QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN THEO BASEL VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM - Pdf 28

QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN THEO BASEL VÀ THỰC
TIỄN TẠI VIỆT NAM
1. Giới Thiệu Đề Tài
1.1 Lý do chọn đề tài
Thanh khoản là yếu tố sống còn đối với việc tồn tại của mọi ngân hàng, rủi ro thanh khoản thời
gian qua báo động hơn khi nợ xấu chung trong ngành ngân hàng tăng cao và nhiều trường hợp
sai phạm trong ngành làm tâm lý NDT gửi tiền ở kỳ hạn ngắn và hoạt đổng gởi rút NDT biến
động nhiều hơn. Bên cạnh đó các chuẩn mực đánh giá thanh khoản tại Việt Nam chưa cập nhật
theo thông lệ mới của quốc tế nên sẽ còn nhiều bất cập và đánh giá quản trị thanh khoản chưa
hợp lý.
Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng tại Việt Nam tuy có nhiều đề tài tham
gia tìm hiểu, nhưng vẫn ít đề tài cho cái nhìn bao quát, và so sánh theo từng chuẩn mực Basel.
Nhóm tác giả hi vọng qua tìm hiểu thực tế, sẽ có những kết luận khái quát, sát thực, và đưa ra
được những giải pháp thiết thực cho hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản sớm đạt được những
yêu cẩu theo các chuẩn mựa Basel mới của quốc tế.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Quản trị thanh khoản theo các chuẩn mực Basel. Sự cải tiến theo các chuẩn mực (So sánh điểm
khác nhau, tiến bộ theo từng nâng cấp lên các Basel).
Thực trạng quản trị thanh khoản các Ngân hàng tại Việt Nam.
Khả năng ứng dụng Basel II, và III tại Việt Nam.
1.3 Đối tượng
Quản trị thanh khoản theo chuẩn mực basel I, II, III, đối tượng áp dụng Các NH tại Việt Nam.
Tại Việt Nam các Ngân hàng cơ bản đã hoàn thiện được chuẩn mực theo Basel I, việc áp dụng
Basel đang được hoàn thiện và nằm trong lỗ trình chỉ đạo của Ngân hàng Nhà Nước. Bài nghiên
cứu tập trung nghiên cứu về chuẩn mực đánh giá thanh khoản của Basel II, và III, nhưng trong
phần thực trạng nhóm sẽ tập trung vào tìm hiểu thực trạng và khả năng áp dụng Basel II tại Việt
Nam.
1
2. Quản trị thanh khoản theo Chuẩn mực Basel
2.1. Hiệp ước Vốn Basel
Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS) được

2.1.2 Basel 2
Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất khung đo lường
mới với 3 trụ cột chính. Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II)
đã chính thức được ban hành.
Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; Tạo
lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy
mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro.
Basel II gồm một loạt các chuẩn mực giám sát và được cấu trúc theo 3 trụ cột sau:
Trụ cốt thứ nhất: Quy định yêu cầu về vốn tối thiểu.
Trụ cột thứ hai: Hướng dẫn về công tác giám sát ngân hàng.
Trụ cột thứ ba: Yêu cầu các ngân hàng cần minh bạch thông tin liên quan đến vốn, rủi ro để đảm
bảo khuyến khích các nguyên tắc của thị trường.
Điểm mới Basel II so với Basell I:
Trong an toàn vốn tối thiểu xét đến rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, đưa ra nhiều quy định để
các ngân hàng tránh khỏi rủi ro về mặt dữ liệu và thông tin.
Phân loại về hạng mức tín nhiệm, và chặt chẽ hơn trong giám sát. Phạm vi Bael II rộng hơn gồm
các ngân hàng quốc tế và các công ty mẹ.
2.1. 1.3 Basel 3
Ra đời cuối năm 2010 với những quy định chặt chẽ hơn, sau khủng hoảng tài chính diễn ra năm
2008 đã bộc lỗ nhưng kẻ hỡ của Basel II.
