Xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Lam, Nghệ An - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

NGUYỄN QUANG VINH
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG
CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG LAM, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌCLUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS VÕ CHÍ MỸ
TS. ĐỖ HỮU TUẤN
Hà Nội – Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực
sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển,
nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS
Võ Chí Mỹ và TS. Đỗ Hữu Tuấn.
Các số liệu, mô hình toán và những kết quả trong luận văn là trung thực.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.


5. Cấu trúc của luận văn 4

6. Lời cảm ơn 4

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1. Tổng quan sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 5

1.2. Bản đồ môi trường: 16

1.3. Tổng quan về chỉ số môi trường 20

1.4. Tổng quan về GIS 23

CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1. Ứng dụng GIS: 27

2.2. Quy trình thành lập bản đồ môi trường 30

2.3. Phương pháp xây dựng chỉ số WQI (Water Quality Index) 32

2.4. Phương pháp thực nghiệm xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Lam . 40

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49

3.1. Cơ sở dữ liệu và hiện trạng môi trường khu vực sông Lam 49

3.2. Kết quả xây dựng bản đồ chất lượng nước sông Lam: 67

Hình 17. Hộp thoại Table, nhập dữ liệu thuộc tính 47
Hình 18. Hộp thoại phương pháp nội suy Spline 48
Hình 19. Hộp thoại công cụ Mask 48
Hình 20. Diễn biến hàm lượng DO tại các điểm quan trắc Sông Lam 56
Hình 21. Diễn biến hàm lượng COD tại các điểm quan trắc Sông Lam 56
Hình 22. Diễn biến hàm lượng BOD5 tại các điểm quan trắc Sông Lam 57
Hình 23. Diễn biến hàm lượng TSS tại các điểm quan Sông Lam 57
Hình 24. Diễn biến hàm lượng các hợp chất N-NH4+ tại các điểm quan trắc Sông
Lam 58
Hình 25. Diễn biến hàm lượng Coliform tại các điểm quan trắc Sông Lam 59
Hình 26. Biểu đồ các thông số DO, BOD, COD, SS tại các điểm quan trắc 2012 60
Hình 27. Biểu đồ các thông số DO, BOD, COD, SS tại các điểm quan trắc 2013 60
Hình 28. Giá trị chỉ số WQI tại các điểm lấy mẫu 65
Hình 29. Tỉ lệ giá trị WQI thuộc các mức phân loại chất lượng nước 65
Hình 30. Sơ đồ chất lượng nước sông Lam – Nghệ An 2012 67
Hình 31. Sơ đồ chất lượng nước sông Lam – Nghệ An năm 2013 68
Hình 32. Sơ đồ so sánh chất lượng nước tại các điểm trên sông Lam 68
Hình 33. Kết quả chạy nội suy năm 2012 69
Hình 34. Kết quả chạy nội suy năm 2013 69
Hình 35. Sơ đồ phân vùng nước sông Lam đoạn qua Anh Sơn 70
Hình 36. Sơ đồ phân vùng nước sông Lam đoạn Hưng Nguyên – Cửa Hội 70
Hình 37. Nhà máy xi măng Anh Sơn trong quá trình hoạt động 71
Hình 38. Một trong những bãi tập kết rác của các xã ven sông 72
Hình 39. Rác thải sau một buổi chợ tại cảng cá Cửa Hội 72

Bảng 10. Tổng hợp kết quả phân tích các mẫu nước mặt dọc tuyến sông Lam 54
Bảng 11. Giá trị i của các thông số 61
Bảng 12. Giá trị qi của các thông số 62
Bảng 13. Kết quả tính toán WQI thông số chất lượng nước sông Lam 63
Bảng 14. Kết quả tính toán chỉ số WQI và mức đánh giá chất lượng nước sông Lam
2012 và 2013 64 KÝ HIỆU VIẾT TẮT

