Lời Nói Đầu
Nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu tiên sau khi gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) được đánh giá là tiếp tục phát triển tốt. Việc
Việt Nam gia nhập WTO đã có những tác động đầu tiên đến một số lĩnh vực
của nền kinh tế, nhất là xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Riêng vấn đề nghiên cứu tình hình xuất khẩu của những tháng đầu năm 2007
cũng có thể hé mở một số dấu hiệu cho thấy tác động của việc thực hiện
những cam kết gia nhập WTO. Tuy những tác động này chưa thực sự rõ rệt
nhưng cũng tiềm ẩn cho thấy một số xu hướng mới rất đáng quan tâm. Việt
Nam cũng đưa ra những giải pháp để thích ứng với nền kinh tế thế giới. Và
vấn đề được quan tâm nhiều nhất là tình hình xuất nhập khẩu.
Chương 1: Thương mại và thương mại quốc tế ở Việt Nam
1.1 Tình hình thương mại quốc tế hiện nay
Tình hình thương mại quốc tế hiện nay có nhiều khác biệt lớn theo hướng
tích cực so với 2 thập kỷ trước nhưng phải chịu sức ép của cạnh tranh.
Hệ thống thương mại quốc tế đã từng trải qua một giai đoạn thay đổi to lớn
cùng với phát minh ra các công nghệ mới đang làm cho việc lập những chiến lược
hoạt động Marketing và Chiến lược cung cấp theo chuỗi cũng thay đổi theo.
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong
nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc
gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v. trên quy mô toàn
cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác
động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay "tự do thương mại"
nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô
toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn
hoá.
Việt Nam đã và đang mở rộng quan hệ với một số nhước như: ASEAN, Mỹ,
Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc... và các tổ chức quốc tế lớn như WTO,
OECD, UNDP, UNCTAD, Hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam và
Hoà Kỳ (BTA),…
1.2 Những ảnh hướng của hoạt động thương mại quốc tế tới Việt Nam
Năm 2006 7,163.3
6
2.1.2 Thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu
Các thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam theo thứ tự là: Mỹ, EU,
ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia. Trong giai đoạn 2001-2007, Kim ngạch
xuất khẩu vào tất cả các thị trường trọng điểm đều tăng trưởng ấn tượng: xuất khẩu
vào EU tăng 2,8 lần, vào Nhật tăng 2,3 lần và vào ASEAN tăng 2,8 lần. Đáng chú ý
nhất là việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Nếu như năm 2001, giá trị xuất
khẩu sang thị trường lớn nhất thế giới này chỉ là 1065,3 triệu USD, thì đến năm
2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 10,54 tỷ USD, xấp xỉ 10 lần năm 2001. Kết quả này
có được là nhờ Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ kí kết vào năm 2000 và có hiệu lực
vào cuối năm 2001.
Thị trường xuất khẩu có ý nghĩa lớn đối với việc tăng trưởng xuất khẩu theo
nước và vùng lãnh thổ chủ yếu, nếu năm 2000 mới có 7 nước và vùng lãnh thổ đạt
trên 500 triệu USD (Nhật Bản, Trung Quốc, Ôxtrâylia, Xingapo, Đài Loan, Đức,
Mỹ), thì đến năm 2004 đã cao gấp đôi, lên 13 (thêm Anh, Hàn Quốc, Malaixia, Hà
Lan, Pháp, Bỉ).
Mỹ hiện là nước nhập khẩu lớn nhất, chiếm 18,8% tổng kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam. Đây là kết quả của việc ký Hiệp định Thương mại song phương giữa
Việt Nam và Mỹ. Tuy nhiên, thời gian gần qua xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ
7
gặp khó khăn sau các vụ kiện cá basa, tôm, hạn ngạch dệt may, tiền đặt cọc xuất
khẩu thuỷ sản (5 tháng đầu năm 2005 chỉ tăng 13,2%, tỷ trọng chỉ còn chiếm
16,8%) và tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ so với tổng kim ngạch nhập
khẩu lên đến 1526 tỷ USD của Mỹ còn rất nhỏ (chiếm chưa đến 3,3%)
Nhật Bản là nước nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam sau Mỹ. Năm 2004 đạt
3.502,4 triệu USD, tăng 36% so với năm 2000. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang
Nhật Bản chiếm 13,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm tháng đầu
năm 2005, xuất khẩu vào Nhật Bản tăng tới 37,5%, cao gấp hơn hai lần tốc độ
chung và tỷ trọng đã tăng lên đạt 14%.