Mục tiêu Basel III: nâng cao chất lượng vốn của Ngân hàng, và xét nhiều hơn đến rủi ro thị
trường, và rủi ro thanh khoản.
Một số điểm mới của Basel III
Thứ nhất, nâng cao chất lượng vốn. Theo Basel III những tài sản có chất lượng kém sẽ được
khấu trừ vào vốn cấp 1 và vốn cấp 2.
Thứ hai, yêu cầu các ngân hàng bổ sung thêm vốn. Tùy thuộc vào điều kiện kinh doanh, rủi ro
mà yêu cầu bổ xung thêm vốn. Nhằm đảm bảo năng lực tài chính.
Thứ ba, giới thiệu phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hệ thống để các ngân hàng áp dụng. Yếu
tố quan trọng thứ 3 của quy định mới về vốn là phương pháp giám sát an toàn vĩ mô đề cập tới
rủi ro hệ thống. Theo BIS, có hai việc cần làm để hạn chế rủi ro hệ thống hiệu quả. Thứ nhất là

: thiếu thanh khoản. Ngân hàng sẽ áp dụng những biện pháp xử lý như sau: Sử dụng dự trữ bắt
buộc dư ra; Bán dự trữ thứ cấp; Vay qua đêm, Vay tái chiết khấu NHNN, phát hành chứng chỉ
tiền gửi có mệnh giá lớn để huy động vốn; Huy động từ thị trường tiền tệ.
Một số Nguyên nhân dẫn đến thanh khoản
4
Thứ nhất, mất cân xứng ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn
huy động.
Thứ hai, do sự nhạy cảm của tiền gửi với sự thay đổi lã suất đầu tư. Khách hàng gởi tiền có thể
rút tiền và đầu tư kênh khác.
Thứ ba, do ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả (đầu
tư các chứng khoán, BĐS có thanh khoản thấp, dự trữ ngân hàng không đủ).
Thứ tư, do yếu tố tâm lý.
2.2.2.1 Tiêu chí đánh giá rủi ro thanh khoản theo Basel I Và II
Basel I đặt nền tảng đầu tiên về Vốn của ngân hàng, những phương pháp xác định rủi ro tín
dụng. Tuy có những thành tưu, nhưng Basel I vẫn chưa đề cập rõ đến rủi ro thanh khoản về cách
đo lường, các phương pháp quản trị rủi ro thanh khoản. Chúng ta có thể hiểu rủi ro thanh khoản
ở trong Basel I giới hạn ở tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
Basel II chưa có quy định cụ thể về cách tính và quản trị rủi ro thanh khoản mà xác định rủi ro
thanh khoản là 1 loại rủi ro nằm trong 1 tập “rủi ro còn lại” (residual risk) nằm ngoài rủi ro tín
dụng. Trụ cột 2 của basel cung cấp cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro còn lại này
(residual risk), theo đó, các ngân hàng thương mại có thể tự xây dựng cách tính và quy trình
quản trị rủi ro cho mình, các nhà giám sát sẽ kiểm tra và can thiệp khi thấy các ngân hàng thương
mại không tuân thủ quy trình này, ví dụ như : có biện pháp bắt buộc họ nâng tỷ lệ H3 lên.
Bốn nguyên tắc để xem xét giám sát trụ cốt 2 của Basel II
• Ngân hàng nên có một quy trình xác định mức độ vốn nội bộ theo mức rủi ro và chiến
lược duy trì mức vốn của họ.
• Các giám sát viên nên xem xét và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến
lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu.
• Khuyến nghị rằng ngân hàng nên giữ mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định.