ĐMC - Đánh giá môi trường chiến lược
ĐTM - Đánh giá tác động môi trường
NSF - National Sanitation Foundation (Quỹ vệ sinh Quốc gia Mỹ)
WQI - Water Quality Index - Chỉ số chất lượng nước
CSDL – Cơ sở dữ liệu

kinh tế với bảo vệ môi trường lưu vực sông.
Sông Lam là một trong các dòng sông lớn của Việt Nam bắt nguồn từ
Xiengkhoang, Lào chảy qua địa phận tỉnh Nghệ An và đổ ra biển Đông tại Cửa Hội.
Sông Lam chính là ranh giới giữa 2 tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, chảy qua huyện Hưng
Nguyên, thành phố Vinh, xã Nghi Lộc rồi đổ ra biển. Hạ nguồn sông Lam đang và
sẽ chịu tác động mạnh của sự phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa khi thành
phố Vinh đang trong quá trình phát triển lên thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng 2
Bắc Trung Bộ kéo theo sự phát triển của các khu vực xung quanh với mật độ dân số
phát triển mạnh chạy ven sông Lam. Dự án con đường du lịch ven sông Lam cùng
với nhà máy đóng tàu và các khu công nghiệp ven sông Lam sẽ ảnh hưởng không ít
đến môi trường nước của con sông này. Rút ra bài học từ các con sông chảy qua các
thành phố lớn đông dân cư và các khu công nghiệp như Sông Nhuệ, sông Thị Vải…
đang bị ô nhiễm nặng nề, ngay từ đầu sẽ phải chú trọng đến việc nghiên cứu đánh
giá hiện trạng, dự báo xu thế diễn biến môi trường chất lượng nước sông Lam nhằm
nâng cao năng lực quản lý môi trường sông Lam là vấn đề bức xúc, có ý nghĩa khoa
học và thực tiễn to lớn.
Hiện nay việc thành lập các bản đồ môi trường lưu trữ và hiển thị các dữ liệu
môi trường hỗ trợ mạnh mẽ cho công tác quy hoạch và quản lý tài nguyên, phản ánh
sự thay đổi của môi trường dưới tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã
hội của con người. Đồng thời chỉ số chất lượng nước (WQI) và phân vùng chất
lượng nước là công cụ giúp đánh giá mức độ ô nhiễm từng đoạn sông phục vụ mục
đích quy hoạch sử dụng hợp lý nguồn nước mặt và xây dựng định hướng kiểm soát
ô nhiễm, bảo vệ môi trường nước. Để quản lý môi trường khu vực sông Lam có
hiệu quả cần phải có một cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác, với khả năng cập nhật kịp
thời và nhanh chóng sự biến động chất lượng môi trường nước trong khu vực. Đề
tài luận văn thạc sỹ "Xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Lam, tỉnh
Nghệ An" được lựa chọn là xuất phát từ nhu cầu thực tế và có tính thực tiễn, vì sự

Sông Lam.
3. Nghiên cứu tổng quan về phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước
(WQI) cho sông Lam, Nghệ An.
4. Thành lập phương pháp xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước sông
Lam dựa trên chỉ số WQI: Tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) theo Quyết định
số 879/QĐ-TCMT; Thử nghệm xây dựng bản đồ hiện trạng chất lượng nước sông
Lam theo chỉ số WQI;

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học, đề tài nghiên cứu giúp học viên nắm chắc được kiến thức
cơ bản về bản đồ môi trường, ứng dụng và vai trò của bản đồ trong thực tế cũng như
quy trình và các phương pháp xây dựng các bản đồ chuyên đề về môi trường. Bên 4
cạnh là hiểu rõ hơn về phương pháp đánh giá chất lượng nước theo chỉ số WQI, qua
đó kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nhận biết hiện trạng chất lượng nước khu
vực sông Lam.
Về mặt thực tiễn, đề tài được hoàn thành sẽ là một tài liệu hữu ích cho công
tác quản lý môi trường khu vực sông Lam.
5. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm phần Mở đầu, 3 chương, phần kết luận được trình bày trong
74 trang với 39 hình và 14 bảng.
6. Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS.Võ Chí Mỹ và TS.Đỗ Hữu Tuấn, các thầy
đã định hướng khoa học và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu
và thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Em xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo Bộ môn Khoa học môi trường,
khoa Môi trường trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội đã dạy cho em kiến
thức bổ ích trong suốt 2 năm học vừa qua.