đến năm 2004 là 2792,1 triệu USD, lớn nhất trong các nước và vùng lãnh thổ.
Singapore là thị trường nhập khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam. Năm 2000 là
2694,3 triệu USD, năm 2004 là 3618,5 triệu USD. Tuy nhiên, Việt Nam luôn luôn ở
vị thế nhập siêu đối với Xingapo và nhập siêu từ đây hiện lớn thứ 3 sau Đài Loan và
Hàn Quốc: năm 2000 là 1808,4 triệu USD, năm 2004 là 2248,5 triệu USD.
Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam: năm 2000 là 2300,9
triệu USD, năm 2004 là 3552,6 triệu USD. Việt Nam đã chuyển từ vị thế xuất siêu
(trước 2002) sang nhập siêu (từ 2002) tuy mức nhập siêu còn nhỏ.
Hàn Quốc là thị trường nhập khẩu lớn thứ 5 của Việt Nam: năm 2000 là
1753,6 triệu USD, năm 2004 là 3328,4 triệu USD. Trong quan hệ buôn bán với Hàn
Quốc, Việt Nam luôn ở vị thế nhập siêu; mức nhập siêu hiện lớn thứ 2 sau Đài
Loan: năm 2000 là 1401 triệu USD, năm 2004 là 1810,9 triệu USD.
Thái Lan là thị trường nhập khẩu lớn thứ 6 của Việt Nam với kim ngạch năm
2004 lên đến 1858 triệu USD và nhập siêu từ đây cũng đã lên đến 1367,1 triệu
USD, lớn thứ 5 trong các nước và vùng lãnh thổ.
Malasia là thị trường nhập khẩu lớn thứ 7, hiện đã vượt mức 1,2 tỷ USD. Nhập
siêu từ đây cũng lớn thứ 7, lên tới 613,6 triệu USD.
Mỹ là thị trường nhập khẩu đứng thứ 8 với kim ngạch 1127,4 triệu USD.
Trong quan hệ buôn bán với Mỹ, Việt Nam luôn luôn ở vị thế xuất siêu, với mức
xuất siêu lớn và liên tục tăng lên (năm 2000 là 369,4 triệu USD, năm 2004 là 3364,9
triệu USD).
Hồng Kông là thị trường nhập khẩu lớn thứ 9 của Việt Nam, hiện đã đạt
1074,7 triệu USD. Trong quan hệ buôn bán với Hồng Kông, Việt Nam luôn luôn ở
9
vị thế nhập siêu, hiện đã ở mức 695 triệu USD, lớn thứ 6 trong các nước và vùng
lãnh thổ.
Ngoài 9 “đại gia” như trên, còn có một số nước và vùng lãnh thổ mà Việt Nam
nhập khẩu vượt 500 triệu USD như Đức, Liên bang Nga, Inđônêxia, Thụy Sỹ, Pháp.
Định hướng xuất khẩu của Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuất khẩu
sang châu Âu, châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước châu Á.
tăng lượng xuất khẩu. Năm 2005, ngành than khai thác được khoảng 25 triệu tấn
than (trong đó xuất khẩu trên 15 triệu tấn), vượt cả chỉ tiêu quy hoạch cho năm 2010
mà Chính phủ đã đề ra. Than đá: mục tiêu xuất khẩu than đá đặt ra trong Chiến lược
phát triển xuất khẩu là 4 triệu tấn/năm trong giai đoạn 2001-2010 với kim ngạch
khoảng 120-150 triệu USD/năm. Dầu thô: Chiến lược đặt mục tiêu khai thác hàng
năm là 14-16 triệu tấn, trong đó một phần dùng cho sản xuất trong nước. Việc giảm
xuất khẩu dầu thô sẽ đi đôi với giảm nhập khẩu sản phẩm xăng dầu từ nước ngoài.
