1.BỘ
vị trí chức năng của bộ: Bộ, cơ quan ngang Bộ (dưới đây gọi chung là Bộ) là cơ
quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực
được giao trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các
ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
- cơ cấu tổ chức và hoạt động:
+ bộ quản lí ngành: thực hiện quản lí nhà nước đối với các ngành kinh tế- ký thuật,
văn hóa xã hội như nông nghiệp, công nghiệp, giao thong vận tải, giáo dục, văn
hóa
+ bộ quản lí lĩnh vực chuyên môn: thực hiện việc quản lí nhà nước theo từn lĩnh vực
rộng của xã hội như tài chính, lao động, ngoại giao, nội vụ
- mối quan hệ giữa bộ và chính phủ: Theo quy định tại Điều 22 Luật tổ chức Chính
phủ: “Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý
nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước ”, như vậy,
với quy định này ta thấy rằng: Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ, do
Chính phủ quản lý và kiểm tra về hoạt động, để thực hiện được chức năng quản lý,
kiểm tra thì các cơ quan này phải do Chính phủ đứng đầu là Thủ tướng trực tiếp đề
nghị Quốc hội thành lập(theo quy định tại Điều 2 Luật tổ chức chính phủ).
-mối quan hệ của bộ với quốc hội: bộ và các cơ quan ngang bộ do quốc hội thành
lập hoặc bãi bỏ theo đề nghị của thủ tướng chính phủ.
- sự khác biệt giữa bộ và các cơ quan ngang bộ thuộc chính phủ
+ bộ là cơ quan của chính phủ do quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ theo đề nghị của
thủ tướng chính phủ
+ cơ quan thuộc chính phủ do chính phủ thành lập
+ bộ hực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực được giao trong
phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực
thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
+ cơ quan thuộc chính phủ: thực hiện một số thẩm quyền quản lí nhà nước về
ngành, lĩnh vực, 1 số thẩm quyền cụ thể về đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà
nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của PL. 1 số cơ quan hoạt
động sự nghiệp để phục vụ nhiệm vụ quản lí nhà nước
*** - 01 cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự được gọi là thể nhân.
- 01 tổ chức đáp ứng đầy đủ 04 điều kiện theo điều 94 bộ Luật Dân sự:
+ Được thành lập một cách hợp pháp;
+ Có tài sản riêng;
+ Tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình;
+ Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật
thì được gọi là pháp nhân.
3. PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
so sánh điểm giống nhau, khác nhau và mối quan hệ giữa pl và đạo đức trong
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội hiện nay
giống:đều là quy tắc xữ sự chung
chuẩn mực xã hội; giúp con người tự giác đièu chỉnh hành vi sao cho phù hợp
với lợi ích cộng đồng, xã hội.
* Khác nhau:
- Đạo đức:
+ Cơ sở hình thành: Từ thực tế cuộc sống, nhận thức của con người qua các thế
hệ.
+ Tính chất: Không bắt buộc, tự nguyện.
+ Hình thức thể hiện: Qua các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ.
+ Phương thức bảo đảm thực hiện: Dựa vào sự tự giác, thông qua sự đánh giá
khách quan của dư luận.
- Pháp luật:
+ Cơ sở hình thành: Do Nhà nước ban hành.
+ Tính chất: Bắt buộc.
+ Hình thức thể hiện: Qua các văn bản pháp luật.
+ Phương thức bảo đảm thực hiện: Giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế.
Quan hệ: Các chuẩn mực, quy tắc (đạo đức) phù hợp với lợi ích của đa số trong
xã hội được nhà nước thể chế hóa thành pháp luật. Nói cách khác, pháp luật được
xây dựng trên cơ sở đạo đức.
khác: pl do NN ban hành, pl có tinh bắt buộc cưỡng chế của NN, đk tiến hành
đ, nt pháp chế xhcnghia
# theo hiến pháp 1992, bmnn ta hiện nay bao gồm các cơ quan nhà nước sau đây:
-quốc hội-chủ tịch nước-chính phủ-hội đồng nhân dân và Ủy ban nhan dan-Tòa
án nhân dân và Viện kiểm sát nhan dan
mỗi cơ quan nhà nước có một vị trí pháp lý được xác định trong bộ máy nhà
nước, có một phạm vi thẩm quyền được hiến pháp và pháp luật quy định, có quy
chế tổ chưc và hoạt động riêng.
# hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
- hiến pháp, luật, nghị quyết của quốc hội
- pháp lệnh, nghị quyêt của Ủy ban thường vụ Quốc hội
- lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
- nghị định của Chính phủ
- quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
- nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước
- nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với
cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
- thông tư liên tịch giữa chánh án tòa án nhân dân tối cao với viện trưởng viện
kiem sat nd tối cao; giữa bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang nộ với chánh án
tòa án nd tối cao, vien trưởng viện kiểm sát nd tối cáo; giữa các bộ trưởng, thủ
trưởng cơ quan ngang bộ
- (12) văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân
5.ĐÂM XE
Từ sự kiện trên phát sinh 3 loại trách nhiệm pháp lý gồm: Trách nhiệm hành
chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự vì:
- Trách nhiệm hành chính vì: Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm pháp lý áp
dụng đối với những cá nhân, tổ chức đã có hành vi vi phạm hành chính, xâm hại
xảy ra
-Mặt chủ quan: lỗi của ng đâm xe
- Chủ thể: Ng có năng lực pháp lí
-Khách thể: sức khỏe, tài sản của người bị hại (bị hvi vi phạm PL xâm hại)
6:
Khái niệm: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành theo một thủ tục và hình thức nhất định có chứa đựng những quy
tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định và được áp dụng
nhiều lần trong thực tế đời sống
Đặc điểm:
- Là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (theo luật định)
- Là văn bản chứa đựng các quy tắc xử sự chung (các quy phạm pháp luật) mang
tính bắt buộc chung
- Được áp dụng nhiều lần trong đời sống, được áp dụng trong mọi trường hợp khi có
sự kiện pháp lí xảy ra - được đảm bảo thực hiện
- nội dung mỗi quy phạm pháp luật đều thể hiện 2 mặt: cho phép và bắt buộc.
- chuẩn mực hành vi mang tính pháp lí và phổ biến
- tính xác định chặt chẽ về hình thức
- Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật được
quy định cụ thể trong pháp luật
So sánh
,Điểm giống nhau:
-Đều là văn bản pháp luật tức là văn bản do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật ban hành.
-Đều có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thục hiện đối với các tổ chức hoặc cá
nhân có liên quan.
-Đều được ban hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
-Đều được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực
nhà nước.
-Đều được dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
pháp lý.
- Được nhà nước đảm bảo thực hiện
*Khác nhau:
- Khác nhau về bố cục: Một văn bản quy phạm pháp luật bao gồm 3 phần: giả định,
quy định, chế tài và bố cục phải rõ ràng, được bố cục theo phần, chương, mục, điều,
khoản, điểm; phần, chương, mục phải có tiêu đề. Một điều luật có thể không có đầy
đủ 3 phần và càng không có bố cục như văn bản quy phạm pháp luật.
- Điều luật là bộ phận của văn bản quy phạm pháp luật
- Khác nhau về thẩm quyền ban hành: Điều luật được ban hành bởi quốc hội, quy
phạm pháp luật có thể không phải do quốc hội ban hành
Câu 7:Nhà nước có tính giai cấp bởi vì nó được lập ra và duy trì nhằm bảo vệ lợi
ích của một giai cấp nhất định, giai cấp đã sinh ra nó. Nhà nước là công cụ để
giai cấp đó thực hiện chuyên chính với tất cả các giai cấp khác trong xã hội. Ví
dụ nhà nước chuyên chính tư sản thì phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản có vai trò
áp đặt sự thống trị nên các giai cấp khác và có các công cụ bạo lực như cảnh sát,
tòa án, quân đội để đàn áp. Tương tự như vậy với nhà nước chuyên chính vô
sản.Không có nhà nước đứng ngoài giai cấp (phi giai cấp). Chừng nào không còn
các giai cấp tồn tại thì cũng không còn nhà nước tồn tại.# Tính giai cấp của Nhà
nước: thể hiện ở chỗ nhà nước là công cụ thống trị trong xã hội để thực hiện ý
chí của giai cấp cầm quyền, củng cố và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp
thống trị trong xã hội. Bản chất của nhà nước chỉ rõ nhà nước đó là của ai, do
giai cấp nào tổ chức và lãnh đạo, phục vụ lợi ích của giai cấp nào? Trong xã hội
bóc lột (xã hội chiếm hữu nô lê, xã hội phong kiến, xã hội tư sản) nhà nước đều
có bản chất chung là thiết chế bộ máy để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp
bóc lột trên 3 mặt: Kinh tế, chính trị và tư tưởng.
8Nhà nước:
- Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên
trách để cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội nhằm thực hiện và
bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng
- Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính – lãnh thổ
trong phạm vi nhỏ trong khi đó hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
xã hội rộng lớn.
-Các sản phẩm dịch vụ của các cơ quan hành chính nhà nước tạo ra không phải là
sản phẩm mua bán, trao đổi trên thị trường, trong khi đó sản phẩm của các tổ
chức kinh tế , tổ chức xã hội thường để mua bán, trao đổi trên thị trường vì mục
tiêu lợi nhuận.
