. Những lợi ích mà WTO mang lại cho các nước thành viên
Khi gia nhập vào WTO, hệ thống này mang lại không ít lợi
ích cho các nước thành viên.
Tuy WTO không thể tuyên bố làm cho tất cả các nước đều
bình đẳng nhưng WTO thực sự làm giảm bớt một số bất bình
đẳng, giúp các nước nhỏ hơn có nhiều tiếng nói hơn. Đồng thời
cũng giải thoát cho các nước lớn khỏi sự phức tạp trong việc thoả
thuận các hiệp định thương mại với các đối tác của mình. Các
quốc gia có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong
việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để
đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn,
hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của
doanh nghiệp. Các quyết định và hiệp định của WTO được thực
19
hiện bằng nhất trí ý kiến. Các hiệp định này áp dụng cho mọi
người. Các nước giàu cũng như các nước nghèo đều có thể bị
chất vấn nếu họ vi phạm một hiệp ước, và họ có quyền chất vấn
các nước khác trong qui trình giải quyết tranh chấp của WTO.
Thiếu một cơ chế đa phương kiểu hệ thống WTO, các nước mạnh
hơn sẽ càng được tự do đơn phương áp đặt ý muốn của mình cho
các nước yếu hơn. Các nước lớn hơn cũng được hưởng những lợi
ích tương xứng. Các cường quốc kinh tế có thể sử dụng diễn đàn
duy nhất của WTO để thương lượng với tất cả hay với hầu hết
các đối tác thương mại của họ cùng một lúc. Trên thực tế, có
riêng một hệ thống nguyên tắc áp dụng với tất cả các nước thành
viên, điều đó đã đơn giản hoá rất nhiều toàn bộ cơ chế thương
mại.
mua nhiều hàng sản xuất của chúng ta hơn. Nó làm tăng thu nhập
của chúng ta, cung cấp cho chúng ta những phương tiện để hưởng
sự lựa chọn gia tăng đó.
WTO làm tăng thu nhập cho các quốc gia. Việc giảm bớt
hàng rào thương mại cho phép thương mại tăng trưởng, điều này
làm tăng thu nhập - cả thu nhập quốc dân và thu nhập cá nhân.
Dự tính của WTO về tác động của các thoả thuận thương mại tại
vòng đàm phán Uruguay 1994 là thu nhập thế giới có thêm từ 109
21
tỷ USD đến 510 tỷ USD. Thương mại cũng làm nảy sinh những
thách thức khi các nhà sản xuất trong nước phải đối mặt với sự
cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Nhưng thực tế rằng có nguồn thu
nhập bổ sung có nghĩa là sẵn có nhiều nguồn lực để các chính
phủ tái phân phối lợi nhuận từ những người được lợi nhiều nhất,
chẳng hạn để giúp các công ty và công nhân thích ứng bằng cách
trở nên năng suất và có khả năng cạnh tranh hơn trong lĩnh vực
mà họ đã và đang làm, hoặc bằng cách chuyển sang các hoạt động
mới.
WTO giúp các quốc gia giải quyết các mâu thuẫn thương
mại một cách xây dựng. Do thương mại tăng lên về mặt khối
lượng, số lượng sản phẩm được trao đổi, số lượng các nước và
công ty tham gia thương mại nên có thêm nhiều cơ hội để những
tranh chấp thương mại nảy sinh. Hệ thống WTO giúp giải quyết
các tranh chấp này một cách hoà bình và mang tính xây dựng.
Nếu để mặc chúng thì những tranh chấp này có thể dẫn đến
những xung đột nghiêm trọng. Một trong những nguyên tắc của
WTO là các thành viên có nghĩa vụ đưa những tranh chấp của
mình tới WTO và không được đơn phương giải quyết. Khi họ đưa
các tranh chấp ra giải quyết tại WTO, thủ tục giải quyết của
WTO là tập trung chú ý của họ vào các nguyên tắc, và có lẽ sau
23
sức chặt chẽ. Đồng thời, sự tự do hoá trong hệ thống thương mại
WTO là kết quả của đàm phán. Những nước cảm thấy chưa kịp
thích ứng với việc mở cửa, có thể phản đối yêu cầu mở cửa đối
với một số lĩnh vực cụ thể. Trong khi thế giới vẫn còn 1,5 tỷ
người dân sống trong tình trạng đói nghèo, chính sách tự do hoá
thương mại đã giúp ba tỷ người thoát khỏi cuộc sống đói nghèo
kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2.
Gia nhập vào WTO sẽ giúp các quốc gia tăng cường thu hút
đầu tư nước ngoài. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên
gay gắt, việc trở thành thành viên của WTO sẽ tạo ra những điều
kiện thuận lợi hơn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Trở
thành thành viên của WTO sẽ thúc đẩy quá trình cải thiện môi
trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút các nguồn đầu tư trong và
ngoài nước vào phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó.
24
Chương II
KháI quát chung về kinh tế việt nam
I.Đặc điểm cơ bản của các ngành kinh tế chủ chốt của Việt
Nam trước khi gia nhập WTO
1. Công nghiệp
Trong những năm qua, công nghiệp luôn duy trì được tốc độ
tăng trưởng cao, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu kinh
tế quốc dân và có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh
tế xã hội của đất nước. Nếu năm 2000, công nghiệp chiếm
36,73% tổng GDP cả nước, thì đến năm 2005 tỷ trọng này đã lên
đến 40,8%. Đến nay, công nghiệp Việt Nam đã có khả năng đáp
ứng toàn bộ nhu cầu trong nước về các hàng hoá tiêu dùng thông
thường và nhiều loại như tư liệu sản xuất quan trọng cho nông
25