Năm 2005, ngành than khai thác được khoảng 25 triệu tấn than (trong đó xuất khẩu
trên 15 triệu tấn), vượt cả chỉ tiêu quy hoạch cho năm 2010 mà Chính phủ đã đề ra.
Dầu thô cũng khai thác được 20,2 triệu tấn, xuất khẩu tới 19,5 triệu tấn trong năm
2004. Tuy nhiên, sang năm 2005 nhờ chủ trương của Chính phủ nên lượng dầu thô
khai thác và xuất khẩu đã giảm. Như vậy, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nhóm
nguyên nhiên liệu năm 2006 và bình quân 6 năm vẫn chiếm gần 23% tổng kim
ngạch xuất khẩu cả nước. Nguyên nhân chủ yếu là do dự án nhà máy lọc dầu Dung
Quất vẫn chưa hoàn thành trong giai đoạn 2001–2005, ngoài ra nhu cầu và giá thế
giới tăng mạnh ngoài dự báo khiến hai mặt hàng than đá và dầu khí đẩy mạnh khai
thác và xuất khẩu.
Nhóm hàng nông lâm, thủy sản :
Nhóm hàng nông -lâm - thủy sản gồm thủy sản, gạo, cà phê, rau quả, caosu,
hạt tiêu thì thủy sản luôn là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn, kế đến là gạo, cao su, cà
phê, rau quả và hạt tiêu. Tuy nhiên sự sắp xếp này cũng có năm phải chuyển hoán
ngôi vị; chẳng hạn năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm này là 3649 triệu
USD trong đó gồm: thủy sản 1.778 triệu USD, gạo 625 triệu USD, cà phê 391 triệu
11
USD, rau quả 330 triệu USD, caosu 166 triệu USD và hạt tiêu 91 triệu USD thì năm
2006 :thủy sản 2739 triệu USD, gạo 1407 triệu USD, cà phê 735 triệu USD, rau quả
235 triệu USD, caosu 804 triệu USD và hạt tiêu 150 triệu USD trong tổng số 6852
triệu USD giá trị xuất khẩu của cả nhóm. Số giá trị kim ngạch xuất khẩu còn lại là
các mặt hàng nhân điều, chè các loại và đậu phộng nhân.
Hầu hết các mặt hàng đều đạt tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao. Đặc biệt,
năm thứ 17 Việt Nam liên tục xuất khẩu gạo, là năm thứ 3 đạt lượng gạo xuất khẩu
trên 4 triệu tấn, năm thứ 2 đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD; và giữ vững vị trí thứ 2 trên
thế giới về xuất khẩu gạo (vượt qua Ấn Độ). Năm 2005, gạo Việt Nam đã xâm nhập
được vào các thị trường khó tính, yêu cầu chất lượng cao như Nhật Bản, EU, Hoa
Kỳ. Ở thị trường Nhật Bản, năm 2005 Việt Nam đã xuất khẩu được 90.000 tấn gạo
thơm, tăng 60% so với năm trước và giá cũng cao hơn. Những tháng đầu năm 2007,
lần thứ hai thắng thầu xuất khẩu gạo sang thị trường Nhật Bản với số lượng 28.000