• Những người giám sát sẽ tìm cách thâm nhập vào những giai đoạn đầu tiên để ngăn cản

Dựa trên tiêu chuẩn, các ngân hàng phải nắm giữ các loại chứng khoán chưa được thế chấp của
các tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo chi dòng tiền ròng trong vòng 30 ngày dựa trên
những qui định trong bối cảnh xảy ra mất thanh khoản. Để đạt được tính thanh khoản cao, các tài
sản này phải thanh khoản trên các thị trường trong suốt quá trình mất thanh khoản đồng thời các
loại tài sản này phải mang tính pháp lý của ngân hàng trung ương. Các loại tài sản có tính thanh
khoản cao có những đặc tính thanh khoản đồng thời đáp ứng những qui đinh hoạt động ngân
hàng.
6
Những đặc tính của tài sản có tính thanh khoản cao:
• Đặc tính cơ bản: Rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng thấp , xác định giá trị dễ dàng và
chắc chắn, mối tương quan giữa các rủi ro của tài sản thấp, các tài sản này nằm trong
danh sách của thị trường phát triển.
• Đặc tính liên quan đến thị trường: thị trường qui mô và năng động, có sự cam kết đảm
bảo của những nhà tạo lập thị trường, mức độ tập trung thị trường thấp nhằm đa dạng hóa
người mua và người bán để gia tăng sự tín nhiệm của tính thanh khoản tài sản, thị trường
có xu hướng hoạt động trong thời kỳ khủng hoảng hệ thống.
Basel III phân chia tài sản có tính thanh khoản thành 2 loại, trong đó loại 1 không bị giới hạn dự
trữ, trong khi đó loại 2 bị giới hạn dữ trữ dưới 40% giá trị chứng khoán đó.
• Tổng giá trị dòng tiền ròng
Tổng giá trị dòng tiền ròng được định nghĩa như là tổng dòng tiền ra kỳ vọng vào trừ đi tổng
dòng tiền vào kỳ vọng trong những bối cảnh xảy ra áp lực thanh khoản cụ thể trong vòng 30
ngày. Tổng dòng tiền ra kỳ vọng được tính bằng cách nhân khoản nợ phải trả trong bảng cân đối
hoặc những cam kết của tài sản ngoại bảng mà họ kỳ vọng sẽ phải thanh toán hoặc rút khỏi hệ
thống ngân hàng. Tổng dòng tiền vào kỳ vọng được tính bằng cách nhân những khoản phải thu
trên bảng cân đối với một tỷ lệ kỳ vọng trong trường hợp gặp áp lực thanh khoản với tỷ lệ 75%
tổng giá trị dòng tiền ra kỳ vọng.
b) Tỷ lệ quỹ bình ổn ròng
Mục tiêu
Để cải thiện quỹ hoạt động trong trung và dài hạn, ủy ban đã phát triển chỉ số về tỷ lệ quỹ bình
ổn ròng.Tỉ lệ quỹ bình ổn ròng yêu cầu các ngân hàng phải có sẵn nguồn tài chính dưới dạng quĩ

những đặc tính và số lượng của những loại tài sản không có thế chấp. Những tài sản này là
nguồn quỹ tiềm năng để các ngân hàng sử dụng khi cần thế chấp trong trường hợp phát sinh
nguồn quĩ chứng khoán trên thị trường thứ cấp hoặc ngân hàng trung ương để giải quyết tính
thanh khoản cho ngân hàng.
• LCR bằng ngoại tệ: trong khi các tiêu chuẩn được yêu cầu đều sử dụng chung một loại đồng
tiền, để nắm bắt rủi ro không tương ứng các loại tiền tệ khác nhau, ngân hàng và tổ chức giám
sát cần phải kiểm soát hệ số LCR đối với các loại tiền tệ. Điều này cho phép ngân hàng và các
tổchức giám sát theo dõi những vấn đề phát sinh do không tương ứng nguồn tiền tệ.
• Công cụ kiểm soát thị trường : với dữ liệu thị trường có tần suất liên tục với độ trễ ngắn có thể
được sử dụng để làm chỉ số cảnh báo những trường hợp xảy ra khó khăn trong thanh khoản của
ngân hàng.