Do Nghệ An một mặt là biển và một mặt là núi nên độ dốc của sông Lam là
khá lớn, tính trung bình của cả triền sông thì sông Lam nằm ở cao độ 294 m và độ
dốc trung bình là 18,3%, khi gần tới biển chảy ngược lên hướng Bắc.
1.1.1.3. Đặc điểm thủy văn
Là một con sông lớn của Việt Nam, sông Lam có một hệ thống chi lưu sông
ngòi, kênh hồ khá lớn với mật độ sông suối là 0,60 km/km². Từ biên giới Việt-Lào
đến Cửa Rào, lòng sông dốc nhiều với hơn 100 ghềnh thác. Từ Cửa Rào trở về xuôi,
tàu thuyền nhỏ có thể đi lại được trên sông vào mùa nước. Tổng lượng nước 21,90
km³ tương ứng với lưu lượng trung bình năm 688 m³/s và môđun dòng chảy năm
25,3 l/s.km². Lưu lượng trung bình mỗi năm tại Cửa Rào là 236 m³/s, tại Dừa: 430
m³/s. Mùa lũ: xuất hiện trên các dòng chảy chính từ tháng 7-11 nhưng chiếm tới
73,5% lượng dòng chảy hàng năm. Trên dòng chính 3 tháng (8-11) có lượng dòng
chảy lớn nhất chiếm tới 55,4% lượng dòng chảy năm. Tháng có lượng dòng chảy
lớn nhất là tháng 9 chiếm 21,8% cả năm.[8]
1.1.1.4. Đặc điểm khí hậu
Khu vực sông Lam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ
rệt và có sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác.[19]
+ Nhiệt độ và độ ẩm không khí :
Nhiệt độ không khí đã được thống kê nhiều năm và lấy giá trị trung bình tại
Đài khí tượng thủy văn Bắc Trung Bộ như sau:
- Nhiệt độ trung bình 24°C
- Nhiệt độ cao tuyệt đối 42.1°C
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối 4°C
- Độ ẩm trung bình 85-90%. Độ ẩm không khí cũng có sự chênh lệch giữa
các vùng và theo mùa. Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng
khô nhất tới 18 - 19%. Số giờ nắng trung bình 1.696 giờ. Năng lượng bức xạ dồi
dào, trung bình 12 tỷ Kcal/ha năm, lượng mưa trung bình hàng năm 2.000mm thích
hợp cho các loại cây trồng phát triển.
nghiệp và môi trường.
8
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực sông Lam
Hiện nay, sông Lam đang và bắt đầu chịu sự ảnh hưởng mạnh dần lên của
các hoạt động kinh tế - xã hội và đặc biệt là các khu công nghiệp, khu khai thác chế
biến và các điểm dân cư… Sự ra đời và hoạt động của hàng loạt các khu công
nghiệp thuộc các huyện, thành phố, các hoạt động tiểu thủ công nghiệp trong các
làng nghề, các xí nghiệp kinh tế quốc phòng cùng với các hoạt động khai thác chế
biến thủy sản, khoáng sản canh tác trên hành lang thoát lũ kèm theo dự án du lịch
sinh thái ven sông Lam đã làm cho môi trường nói chung và môi trường nước nói
riêng của sông Lam biến đổi phức tạp[8].
1.1.2.1. Sự suy giảm hệ sinh thái dưới nước khu vực sông Lam
Những hậu quả do tác động của con nguời đến các hệ sinh thái bao gồm:
a. Các kỹ thuật canh tác, chăm bón, bảo vệ thực vật nhằm tăng sản lượng cây trồng.
Việc tăng diện tích canh tác cũng đồng nghĩa với việc giảm đi nơi ở và tiêu
diệt hàng loạt động vật hoang dã có ích và tăng lên số lượng các động vật không có
ích với con người trong đó có nhiều loài có hại cho sản xuất nông nghiệp. Ngoài
khai thác quá mạnh, việc giảm diện tích các đầm lầy cũng là giảm số lượng lớn các
động vật đầm lầy, động vật thuỷ sinh. Các vùng đầm lầy có thể xem như nơi tích
đọng các chất thải của cả khu vực.
Việc sử dụng quá mức phân đạm nhằm tăng năng suất rau màu của các vùng
nông nghiệp ven sông đã tăng quá mức lượng nitrat, nitrit trong rau. Trong super lân
chứa một lượng kim loại nặng, chủ yếu là Cd (Cadimi) cũng là một trong những
nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng[8].
b. Chất thải sinh hoạt và công nghiệp
Quá trình đô thị hoá nhanh các thị xã, thị tứ của các huyện sông Lam chảy
qua đã làm tăng một khối lượng lớn chất thải sinh hoạt, chất thải do sản xuất công