-Do bị quy định bởi hành lang pháp lý về quyền hạn nhiệm vụ trong hoạt động
mà tính linh hoạt thích ứng của các cơ quan hành chính nhà nước còn nhiều hạn
chế so với các tổ chức khác.
Câu 9. Nhà nước ta là nhà nước trong đó bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, vì thế quyền lực nhà nước là thống nhất, không “tam quyền phân
lập” nhưng có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó sự
thống nhất là nền tảng, sự phân công và phối hợp là phương thức để đạt được sự
thống nhất của quyền lực. Cách tổ chức này nhằm vừa bảo đảm tính độc lập chủ
động, tính trách nhiệm cao của từng cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực
được nhân dân giao cho, vừa đảm bảo tính thống nhất, khách quan hiệu quả, tránh
tình trạng lạm quyền, chuyên quyền của hệ thống cơ quan nhà nước, đảm bảo quyền
lực thuộc về nhân dân
Cơ chế và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước là cơ sở để đảm bảo tính
thống nhất về quyền lực nhà nước của nhân dân :
- Việc xây dựng bộ máy nhà nước ta bắt đầu từ việc nhân dân bầu ra các đại
biểu nhân dân hợp thành Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Chế độ bầu cử hiện nay ở
nước ta là cơ sở pháp lý để nhân dân bầu ra các đại biểu chân chính của mình.
Thông qua bầu cử, nhân dân ủy nhiệm quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội
và Hội đồng nhân dân.
- Quốc hội và Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước thay mặt
nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước, bao gồm 3 hoạt động chủ yếu sau đây :
+ Một là định ra các chủ trương chính sách, các nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc
phòng an ninh, đối ngoại dưới hình thức pháp luật : Quốc hội là cơ quan quyền
nước. Các cơ quan tư pháp thực hiện gồm : Tòa án nhân dân giữ chức năng là cơ
quan xét xử, Viện kiểm sát nhân dân giữ chức năng là cơ quan kiểm sát.
Tuy có sự phân công rành mạch, cụ thể nhưng trong hoạt động cụ thể các cơ
quan nhà nước còn có sự phối hợp hoạt động nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà
nước của nhân dân được thực thiện một cách có hiệu quả và thống nhất. Cụ thể như
:
- Phối hợp giữa hoạt động lập pháp và hành pháp, tư pháp : thể hiện ở chổ
trong hoạt động hành pháp và tư pháp, hàng năm các cơ quan này phải xây dựng
chương trình chỉnh sửa pháp luật để trình Quốc hội xem xét. Các cơ quan này cũng
phát hiện những vấn đề không phù hợp trong pháp luật hiện hành để kiến nghị Quốc
hội xem xét, sửa đổi. Đối với công tác tư pháp, hành pháp : Quốc hội không chỉ lập
pháp mà còn tham gia phối hợp các hoạt động hành pháp, tư pháp : đình chỉ và hủy
bỏ các văn bản pháp luật của cơ quan hành pháp, tư pháp, thực hiện một số nhiệm
vụ thuộc quyền hành pháp và tư pháp như : Quốc hội quyết định những chính sách
cơ bản, những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định về bộ máy tổ chức và bố trí nhân sự
chủ chốt trong bộ máy nhà nước. Các chức vụ chủ chốt trong cơ quan nhà nước
như : Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, Chánh tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều do Quốc hội cử ra và chịu trách nhiệm
trước Quốc hội.
- Phối hợp giữa hoạt động hành pháp và tư pháp : các cơ quan hành pháp có
quyền kiến nghị những điều vi phạm pháp luật chuyển Toà án xem xét hoặc thông
qua hoạt động công an điều tra xong thì phải chuyển sang Tòa án, Viện kiểm sát
xem xét, truy tố, xét xử. Cơ quan tư pháp cũng có quyền kiến nghị sang bên cơ quan
hành pháp sửa đổi những quy định, quyết định trái pháp luật.
10
1.Giả định: là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu lên những hoàn
cảnh, điều kiện có thể xảy ra trong cuộc sống và cá nhân hay tổ chức nào ở vào
những hoàn cảnh, điều kiện đó phải chịu sự tác động của quy phạm pháp luật đó.
Trong giả định của quy phạm pháp luật cũng nêu lên chủ thể nào ở vào những điều
kiện, hoàn cảnh đó. Bộ phận giả định của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Tổ
+ Ý chí của nhà nước: Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp
luật điều chỉnh mà quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và thể hiện ý chí của
nhà nước.