8
3. Thực trạng và khả năng áp dụng chuẩn mực Basel vào quản trị
rủi ro Thanh Khoản của Ngân Hàng Việt Nam hiện nay
3.1 Thực trạng Ngân hàng Tại Việt Nam áp dụng chuẩn Mực Basel
3.1.1 Văn bản Pháp Lý Liên quan
Quyết định 457/2005 quy định về an toàn vốn tối thiểu cơ bản chỉ mới đáp ứng được chuẩn
mực an toàn vốn của Basel I, tập trung vào rủi ro tín dụng (Theo cách tính Basel I), chưa đề cập
đến rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường và cũng chưa ứng dụng đến các phương pháp của Basel II.
Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005, được sữa đổi bổ xung bằng quyết định số
18/2007/QĐ – NHNN về việc các TCTD tại Việt Nam phải phân loại nợ và trích lập dự phòng
để bù đắp cho các khoản nợ xấu.
QĐ06/2008/QĐ-NHNN là một quyết định mới được xây dựng dựa trên các tiêu chí đánh giá
CAMEL nhằm đưa ra các thang điểm cho các chỉ tiêu xếp loại cụ thể. Trên cơ sở đó, các NHTM
cổ phần được xếp loại theo các hạng A, B, C, D với ý nghĩa từ tốt đến xấu. (Hệ thống đánh giá
CAMEL là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ chức tài chính. Việc đánh giá dựa
trên 5 tiêu chí: vốn, chất lượng tài sản, quản lý, doanh thu và mức thanh khoản của tổ chức tài
chính.
Thông tư 36/2014/TT-NHNN ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2014. Thông tư 36 có hiệu lực từ
ngày 01/02/2015 và thay thế các thông tư 13, 19 trước đây.

3.2.2 Nguyên nhân dẫn đến Rủi ro thanh khoản Ngân hàng Tại Việt Nam
Thứ nhất: tăng trưởng tín dụng quá nóng. Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các ngân hàng
thương mại đi kèm với cơ cấu đầu tư không hợp lý, tập trung lớn vào đầu tư bất động sản chạy
theo lợi nhuận sẽ phát sinh rủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự mất cân đối về kỳ hạn giữa
tài sản có và tài sản nợ do ngân hàng đã sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài
hạn. Chính điều này đã tạo ra sự rủi ro thanh khoản cao đối với ngân hàng thương mại”.
Thứ hai: công tác dự báo và phân tích thị trường của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt
Nam còn nhiều hạn chế. Các NHTM còn có tư tưởng ỷ lại quá nhiều vào cơ chế nhà nước, trong
khi các ngân hàng nước ngoài, ngoài việc chấp hành nghiêm túc các tỷ lệ an toàn còn thường
xuyên nghiên cứu, dự báo sát các diễn biến của thị trường nên đã dự phòng vốn thanh khoản và
điều chỉnh kịp thời, không bị động trước những tác động thị trường.
10
Thứ ba: tính liên kết hệ thống giữa các NHTM để đảm bảo an toàn thanh toán còn yếu, tạo sự
cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao tạo khe hở cho khách hàng gửi tiền “làm giá,
tăng lãi suất” hoặc rút tiền chuyển sang các NHTM khác dẫn đến làm suy yếu khả năng chống đỡ
thiếu hụt thanh khoản của hệ thống.
Thứ tư: vấn đề quản trị thanh khoản tại các NHTM chưa tốt. Do sự yếu kém từ quản trị tài sản
nợ, có của các NHTM và sự thiếu hụt của các công cụ quản lý hữu hiệu…Ngân hàng Nhà nước
cũng khó nắm bắt chắc chắn tình hình thanh khoản cũng như sự thay đổi lớn trong tài sản của
mỗi NHTM để điều chỉnh quy định của mình.
Thứ năm: xuất phát từ phía khách hàng, đây được đánh giá là nhóm nguyên nhân khiến các ngân
hàng khó có thể dùng công cụ thị trường để điều tiết có hiệu quả thanh khoản của các ngân hàng.
Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, lại chưa minh bạch, một số khách hàng (kể cả pháp
nhân) đã rút tiền ra khỏi ngân hàng này và chuyển sang ngân hàng khác, dân cư rút tiền để mua
vàng, mua đô la Mỹ để tích trữ…đã làm tăng tính bất ổn của thị trường, nội và ngoại tệ, gây khó
khăn cho chính khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ gửi và vay tiền tại ngân hàng.
Ngoài những nguyên nhân trên, còn có nhiều nguyên nhân như: do các giao dịch bằng
ngoại tệ tại các NHTM Việt Nam chủ yếu tập trung vào một loại ngoại tệ là USD; những tác
động trực tiếp từ các loại rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng cũng gây ảnh hưởng không nhỏ
tới rủi ro thanh khoản; hiện tượng một số tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước chuyển tiền hoặc rút

H1: vốn tự có trên
tổng huy động
H2: vốn tự có trên
tài sản “có”
Ghi chú
ABC 9% 8%
BIDV 7% 6%
VietcomBank 7% 6%
Tuy nhiên chỉ số trạng thái tiền mặt của các ngân hàng rất khác biệt. Điều này thể hiện sự khó
khăn của một số ngân hàng trong việc đảm bảo tính thanh khoản khi lượng rút tiền tăng lên đột
biến.
Ngân hàng
H3: (Tiền mặt+Tiền gửi tại
các TCTD)/Tổng tài sản
“Có”
H8: (Tiền mặt+Tiền gửi
tại TCTD)/Tiền gửi của
khách hàng
Ghi chú
ABC 6% 7%
BIDV 9% 13%
VietcomBank 17% 22%
Một số NHTM Top đầu có quy mô lớn và có tiến trình chuẩn bị tốt cơ bản đã đáp ứng được tiêu
chuẩn Basel I về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và đang quá trình hoàn thiện chuẩn mựa Basel II.
12
Nhóm tác giả vẫn thiếu thông tin ở nhóm NHTM có quy mô vốn nhỏ. Nên chửa có đánh giá
quản lý thanh khoản.
Thực tế về mất thanh khoản hay phá sản trong giai đoạn tìm hiểu từ 2000 – 2014 có những vụ
việc xảy ra Tại Ngân Hàng ACB sau sự kiện Phó Chủ Tịch Hội đồng Sáng Lập Bầu Kiên và các
các nhân liên quan bị bắt giam điều tra sai phạm kinh tế. Hay vụ việc tại Ngân Hàng Nông

cho giai đoạn này là: các NHTM cần chuẩn bị sẵn dữ liệu, chương trình tính toán tài sản có rủi
ro. Đồng thời, NHNN cần ban hành các văn bản hướng dẫn quy tắc tính toán vốn.
Mục tiêu đến cuối năm 2018: Các NHTM được quyền tự quyết định mức vốn cần phải nắm giữ
theo phương pháp tiếp cận nội bộ, tùy theo hồ sơ rủi ro của mình. Ngân hàng nào kinh doanh với
nhiều rủi ro thì phải nắm giữ nhiều vốn, và ngược lại. Điều kiện cần thiết để các Ngân hàng
thương mại có thể nắm quyền tự quyết về mức vốn nắm giữ:
Về dữ liệu: dữ liệu yêu cầu cho việc tính toán vốn theo phương pháp nội bộ bao gồm dữ liệu cho
việc tính toán tài sản có rủi ro và dữ liệu để phục vụ cho các mô hình đo lường rủi ro, đặc biệt là
rủi ro tín dụng. Các dữ liệu này cần được lưu trữ ít nhất 5 năm và với chất lượng tốt để bảo đảm
các mô hình đo lường rủi ro được NHNN phê duyệt. Đối với phần rủi ro hoạt động, phần dữ liệu
về quản trị tài chính đóng vai cực kỳ quan trọng,các NHTM phải có đủ khả năng phân tách
doanh thu, chi phí hoạt động của mình thành 8 mảng hoạt động theo đúng yêu cầu của Basel II.