và cũng chưa biết thật chắc chắn cơ chế gây ra. Những nguy cơ tiềm ẩn có liên quan
đến thế giới sinh vật hay hệ sinh thái khu vực sông Lam có thể xảy ra bao gồm[8]:
- Sử dụng quá lạm dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, cỏ, thuốc kích
thích sinh trưởng, kỹ thuật biến đổi gen tạo giống mới cũng như hàng loạt chất khác 10
lạ được đưa vào cơ thể sinh vật qua phát tán, ô nhiễm sẽ gây sự biến đổi giống,
loài hay cấu trúc loài của cả một hệ sinh thái theo một hướng nào đó còn chưa rõ.
- Cư dân lưu vực sông Lam, chủ nhân của hệ sinh thái, tiêu thụ một lượng
lớn các sinh vật trong quá trình sống, sẽ có thể mắc nhiều chứng bệnh mà không rõ
nguyên nhân.
1.1.2.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội khu vực sông Lam
Khu vực sông Lam dọc theo Quốc lộ 7 là khu vực nằm ở vị trí thuận lợi của
tỉnh Nghệ An có rất nhiều lợi thế về mặt kinh tế do có vị trí thuận lợi trong giao
thương, buôn bán. Vị trí địa lý của tỉnh Nghệ An nằm trên trục giao thông Bắc -
Nam cả về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Vì vậy tỉnh có
điều kiện giao lưu kinh tế với các tỉnh thành trong cả nước và một số nước trong
khu vực. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế cả nước nói chung, ở
sông Lam nói riêng phát triển khá mạnh mẽ thì yêu cầu về lượng nước cấp đồng
thời tạo ra số lượng và đa dạng về nguồn thải cũng rất lớn.
Hiện trạng nguồn xả thải từ các cơ sở sản xuất, cụm công nghiệp và làng
nghề trên địa bàn huyện, thành phố, thị xã dọc theo trục sông Lam[8]:
a. Thành phố Vinh :
Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Nghệ An và đã được
Chính phủ quy hoạch để trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung
Bộ, Việt Nam. Hiện nay, thành phố Vinh là một trong 8 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh,
là trung tâm kinh tế lớn nhất khu vực Bắc Miền Trung của Việt Nam. Có tổng diện
tích 104,96 Km
2

trải dài theo sông Lam[19]. Nguồn xả thải trực tiếp hay gián tiếp gần vào sông Lam
là:
- Rác thải sinh hoạt của các xã ven sông vì tỉnh và huyện chưa xây dựng
được các bãi xử lý thải rắn và thải sinh hoạt nên toàn bộ rác thải hàng ngày của
người dân các xã ven sông đều được tập trung và đổ ra ven sông.
- Các chất hóa học từ các vườn rau ven sông Đước đổ thẳng ra sông Lam.
- Các khu, hộ chăn nuôi lớn và nhỏ lẻ cùng dự án chăn nuôi VietGap nhưng
chưa có hệ thống xử rác thải, phân gia súc hợp lý đều thải thẳng ra sông con và đổ
ra sông Lam.
d. Huyện Nam Đàn:
Huyện Nam Đàn có tổng diện tích 239.9 km
2
với dân số 159000 người, đây
là một huyện miền núi của Nghệ An trải dài theo sông Lam nhưng nó đã hình thành
từ rất lâu đời cùng với các làng nghề truyền thống như Làng mộc nề Nam Hoa, làng
rèn Quy Chính, làng tương Tự Trì, làng nón Đông Liệt, các làng dệt Xuân Hồ, Xuân 12
Liễu, Tầm Tang, làng nồi đồng Bố Ân, Bố Đức, làng gạch ngói Hữu Biệt, làng dầu
bông, dầu lạc Đan Nhiệm, Đồng Trung[8].
Dân cư huyện tập trung chính 2 bên con sông Đào là con sông nhân tạo lấy
nước trực tiếp từ sông Lam và toàn bộ nước thải sinh hoạt của dân cư cũng như thải
công nghiệp đều đổ ra con sông này rồi đổ vào sông Lam.
e. Thị xã Cửa Lò:
Được coi là thành phố du lịch của Nghệ An, là điểm kết thúc của sông Lam
đổ ra biển Đông. Hàng năm Cửa Lò thu hút hàng ngàn lượt khách du lịch tới đây
nên việc rác thải sinh hoạt nhiều là điều tất yếu, ảnh hưởng đến môi trường không
chỉ sông Lam mà còn đến biển Cửa Lò.
1.1.2.3. Thực trạng và diễn biễn môi trường nhân văn

