Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong thanh niên của các Đảng bộ phường ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn hiện nay - Pdf 28

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chỉ thị số 52CT/TƯ ngày 21/01/2002 của Bộ Chính trị khẳng định:
kết nạp đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, có tính qui luật
trong công tác xây dựng Đảng nhằm tăng cường thêm sức chiến đấu và bảo
đảm sự kế thừa phát triển của Đảng. Đảng là một cơ thể chính trị - xã hội
sống, có quá trình hình thành, phát triển và đào thải riêng. Vì vậy, sự phát
triển của Đảng là đòi hỏi tự nhiên, là qui luật tất yếu, nhằm để bù đắp số
lượng giảm đi và tạo thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hóa Đảng, bảo đảm sự kế
thừa, tạo thêm nhân tố mới trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên
(ĐNĐV).
Thanh niên là lực lượng "rường cột của nước nhà" và Đoàn thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh là đội hậu bị tin cậy của Đảng, là đội quân
xung kích cách mạng, là trường học xã hội chủ nghĩa (XHCN) của thanh
niên. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, thanh niên càng có vị trí, vai trò quan trọng
đối với sự phát triển đi lên của cả dân tộc. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã chỉ rõ: sự nghiệp đổi mới có
thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng
trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước
theo con đường XHCN hay không, phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh
niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên.
Là cấp cơ sở trong hệ thống chính trị, phường là địa bàn mà ở đó
các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được hiện thực
hóa. Nằm trên địa bàn đô thị, phường là nơi diễn ra những hoạt động sản
xuất kinh doanh, sinh hoạt chính trị, xã hội sôi động nhất. Những tác động
1
tích cực cũng như tiêu cực đều diễn ra ở đây. Điều đó đã tác động một cách
trực tiếp đến lý tưởng, động cơ, lối sống của thanh niên thành phố.
Hiện nay, ở Đà Nẵng đảng viên đang sinh hoạt tại các Đảng bộ
phường rất đa dạng và không đồng đều, xét theo nhiều khía cạnh. Số đảng

Riêng về CTPTĐV trong thanh niên ở Đà Nẵng đến nay chưa có công
trình nghiên cứu nào. Cũng tương tự như vậy, vấn đề phát triển đảng viên ở
phường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chưa được nghiên cứu. Vì vậy,
việc nghiên cứu để góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển đảng viên trong
thanh niên của các Đảng bộ phường ở Đà Nẵng là việc làm cần thiết và cấp
bách.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Góp phần đẩy mạnh CTPTĐV trong thanh niên của các Đảng bộ
phường ở Đà Nẵng trong giai đoạn mới và phục vụ công tác giảng dạy của
bản thân ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ vai trò của thanh niên nói chung, thanh niên trên địa bàn
phường nói riêng trong sự nghiệp CNH, HĐH theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thanh niên trên địa bàn phường và
CTPTĐV trong thanh niên của các Đảng bộ phường ở Đà Nẵng từ năm
1997 đến nay. Từ đó, rút ra nguyên nhân của thực trạng, đề xuất một số
giải pháp để làm tốt CTPTĐV trong thanh niên của các Đảng bộ phường ở
thành phố Đà Nẵng giai đoạn mới.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Là CTPTĐV trong thanh niên trên địa bàn phường của các Đảng bộ
phường ở Đà Nẵng từ năm 1997 đến nay.
* Phạm vi nghiên cứu
CTPTĐV là vấn đề rất rộng, có thể nghiên cứu ở nhiều giai đoạn, đối
tượng khác nhau. Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu CTPTĐV trong thanh niên (sống và làm việc ở phường, gắn bó
chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể phường - gọi tắt là thanh niên trên