Về hệ thống quản lý rủi ro: Các yêu cầu của Basel II về hệ thống quản lý rủi ro xoay quanh việc
xây dựng, triển khai và ứng dụng các mô hình đo lường rủi ro. Đến thời điểm cuối năm 2018, các
NHTM sẽ phải xây dựng các mô hình để đo lường Xác suất khách hàng không trả được nợ và
Giá trị chịu rủi ro. Các mô hình này cần phải được triển khai trong hoạt động quản lý rủi ro và
phải được ứng dụng trong các hoạt động kinh doanh hàng ngày của ngân hàng.
Về hạ tầng công nghệ thông tin: hạ tầng công nghệ thông tin của các NHTM phải được bổ sung
để hỗ trợ hoạt động quản lý rủi ro tập trung.Các hệ thống công nghệ thông tin bao gồm việc ghi
nhận các giao dịch về kế toán (trạng thái tĩnh), giao dịch về các dữ liệu rủi ro và việc quản lý
luồng công việc (trạng thái động). Đây là nội dung cơ bản của các hệ thống như Hệ thống khởi
tạo khoản, Thu hồi, Quản lý tài sản bảo đảm…
3.2.2 Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai Basel 2
Hiệp định Basel 2 có hiệu lực từ năm 2006 và đã được nhiều ngân hàng ở các nước phát triển,
Châu Á và Đông Nam Á áp dụng từ năm 2008. Với việc vừa triển khai, vừa rút kinh nghiệm, gắn
chuẩn mực quốc tế với hoàn cảnh đặc thù tại Việt Nam, đó sẽ là tiền đề để cả ngành ngân hàng
áp dụng Basel II một cách thống nhất trong tương lai gần.
Những thuận lợi khi áp dụng Basel 2 vào thời điểm hiện tại:
Thừa hưởng lợi thế của người đi sau: thực hiện Basel 2 sau các nước trên thế giới, các Ngân
hàng Việt Nam thừa hưởng những bài học kinh nghiệm quý báu của các nước đã đi qua quá trình

ngân hàng quốc tế, thì NHNN cần đưa những chuẩn mực này vào các văn bản pháp lý và có sự
giám sát chặt chẽ. Trong tình hình hiện nay, vẫn còn những hạn chế nhất định, có nhiều chuẩn
mực của Basel mà chúng ta chưa thể áp dụng, không phù hợp với hệ thống Ngân hàng Việt Nam
hoặc chưa thể đưa vào văn bản pháp lý ngay được, và đối với các NHTM cũng sẽ tốn kém nhiều
chi phí, không đồng bộ về trình độ khi thực hiện xây dựng quy trình giám sát rủi ro theo Basel.
Đứng trước các hạn chế còn tồn tại, nhóm có đề xuất một vài biện pháp như sau:
15
4.1Nhóm giải pháp cho toàn hệ thống ngân hàng
4.1.1 Tăng cường liên kết trong hệ thống liên ngân hàng.
Một trong những nguồn của ngân hàng để tăng tính thanh khoản cho mình là vay từ thị trường
liên ngân hàng. Do vậy, để tránh gặp rủi ro trong thanh khoản, chúng ta cũng cần thiết lập 1 thị
trường liên ngân hàng hiệu quả nhằm có thể linh hoạt vay vốn nhanh khi cần thiết. Cần xây dựng
mối quan hệ bền vững với các nguồn tài trợlà tổ chức chính phủ, NHNN và các ngân hàng lớn
trên thị trường liên ngân hàng. Trên cơ sở tiếp cận được với nguồn vay qua đêm nhanh chóng và
lãi suất cạnh tranh, đây sẽ là 1 công cụ nhằm hạn chế rủi ro hiệu quả khi ngân hàng gặp phải
nguy cơ rủi ro mất khả năng thanh khoản tạm thời.