theo chùm. Các trung tâm cấp quốc gia hay vùng tạo thành các đô thị hạt nhân sẽ
quy tụ các đô thị khác tạo thành các chùm đô thị. Hệ thống đô thị được lan tỏa ra
qua các đô thị cấp 2, 3 đến các thị trấn, thị xã
1.1.2.4. Những vấn đề môi trường do diễn biến dân cư - đô thị hoá
Sự phát triển dân số nói chung và dân số đô thị cùng với những tiến trình tạo
lập đô thị mới khu vực ven sông Lam và mở rộng của đô thị cũ trong thời kỳ công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và của vùng đã ảnh hưởng không nhỏ đến môi
trường. Đặc trưng chủ yếu của đô thị là nơi tập trung dân với mật độ cao, mà hoạt
động là phi nông nghiệp, là nơi tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, sản
phẩm của xã hội tính trên đầu người cao hơn nhiều lần so với mức trung bình của
đất nước, nhưng cũng là nơi phát sinh nhiều chất thải nhất gây ô nhiễm môi trường.
"Công nghiệp hoá" và "đô thị hoá" được coi là bạn đồng hành. Thông
thường, bên cạnh các khu công nghiệp mới sẽ hình thành các khu đô thị mới. Vì
vậy, khi xem xét những biến đổi môi trường cần lưu ý cả hai khía cạnh: môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội do công nghiệp hoá, đô thị hoá.
* Áp lực của dân số và đô thị hoá, công nghiệp hoá đến môi trường.
Tác động của dân cư và đô thị hoá đến môi trường là hết sức phức tạp, đa
dạng và mâu thuẫn. Bên cạnh những mặt lợi do đô thị hoá mang lại, thì sự phát triển
theo chiều thẳng đứng với xu hướng dân cư tập trung ngày càng đông ở các đô thị,
cùng với sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp, đã làm thay đổi tính chất 14
của mối quan hệ qua lại giữa xã hội và tự nhiên thông qua các yếu tố: Môi trường
đất, môi trường nước, môi trường không khí, chất thải rắn, tiếng ồn, hệ sinh thái đô
thị. Điều đó thường gây ra ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến sức khoẻ, tuổi thọ
của cộng đồng dân cư thành phố.
Rõ ràng việc phát triển đô thị sẽ ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lương thực
của vùng nói riêng và của quốc gia nói chung, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân
vùng ven đô, do mất đất, mất công cụ lao động, mất kế sinh nhai và vì thế phát sinh