phát triển đảng viên trong thanh niên
Lịch sử tồn tại và phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)
chứng minh rằng, Đảng luôn luôn chú trọng phát triển đảng trong thanh niên.
Đây là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ đối với tuổi trẻ Việt
Nam mà còn liên quan đến sinh mệnh và sức sống của Đảng. Trong bối cảnh
mới đầy biến động và phức tạp trên thế giới, những thời cơ và thách thức của
đất nước ta hiện nay, ĐCSVN vẫn giữ vững được trọng trách lãnh đạo toàn xã
hội vươn lên. Bản thân Đảng đã tự đổi mới, tự chỉnh đốn để ngang tầm với
nhiệm vụ quan trọng của thời cuộc đặt ra. Vì vậy, CTPTĐV trong thanh niên
nhằm:
Tăng thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hóa đội ngũ, bảo đảm
sự kế thừa và phát triển của Đảng. Làm tốt công tác tạo nguồn để
lựa chọn, bồi dưỡng, kết nạp những người ưu tú có đủ tiêu chuẩn,
trong Đoàn thanh niên, trong công nhân, nông dân, trí thức, chiến
sĩ các lực lượng vũ trang...chú ý những cơ sở trọng yếu, những
nơi còn ít và chưa có đảng viên. Coi trọng chất lượng, không
chạy theo số lượng, bảo đảm chặt chẽ về nguyên tắc, đồng thời
không định kiến, hẹp hòi... phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo
6
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, coi đây là một nhiệm vụ
quan trọng của công tác xây dựng Đảng. Đặt CTPTĐV trong
thanh niên thành chương trình, kế hoạch cụ thể và tổ chức chỉ
đạo chặt chẽ, mang lại kết quả thiết thực [6, tr. 39].
Trong quá trình đấu tranh, trưởng thành, lãnh đạo nhân dân trước
đây và đổi mới hiện nay, các cấp ủy Đảng ở Thành phố Đà Nẵng nói
chung, ở các Đảng bộ phường nói riêng đều nhận thức và quan niệm rằng:
Thứ nhất, trong sự tồn tại và phát triển của mình, Đảng phải thường
xuyên bổ sung vào ĐNĐV những lực lượng mới, ưu tú trong phong trào
quần chúng. Đó là qui luật trong quá trình trưởng thành và là một nội dung
quan trọng trong công tác đảng viên của Đảng. Đặc biệt trong tình hình

đáo ngay từ khi tạo nguồn như tuyên truyền, giáo dục, lựa chọn đến các
khâu kết nạp và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức.
Quá trình đó phải được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ theo đúng Điều lệ
Đảng và hướng dẫn của Trung ương. Trong CTPTĐV phải luôn coi trọng
chất lượng, lấy tiêu chuẩn đảng viên làm cơ sở, phải có kế hoạch, biện pháp
cụ thể, không hạ thấp yêu cầu về chất lượng, chạy theo số lượng, nhưng
cũng không có thái độ hẹp hòi, định kiến, bảo thủ, cầu toàn, không tích cực
tạo điều kiện phát triển đảng viên mới. Lênin cho rằng: "Chúng ta cần có
những đảng viên mới không phải là để quảng cáo mà là để làm việc thật sự.
Những người đó, chúng ta kêu gọi họ vào hàng ngũ của chúng ta, đảng ta
mở rộng cửa để đón những người lao động" [11, tr. 256].
Sức mạnh của Đảng phụ thuộc vào chất lượng đảng viên. Người được
xét kết nạp vào Đảng phải có đủ tiêu chuẩn đảng viên, số lượng chỉ có ý nghĩa
khi bảo đảm chất lượng. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay khi cơ cấu, thành
phần và độ tuổi của ĐNĐV còn mất cân đối thì Đảng cần có một số lượng
đảng viên phù hợp để hoàn thiện tổ chức, thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng.
8
Với ý nghĩa đó, số lượng đảng viên có quan hệ chặt chẽ với chất lượng
đảng viên. Giải quyết mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng chung trong
toàn Đảng đã là khó khăn, phức tạp, lâu dài thì đối với các đảng bộ phường
(nói chung) ở Đà Nẵng nói riêng lại càng nan giải. Bởi vì, do lịch sử để lại
nhiều đảng viên giai đoạn cách mạng trước tiên phong, gương mẫu, hoàn
thành tốt nhiệm vụ. Nay chuyển sang giai đoạn cách mạng mới nhiều đảng
viên do điều kiện hoàn cảnh mới, đòi hỏi năng lực mới, không phát huy
được vai trò của mình. Thậm chí có một bộ phận tụt hậu. Bộ phận này cũng
đã được các cấp ủy Đảng giải quyết dần dần bằng nhiều cách hợp lý, hợp
tình. Nhưng dù có giải quyết thế nào thì theo qui luật 10 đến 15 năm nữa số
này sẽ hết. Trong khi đó hướng kết nạp đảng viên mới hiện nay là chú
trọng vào đối tượng nam, nữ thanh niên ưu tú để "trẻ hóa" ĐNĐV thì ở
phường lại gặp rất nhiều khó khăn cả về số lượng lẫn chất lượng. Do vậy,

chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới thực sự làm cho thế hệ thanh
niên phát huy được vai trò to lớn của mình một cách tích cực, chủ động và
sáng tạo. Do vậy, giáo dục thanh niên được coi là nhiệm vụ hàng đầu để có
con người mới XHCN.
Ph. Ăngghen nêu rõ: Thanh niên không thể đứng ngoài chính trị,
chính hiện thực cuộc sống đã, đang và sẽ cuốn hút tuổi trẻ vào đời sống
chính trị. Chính Ăngghen là người đầu tiên đưa ra các quan niệm như: "Đội
quân xung kích quyết định của đạo quân vô sản", "đội hậu bị của đảng" để
gắn với thanh niên. Vào năm 1853, khi "đảng của Mác" đã khẳng định
được vị trí của mình trên vũ đài chính trị, trong cuộc đấu tranh quyết liệt
chống lại đạo luật đặc biệt của Bítxmác, Ăngghen đã viết: Chính thế hệ trẻ là
nguồn bổ sung dồi dào nhất cho đảng. Luận thuyết của Mác - Ăngghen luôn
khẳng định lực lượng quần chúng nhân dân đông đảo cần được tập hợp, tổ
10
chức và giáo dục, sao cho những biến đổi tư tưởng của họ bắt kịp với thời
đại, đi đúng quỹ đạo của dòng thác cách mạng đang cuộn chảy.
Phát triển sáng tạo những luận điểm của Mác và Ăngghen trong
điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã coi thanh niên là "nguồn sinh lực chiến
đấu của cách mạng". Người chỉ rõ: "Há chẳng phải trong đảng cách mạng
của chúng tôi, thanh niên chiếm ưu thế tuyệt đối là một điều tự nhiên sao?
Chúng tôi là đảng của những người đổi mới, mà thanh niên luôn đi theo đổi
mới. Chúng tôi là đảng đấu tranh chống chế độ cũ thối nát mà thanh niên
luôn đi đầu" [12, tr. 210]. Có thể nói, đây là luận điểm thể hiện rõ nhất, trực
tiếp nhất vai trò của thanh niên trong đấu tranh cách mạng. Với quan điểm
này Lênin khẳng định, thanh niên là một bộ phận quan trọng, hùng hậu của
cách mạng, là đội hậu bị của Đảng cộng sản, là đội quân xung kích trong sự
nghiệp cách mạng của Đảng, là thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng của các
thế hệ đi trước và các thế hệ thanh niên sẽ nối tiếp nhau xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội. Lênin khẳng định:
Chúng ta biết rằng, hiện giờ có hàng chục, hàng trăm

"người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già; đồng thời là người
phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai". "Thanh niên là lực lượng cơ
bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ". Trong mọi công việc thanh
niên là người có khả năng thực hiện khẩu hiệu "đâu cần thanh niên có, việc
khó thanh niên làm" [7, tr. 96]. Người tổng kết: "Thanh niên là một bộ
phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ.
Dân tộc được giải phóng, thanh niên mới được tự do. Vì vậy thanh niên
phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc" [7, tr. 96]. Việc thành
lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (với hạt nhân là cộng sản
Đoàn) để chuẩn bị cho việc thành lập ĐCSVN và sáng lập từ báo cách
12
mạng mang tên Thanh niên chứng tỏ Hồ Chí Minh có một tầm nhìn chiến
lược, khi Người biết rằng chỉ có thanh niên mới có thể "nắm vai trò là
những người châm ngòi lửa đầu tiên cho cách mạng nước ta". Người thấy
rõ sự thịnh suy, mạnh yếu của một dân tộc phần lớn tùy thuộc vào thanh
niên. Coi thanh niên là đầu tàu của lực lượng cách mạng, thức tỉnh thanh
niên để thức tỉnh một dân tộc là điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh.
Trong các tác phẩm, các buổi nói chuyện, Hồ Chí Minh đã đề cập
nhiều đến việc giáo dục đạo đức, đến những mục tiêu, phương hướng, hình
thức, biện pháp thiết thực để giáo dục thanh niên nhằm biến nguồn sinh lực
dồi dào của tuổi trẻ dưới dạng tiềm năng trở thành hiện thực. Theo Người,
giáo dục thanh niên không thể tách rời với những cuộc đấu tranh cải tạo, xây
dựng xã hội. Nhiệm vụ của thanh niên to lớn, vai trò càng vẻ vang thì phẩm
chất, năng lực càng phải cao. Phẩm chất và năng lực đó nhất thiết phải thông
qua con đường giáo dục và rèn luyện mới có. Bác nhắc nhở: giáo dục và
rèn luyện thanh niên là trách nhiệm của Đảng, Chính phủ, các tổ chức của
thanh niên, của gia đình và toàn xã hội. Trong đó, Đoàn thanh niên là tổ chức
chính trị của thanh niên do Đảng lập ra, là người đại diện cho thanh niên, là
hạt nhân đoàn kết, giáo dục và phát huy vai trò xung kích của thanh niên.
Đoàn thay mặt Đảng tập hợp và rèn luyện thanh niên, tổ chức thanh niên