4.1.2 Xây dựng một Ủy ban giám sát Basel riêng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam
Chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một cơ quan giám sát riêng của ngành tài chính với thành
phần tham gia là đại diện của tất cả các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác như công ty bảo
hiểm, quỹ đầu tưv.v… Hằng năm cơ quan này cũng tiến hành những diễn đàn và ban hành những
văn bản như Hiệp định Basel 2 để làm cơ sở cho từng tổ chức, từng ngân hàng dựa vào đó mà
xây dựng một chiến lược phát triển cho riêng mình. Diễn đàn đó sẽ là một nơi chia sẻ những
thông tin và những kinh nghiệm hữu ích, cũng đồng thời là cơ hội để các TCTD nhìn lại mình,
nhìn lại diễn biến thị trường và đưa ra những dự báo sát thực hơn trong tương lai. Cơ quan này
có thể đặt dưới sự lãnh đạo chung của NHNN, nhưng cần tách bạch thành một cơ quan giám sát
mang tính chất ngành nghề nhiều hơn là một cơ quan hành chính nhà nước.
4.1.3 Tăng cường công tác kiểm tra và giám sát các hoạt động của NHTM
Công tác giám sát từ xa hiện nay vẫn được NHNN tại các tỉnh, thành phố thực hiện. Nhưng tính
xác thực của báo cáo giám sát này để phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô chưa cao, chưa phản
ánh trung thực tình trạng hoạt động nói chung và tình trạng thanh khoản nói riêng của các

được đứt đoạn.
Nâng cao vai trò và sự tham gia của Kiểm toán nội bộ. Bộ phận kiểm soát đóng vai trò quan
trọng trong công tác quản trị rủi ro nói chung vàrủi ro thanh khoản nói riêng. Ban kiểm soát và
các bộ phận kiểm toán cần thực hiện kiểm tra,đánh giá thường xuyên và toàn diện về tính hiệu
quả của khung hoạt động quản trị rủi rothanh khoản, tính tuân thủ các chính sách QTRRTK và
hạn mức, khẩu vị rủi ro thanh khoản.Từ đó, kịp thời đề ra các biện pháp chỉnh đốn và sửa chữa
thích hợp cho khung quản trị, cácchính sách và các quy trình QTRRTK.
Lập phòng giám sát rủi ro thanh khoản.
Mỗi ngân hàng xây dựng cho mình hệ thống quản trị rủi ro nội bộ phù hợp với chuẩn mực
Basel.Đối với mỗi loại rủi ro cần thiết lập một bộ phận chuyên trách nhằm quản lý cụ thể, chính
xác và kịp thờ. Hiện nay, Basel đã công bố khuôn khổ, cách thức đo lường, chuẩn mực và giám
sát về rủi ro thanh khoản, nên chúng ta cần lập phòng quản lý rủi ro thanh khoản theo chuẩn mực
này nhằm đẩy mạnh công tác quản lý rủi ro hơn nữa khi các ngân hàng ở nước ta đang đứng
trước nhiều thách thức về hội nhập và xu hướng kinh tế nhiều biến động.
Rủi ro thanh khoản cũng bị tác động bởi những rủi ro khác, khi thành lập 1 phòng giám sát rủi ro
thanh khoản, chúng ta cũng cần liên kết với các bộ phận quản lý rủi ro khác như : rủi ro tín dụng,
hay rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất Những loại rủi ro này thường có mối quan hệ tác động lẫn
17
nhau, vì vậy, các bộ phận quản lýrủi ro cần phối hợp để thực hiện vai trò quản lý rủi ro chung
cho toàn ngân hàng.