tính chất độc hại càng tăng. Tuỳ đặc điểm và quy mô của từng đô thị thì lượng chất
thải rắn cũng khác. Theo kết quả quan trắc môi trường (năm 1998) cho kết quả như
sau: ở Vinh, lượng chất thải rắn bình quân/người/ngày từ 0,6 - 0,8 kg. Các thành
phố, thị xã còn lại lượng chất thải rắn bình quân/người/ngày: 0,3 - 0,5 kg[8].
Xử lý nơi chứa đựng rác thải cũng là một vấn đề hết sức phức tạp, hiện tại ở
nước ta chủ yếu là chôn lấp. Vì vậy, nguy cơ các bãi rác chôn lấp cũng là nguồn
tiềm tàng gây ô nhiễm môi trường và đây cũng là nguyên nhân gây xung đột môi
trường. Những năm gần đây, một số dự án về xử lý chất thải rắn và vệ sinh môi
trường đã được triển khai ở một số thành phố, thị xã, thị trấn Tuy nhiên, do khó
khăn về vốn nên phương án thu gom, phân loại, vận chuyển, chôn lấp vẫn là chủ
yếu.
* Áp lực của dân số - đô thị đến các công trình hạ tầng cơ sở.
Dân số thành thị tăng nhanh cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá
thường gây ra sự quá tải đối với hệ thống hạ tầng cơ sở đô thị như cấp nước, thoát
nước, hệ thống giao thông, hệ thống thu gom rác thải, hệ thống chiếu sáng Cũng
như nhiều đô thị trên cả nước, hạ tầng cơ sở sông Lam đã được sự đầu tư đáng kể,
song nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của dân cư. Việc phát triển
dân số thành thị nhanh cùng với quá trình đô thị hóa không kiểm soát được trên các
vùng lãnh thổ của các tỉnh, đã phá vỡ tính cân bằng sinh thái đô thị, làm đảo lộn đến
quy luật tự nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân cư nói chung và dân cư
đô thị nói riêng và tính bền vững của đô thị.
1.1.3. Đánh giá ô nhiễm môi trường, xung đột môi trường do dân cư và đô thị hóa
Trong toàn thể khu vực hạ lưu sông Lam thì Vinh là vùng có mức độ ô
nhiễm - xung đột môi trường mạnh nhất. Môi trường nước, đất đã và đang bắt đầu ô
nhiễm mạnh, môi trường không khí đô thị, khu dân cư cũng đã bị ô nhiễm bởi bụi,
tiếng ồn, hơi độc. Dân cư thành thị tăng, quá trình đô thị hóa phát triển đã làm tăng
lượng rác thải, song việc xử lý, thu gom chưa hợp lý và chưa đảm bảo quy trình hợp 16

17
đã trở thành một bộ phận khoa học quan trọng phát triển song song với khoa học
môi trường, ngày càng được mở rộng về nội dung và hoàn thiện về lý luận[7].
b. Vai trò, ý nghĩa: Bản đồ là phương tiện và công cụ quan trọng trong quá
trình điều tra các hiện tượng ô nhiễm, suy thoái và tai biến môi trường; phục vụ
đánh giá chất lượng môi trường, đánh giá tác động môi trường, dự báo môi trường
- Môi trường là một hệ thống phức tạp. Diễn biến môi trường không thể
diễn đạt bằng lời nói và chữ viết. Bản đồ có khả năng diễn đạt trung thực và khách
quan hiện trạng và diễn biến các hành phần môi trường. Một bản đồ môi trường có
chất lượng, có thể biểu thị phân bố không gian của các nội dung môi trường, thể
hiện một cách rõ ràng, chân thực và trực quan, mà không một văn bản, tài liệu thống
kê nào diễn đạt nổi. Ngôn ngữ bản đồ là công cụ hiệu quả để biểu thị sự phân bố các
yếu tố môi trường, biểu thị các đặc trưng về sự biến động về số lượng và chất lượng
môi trường theo không gian và thời gian[7].
1.2.2. Phân loại bản đồ môi trường
Tùy thuộc vào mục đích sử dụng và phương pháp thành lập, có thể phân bản
đồ môi trường thành nhiều loại: theo nội dung, theo chức năng, theo tỷ lệ, theo khu
vực thành lập, theo cách sử dụng…[7]
Khi phân theo nội dung, bản đồ môi trường có thể được phân thành các loại
sau đây:
- Bản đồ hiện trạng các thành phần môi trường: bao gồm các bản đồ môi
trường không khí, bản đồ môi trường nước, bản đồ môi trường đất….Trên các loại
bản đồ này, thể hiện hiện trạng (ô nhiễm, suy thoái hoặc tai biến môi trường) một
hoặc nhiều nội dung thông tin về hiện trạng môi trường, nguồn gây tác động môi
trường…tại một thời điểm nhất định. Trên bản đồ này cần thể hiện rõ mức độ ô
nhiễm, nồng độ các chất ô nhiễm, ranh giới ô nhiễm , với các giá trị tiêu chuẩn và
giới hạn các thông số cơ bản được quy định trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
môi trường và Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.

Trích đoạn Phương pháp thực nghiệm xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Lam Kết quả xây dựng bản đồ chất lượng nước sông Lam:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status