tạp của tình hình trong nước và thế giới, diễn biến tâm lý, tư tưởng của
thanh niên đang có nhiều vấn đề đặt ra phải được suy nghĩ nghiêm túc. Sự
phân tầng về nghề nghiệp và thu nhập trong thanh niên ngày càng rõ nét do
tác động của cơ chế kinh tế thị trường, những chuẩn mực truyền thống và
những định hướng giá trị tốt đẹp đang có xu hướng biến đổi. Do vậy, Đảng
ta đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về công tác thanh niên, khẳng
định sự quan tâm đặc biệt đến thanh niên và công tác thanh niên.
14
Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng
(khóa V) đặt vấn đề: tập hợp thanh niên một cách rộng rãi bằng nhiều loại
hình thức tổ chức linh hoạt khác nhau theo đối tượng, nhu cầu và sở thích để
làm những việc có ích cho xã hội và cho tuổi trẻ. Chú ý thích đáng những đặc
điểm của nữ thanh niên, của thanh niên các dân tộc, các tôn giáo, thanh niên
quân đội, thanh niên học sinh, thanh niên các vùng khác nhau của đất nước.
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa VI) chỉ
rõ: Đảng cần hướng dẫn sự đổi mới nội dung hoạt động của các đoàn thể và tổ
chức quần chúng vào việc đoàn kết đoàn viên, hội viên cùng nhau chăm lo lợi
ích thiết thực của mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước, xây
dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng và ở các cơ sở, đoàn thể cần coi trọng
việc tập hợp quần chúng (trong và ngoài đoàn thể) bằng những hình thức linh
hoạt (nhóm, tổ, câu lạc bộ...) hoạt động theo những nội dung thích hợp. Tiếp
theo tinh thần đó, Nghị quyết 25 của Bộ Chính trị (khóa VI) một lần nữa
khẳng định rằng Đảng, Nhà nước và toàn dân ta phải hết lòng bồi dưỡng, phát
huy tiềm năng và vai trò chủ động của thanh niên trên mọi lĩnh vực của công
cuộc đổi mới, coi đó là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược con người. Đặc biệt,
Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) "Về công tác
thanh niên trong thời kỳ mới" đã đánh giá về thanh niên một cách toàn diện
hơn. Đảng ta chỉ rõ: "Thanh niên ngày nay là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm
năng hùng hậu" [5, tr. 80], "Thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một
trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng" [5, tr. 82].