tấn. Có được kết quả đó là do chất lượng gạo Việt Nam đã đạt 579 tiêu chuẩn khắt
khe thay cho 250 tiêu chuẩn trước đây. Giá gạo xuất khẩu bình quân năm 2005 đạt
275 USD/tấn so với 232 USD/tấn năm 2004 và 188,2 USD/tấn năm 2003.
Nét đặc biệt quan trọng đánh dấu sự phát triển và tăng trưởng của xuất khẩu
gạo Việt Nam thời kỳ 2001-2006 là, tính ổn định cao trong điều kiện có sự cạnh
tranh quyết liệt trên thị trường thế giới, và năm sau cao hơn trước. Lượng gạo xuất
khẩu bình quân trong thời kỳ này là 3.706 nghìn tấn/năm, so với 1.734 nghìn
tấn/năm thời kỳ 1991-1995 và 3.663 nghìn tấn thời kỳ 1996-2000. Năm 2006 so với
năm 1989, lượng gạo xuất khẩu gấp 3,57 lần, giá gạo tăng 63 USD/tấn (267-204
USD) và kim ngạch tăng gấp 7 lần (1.340/189 triệu USD). Kết quả đó đã được các
tổ chức quốc tế đánh giá cao. Khác với các nước trong khu vực, sản xuất nông
nghiệp nói chung và lúa nói riêng ở Việt Nam phát triển ổn định và tăng trưởng
nhanh. Kết quả sản xuất và xuất khẩu gạo còn có tác dụng tăng thu nhập của nông
dân trồng lúa hàng hóa do giá gạo trong nước tăng cao.
Nhóm hàng công nghiệp chế biến :
Sự thay đổi cơ cấu xuất khẩu sản phẩm chế biến thời kỳ 1985 – 2005
13
Hàm lượng xuất khẩu
Tỷ trọng (%) Tốc độ tăng trưởng (%)
1985 2000 2005 1985 -
1990
1990 -
1995
Trong điều kiện lợi thế về các yếu tố tự nhiên và lao động rẻ đang ngày càng
giảm dần và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, thì sự chậm thay đổi cơ cấu
hàng xuất khẩu theo hướng nâng dần tỷ trọng hàng công nghệ cao sử dụng nhiều
vốn là một hạn chế lớn đối với tăng trưởng xuất khẩu của nước ta. Trong dài hạn,
sự chậm trễ này sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm sức cạnh tranh và cải
thiện cán cân thanh toán.
14
Nếu phân tích cơ cấu xuất khẩu của nước ta có tính đến cả mức độ giá trị tăng
thêm, có thể thấy, tỷ trọng các mặt hàng tinh chế có giá trị gia tăng rất thấp, chỉ
chiếm gần 30% (năm 2006).
Nhìn chung, cơ cấu xuất khẩu mặc dù đã có sự chuyển biến song tốc độ còn
chậm. Tỷ trọng hàng xuất khẩu chế biến (công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp)
còn quá khiêm tốn, trong khi hàng sơ chế và khoáng sản vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn.
Sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, nhìn chung, chưa thật bền vững, còn chứa đựng
nhiều yếu tố rủi ro. Cơ cấu xuất khẩu là một trong những hạn chế lớn nhất của nền
kinh tế. Nếu không tăng nhanh tỷ trọng các mặt hàng chế biến, xét về dài hạn, tăng
trưởng xuất khẩu sẽ khó có thể tiếp tục đà tăng cao như hiện nay.
2.2 Tình hình xuất nhập khẩu của việt nam sau khi gia nhập WTO
Nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu tiên sau khi gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) được đánh giá là tiếp tục phát triển tốt. Tốc độ tăng trưởng
GDP quý I/2007 đạt 7,7%, là mức cao nhất kể từ năm 2001 đến nay, và dự báo tăng
trưởng cả năm 2007 sẽ vượt mức kế hoạch 8,5%. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã
có những tác động đầu tiên đến một số lĩnh vực của nền kinh tế, nhất là xuất nhập
khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
2.2.1. Giai đoạn sau khi gia nhập WTO đến 2007
2.2.1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu
(ĐVT: triệu USD)
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng số Nhập siêu
2006 39.605 44.410 84.015 4.805
8 tháng đầu năm 2007 31.218 37.632 68.850 6.414