4.2.2 Quản trị thanh khoản gắn với quản trị tài sản có và tài sản nợ
Ngân hàng nên sử dụng hỗn hợp hai biện pháp quản lý rủi ro thanh khoản bằng quản lýtài sản có
và quản lý tài sản nợ một cách linh hoạt. Như vậy ngân hàng có thể vừa tích trữ tàisản thanh
khoản để đáp ứng một phần nhu cầu thanh khoản, phần còn lại sẽ được đáp ứngbằng cách đi vay
trên thị trường tiền tệ hoặc phát hành kì phiếu ngắn hạn,trái phiếu dài hạn.
Để quản trị thanh khoản được tốt ngân hàng cần phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng đếnchiến
lược thanh khoản hỗn hợp, từ đó rút ra được nên dự trữ tài sản có tính thanh khoảnnhiều hơn hay
tìm nguồn tài trợ từ bên ngoài nhiều hơn.
4.2.3 Chú trọng đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao
Lựa chọn đầu tư Chứng khoán thanh khoản tốt, tiềm năng để trong mọi trường hợp khi có rủi ro

Để giảm thiểu rủi ro và ngăn chặn sự đổ vỡ của các ngân hàng, Ủy ban Basel về giám sát ngân
hàng đã ban hành các hiệp ước Basel I, II, III với các yêu cầu về vốn và thanh khoản cao hơn, tạo
ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế nói chung và ngân hàng nói riêng.
Lợi ích kinh tế vĩ mô của việc tăng cường các quy định về vốn và thanh khoản theo Basel được
phản ánh chủ yếu qua thông qua một hệ thống ngân hàng lành mạnh sẽ ít bị khủng hoảng hơn.
Việc giảm các cuộc khủng hoảng ngân hàng giúp giảm tổn thất lớn cho nền kinh tế mà các cuộc
khủng hoảng này gây ra. Từ đó, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.
Đồng thời. việc áp dụng các chuẩn mực Basel, cụ thể trong thời gian tới là Basel 2 và nâng dần
lên Basel 3 giúp các ngân hàng hoạt động an toàn hơn, lành mạnh hơn do trình độ quản trị rủi ro
được tăng cường, các biện pháp quản trị rủi ro được chủ động áp dụng, và các nguồn vốn được
quản lý một cách hiệu quả hơn. Trong lĩnh vực tín dụng, các NHTM sẽ phải chuyển hướng tập
trung vào đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, thay vì dựa chủ yếu vào tài sản đảm bảo.
Đồng thời, sau khi áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vốn và thanh khoản, ngân hàng sẽ
thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn do ngân hàng hoạt động kinh doanh trong môi trường
đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Tuy nhiên, việc nâng dần chuẩn mực Basel cũng khiến cho các NHTM phải đối mặt với
nhiều thử thách như:
19
Với tính thanh khoản thấp và mức độ biến động thị trường cao như tại Việt Nam thì sẽ khó đáp
ứng được các giả thuyết trong Hiệp ước Basel 2 – 3. Do vậy, các chính sách phải chi tiết và kế
hoạch hành động khả thi, việc này sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức và tốn kém
Việc triển khai Basel 2, 3 đòi hỏi độ chính xác, tin cậy và chất lượng của nguồn dữ liệu. Vì vậy,
cần phải áp dụng hệ thống báo cáo tin cậy, kịp thời . Do vậy, khi đưa vào thị trường đang phát
triển phải chuyển thành các chính sách chi tiết và kế hoạch hành động khả thi, việc này sẽ mất rất
nhiều thời gian, công sức và tốn kém.
Do đó, để áp dụng thành công chuẩn mực Basel 2 – 3 trong thời gian tới, cần sự nỗ lực của
phía các NHTM và khung chính sách phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam, cụ thể:
Các cơ quan quản lý cần xây dựng lộ trình triển khai Basel II và các chính sách hướng dẫn cụ thể
và phù hợp với điều kiện Việt Nam để giảm những tác động bất lợi trong quá trình triển khai;
xây dựng khung hướng dẫn cụ thể về quản trị rủi ro và việc kiểm định các mô hình rủi ro.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status