hoạt động "ăn sâu", "bám chắc" rộng rãi trong các khu dân cư, nắm bắt
thông tin, dư luận, tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của quần
chúng để phản ánh và tham gia cùng cấp ủy Đảng, chính quyền cấp trên kịp
16
thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện, thúc đẩy các phong trào của phường,
của thành phố và cả nước. Đồng thời, trực tiếp tiến hành công tác tuyên
truyền, cổ động, giáo dục, thuyết phục, tổ chức quần chúng quán triệt, thực
hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước,
các chương trình, kế hoạch công tác của cấp trên và của cấp mình nhằm
mục tiêu ổn định chính trị - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, nâng cao đời
sống các tầng lớp nhân dân trên địa bàn phường.
Hai là, làm tốt CTPTĐV trong thanh niên sẽ góp phần trẻ hóa Đảng,
khắc phục sự bất hợp lý trong kết cấu độ tuổi và năng lực lãnh đạo của
ĐNĐV đang sinh hoạt và làm việc tại phường. Mặt khác, việc chú trọng
CTPTĐV trong thanh niên ở phường, ở tổ dân phố sẽ tạo ra được những
hạt nhân cho phong trào quần chúng ở cơ sở. Sự tiếp cận và chà xát của đời
sống thị trường sẽ tạo cho Đảng những cán bộ có đủ năng lực và tính nhạy
bén để hiểu được tâm tư nguyện vọng của quần chúng, cũng như giúp Đảng
tìm được phương sách tốt nhất để hiện thực hóa chủ trương, đường lối của
mình. Làm được như vậy thì sẽ khắc phục được tình trạng xa dân, xa thực
tế mà nhiều chi bộ, đảng bộ ở phường đang mắc phải.
Ba là, tăng cường CTPTĐV trong thanh niên ở phường sẽ nâng cao
trình độ trí tuệ cho Đảng bộ phường và góp phần củng cố khối liên minh
công - nông - trí thức đang công tác, sinh hoạt, nghỉ hưu tại phường.
Xu thế của thời đại ngày nay là phát triển mạnh về khoa học, kỹ
thuật và công nghệ. Lực lượng sản xuất ngày càng chứa đựng hàm lượng trí
tuệ cao, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nghị quyết Hội
nghị Ban chấp hành Trung ương 2 (khóa VIII) chỉ rõ: chỉ bằng con đường
CNH, HĐH, phát triển khoa học - công nghệ mới có thể đưa nước ta từ
nghèo nàn, lạc hậu trở thành một nước giàu mạnh, văn minh. Giai cấp công

18
Đông Nam Á. Đà Nẵng lại nằm giữa quần thể di sản văn hóa thế giới gồm
cố đô Huế, phố cổ Hội An và khu di tích Mỹ Sơn, nên có nhiều lợi thế so
sánh và điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển công
nghiệp, cảng biển, thương mại dịch vụ, du lịch và nhiều ngành nghề truyền
thống khác.
Ngày 1/1/1997 Đà Nẵng đi vào hoạt động theo cơ chế mới trực
thuộc Trung ương, tiếp đó ngày 23/10/1997, Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Điều 1 của Quyết định
đã xác định rõ mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế - xã hội thành phố
đến năm 2010:
Thành phố Đà Nẵng là một trong những trung tâm vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung và của cả nước. Từng bước phát
triển thành phố trở thành hiện đại, liên kết chặt chẽ về qui hoạch,
kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội với các tỉnh miền Trung để thúc
đẩy quá trình CNH, HĐH và bảo vệ môi trường, góp phần cùng
cả nước mở rộng hợp tác, nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế
nước ta trên thị trường khu vực và quốc tế.
Thành phố Đà Nẵng gồm 33 phường, 14 xã, số phường nhiều gấp
2,5 lần số xã. Theo số liệu thống kê dân số đến năm 2000 là 730.000 người,
phân bố không đều giữa năm quận nội thành. Phường là đơn vị hành chính
cơ sở ở nội thành, tổ chức theo khu vực dân cư ở đường phố. Một số
phường ở Đà Nẵng được nâng cấp từ xã lên, có phường dân số động, diện
tích hẹp, mật độ dân số cao (phường Hải Châu 2 mật độ dân số 43.866
người/km
2
). Dân số, ngành nghề ở phường thường xuyên biến động do sự
thay đổi, di dân, di chuyển, công tác... các phường ở trung tâm thành phố là
nơi tập trung nhân lực, cơ sở vật chất, các loại hình văn hóa, xã hội, an
ninh, chính trị tương đối phức tạp.

quyền, xây dựng Đảng thường xuyên được tăng cường. Qui chế dân chủ
được triển khai đến các loại hình cơ sở; thực hiện cơ chế "một cửa" trong các
dịch vụ bước đầu đạt kết quả tốt. Việc tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu
nại, tố cáo được tổ chức tốt (không có tồn đọng). Vai trò, chất lượng và
hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp được nâng cao.
Những thành tựu đổi mới của Đà Nẵng trong gần 6 năm qua là kết
quả của quá trình nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân
dân thành phố, đã và đang tạo ra thế và lực mới để Đà Nẵng tiếp tục phát
triển. Tuy nhiên, sự phát triển đó chỉ mới bước đầu, chưa tương xứng với
tiềm năng và thế mạnh của Đà Nẵng. Muốn trở thành trung tâm công nghiệp,
thương mại dịch vụ, du lịch, văn hóa, khoa học kỹ thuật của miền Trung,
các Đảng bộ phường Đà Nẵng phải giải quyết một số vấn đề chủ yếu sau:
1.2.1.2. Nhiệm vụ chính trị của các Đảng bộ phường
Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XVIII (tháng 2 năm 2001)
đề ra phương hướng chung là:
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quán triệt phương
châm "phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt", tăng
cường khối đoàn kết thống nhất, phát huy cao độ nội lực kết hợp khai thác
mọi nguồn lực bên ngoài, tận dụng mọi thời cơ thuận lợi để phát triển
nhanh và bền vững, phấn đấu xây dựng Đà Nẵng giàu về kinh tế, phát triển
về văn hóa và khoa học công nghệ, đảm bảo quốc phòng - an ninh, hệ
thống chính trị vững mạnh, dân trí ngày càng được nâng cao, cảnh quan
thiên nhiên, môi trường đô thị lành mạnh, sạch đẹp, vươn lên xứng đáng là
một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ của
miền Trung và cả nước [3, tr. 41].
21
Từ phương hướng chung và mục tiêu cụ thể từ năm 2001 đến năm
2005, 33 Đảng bộ có những nhiệm vụ cụ thể như sau:
Một là, xác định chủ trương, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an
ninh quốc phòng...và lãnh đạo thực hiện các chủ trương đó ở phường trên