Trong một số quan hệ pháp luật đặc biệt thì nhà nước tham gia với tư cách là một
chủ thể và việc tham gia vào quan hệ đó là hoàn toàn thể hiện ý chí của nhà nước.
(VD: Nhà nước tham gia xử các vụ án vi phạm pháp luật giết người)
_Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở của quy phạm pháp luật. Quan hệ pháp
luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điểu chỉnh. Như vậy, một quan hệ
xã hội chỉ trở thành quan hệ pháp luật khi có một quy phạm pháp luật tác động lên
quan hệ đó và như vật chúng ta có thể hiểu: Quan hệ pháp luật chính là hình thức
pháp lý của quan hệ xã hội.
_Quan hệ pháp luật được tạo bởi những quuyền và nghĩa vụ của chủ thể khi các
chủ thể tham gia vào quan hệ đó tức là khi tham gia vào một quan hệ xã hội được
điểu chỉnh thì các chủ thể sẽ được hưởng những quyền và phải gánh vác những
nghĩa vụ nhất định. Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó sẽ được nhà nước
đảm bảo thực hiện.
Cau 12: ۞ Khái niệm: Sự kiện pháp lý là điều kiện, hoàn cảnh, tình huống của đời
sống thực tế mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng được quy phạm pháp luật gắn
với sự phát sinh thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật.
۞ Phân loại:
- Căn cứ vào số lượng sự kiện pháp lý và mối quan hệ giữa chúng trong việc làm
phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật, sự kiện pháp lý được chia thành hai
loại:
+ Sự kiện pháp lý đơn giản.
+ Sự kiện pháp lý phức tạp.
- Căn cứ theo tiêu chuẩn ý chí, sự kiện pháp lý được chia thành hai loại:
+ Sự biến pháp lý.
+ Hành vi pháp lý.
- Căn cứ vào kết quả tác động của sự kiện pháp lý đối với quan hệ pháp luật, sự kiện
pháp lý được chia thành ba loại:
_Khách thể: là quan hệ xã hội bị xâm hại. Tính chất của khách thể là tiêu chí quan
trọng để xác định mức độ nguy hiểm của hành vi.
Câu 14:
trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước ( thông
qua các cơ quan có thẩm quyền ) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi
phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế
nhà nước được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.
Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý
- Căn cứ của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật, có nghĩa là trách nhiệm pháp
lý chỉ xuất hiện khi trong thực tế xảy ra vi phạm pháp luật. Nếu không có vi phạm
pháp luật thì không xác định trách nhiệm pháp lý. Để truy cứu trách nhiệm pháp lý
đối với tổ chức hay cá nhân nào đó cần phải xác định được cơ sở thực tiễn và cơ sở
pháp lý làm căn cứ cho việc truy cứu. Về cơ sở thực tiễn để truy cứu trách nhiệm
pháp lý là phải có vi phạm pháp luật xảy ra. Về cơ sở pháp lý đó là những quy định
pháp luật hiện hành có liên quan đén vi phạm pháp luật đó và thẩm quyền, trình tự
thủ tục giải quyết vụ việc đó.
- Trách nhiệm pháp lý chứa đựng yếu tố là sự lên án của nhà nước và xã hội đối với
chủ thể vi phạm pháp luật. Đặc điểm này thể hiện nội dung của trách nhiệm pháp lý.
Xuất phát từ đặc điểm này mà trách nhiệm pháp lý được coi là phương tiện tác động
có hiệu quả tới chủ thể vi phạm pháp luật. Vì vậy, về mặt hình thức, trách nhiệm
pháp lý là việc thực hiện chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật thông
qua hoạt động của cá cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chủ thể vi phạm phải thực
hiện chế tài đó. Như vậy, trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật
cuối cùng là sự thực hiện các chế tài của quy phạm pháp luật.
- Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quy định có hiệu lực pháp
luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ không
tách rời giữa trách nhiệm pháp lý và nhà nước. Chỉ có nhà nước
( thông qua cơ quan, người có thẩm quyền ) mới có thẩm quyền xác định một cách
chính xác là hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật và áp dụng trách nhiệm pháp
lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật đó.
Như vậy rõ ràng văn bản quy phạm pháp luật có ưu thế hơn hai hình thức kia. Tuy
nhiên văn bản quy phạm pháp luật cũng có nhược điểm, vì vậy hiện tại phương án
được nhiều quốc gia lựa chọn đó là sử dụng kết hợp cả văn bản quy phạm và án lệ
Bộ và cơ quan ngang bộ là cơ quan của chính phủ.
Cơ quan thuộc chính phủ không thuộc cơ cấu tổ chức của chính phủ
Bộ công thương không là cơ quan thuộc chính phủ thì đúng, là cơ quan ko thuộc
chính phủ là sai.