Biểu 1.1: Phân bố Đảng bộ, chi bộ và số đảng viên
ở các quận trong thành phố
Quận
Tổng số Đảng bộ
cơ sở (phường)
Tổng số
Chi bộ
Tổng số
đảng viên
1. Hải Châu
2. Sơn Trà.
3. Thanh Khê.
4. Liên Chiểu.
5. Ngũ Hành Sơn
12
7
8
3
3
211
98
121
49
54
4.498
1.574
2.373
882
898
Tổng cộng 33 533 10.222

thương mại, dịch vụ... còn lại là đảng viên hưu trí, mất sức lao động.
Trên địa bàn phường ở Đà Nẵng, hiện tại có ba lực lượng cán bộ: cán
bộ đương chức ở phường, cán bộ hưu trí và cán bộ thuộc các cơ quan đơn vị
do cấp trên quản lý cư trú ở phường. Đội ngũ cán bộ công tác tại phường hiện
nay gồm các đối tượng như: cán bộ theo qui định tại Nghị định 09/1998/NĐ-
CP; cán bộ cấp phó Mặt trận và cấp phó các đoàn thể; cán bộ chuyên trách
về: xóa đói giảm nghèo, dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm
sóc trẻ em, văn hóa thông tin; cán bộ hợp đồng (hiện có 206, trong đó 188
do quận, huyện, phường, xã hợp đồng và trả lương từ ngân sách của quận,
24
huyện, xã, phường). Tổng số cán bộ phường, xã theo Qui định
09/1998/NĐ-CP có mặt đến cuối năm 2002 là 983 người. So với trước đây,
đội ngũ này đều được trẻ hóa, chất lượng ngày càng được nâng cao, số
đông được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý nhà nước, lý luận
chính trị. Cụ thể:
- Học vấn: Trung học cơ sở: 3%; Trung học phổ thông: 79,8%.
- Chuyên môn: Đại học 9,8%; cao đẳng, trung cấp: 18,4%; sơ cấp: 0,8%.
- Lý luận chính trị: cao cấp: 4,15%; trung cấp: 41,1%; sơ cấp: 10,9%.
- Quản lý nhà nước: trung cấp 27,2%; bồi dưỡng: 17,7%.
Riêng đối với cán bộ thuộc 4 chức danh chuyên môn ở phường (Tư
pháp - Hộ tịch, Văn phòng - Thống kê tổng hợp, Địa chính, Tài chính - Kế
toán) được thành phố tạo điều kiện bồi dưỡng kiến thức luật, quản lý nhà
nước, tin học... nhằm đáp ứng tiêu chuẩn theo qui định. Đến nay đã có
106/186 cán bộ đủ tiêu chuẩn về chuyên môn (tỷ lệ 57%). Tuy vậy, ĐNĐV
là cán bộ ở phường có tuổi đời bình quân cao, phần lớn là cán bộ, bộ đội
nghỉ hưu, trình độ mọi mặt còn bất cập so với yêu cầu thực tiễn. Nhiều cán
bộ ngại học tập, không muốn tham gia công tác Đảng, đoàn thể xảy ra khá
phổ biến ở phường, cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp. Một số đảng
viên thiếu tinh thần trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh những công việc phức
tạp, không kiên quyết đấu tranh bảo vệ chân lý, lẽ phải. Đặc biệt nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status