ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGUYỄN ANH TUẤN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI CÁCH TIẾP CẬNNÔNG
NGHIỆP THÔNG MINH VỚI KHÍ HẬU TRONG KẾ HOẠCH PHÁT
TRIỂN CÁC VÙNG CÀ PHÊ CHÈỞ TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Văn Viết
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành Biến đổi khí hậu: “Đánh giá
khả năng triển khai cách tiếp cận nông nghiệp thông minh với khí hậu trong
kế hoạch phát triển các vùng cà phê chè ở Tây Nguyên”được hình thành và
hoàn thiện, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được những sự trợ giúp tận
MỤC LỤC
STT Nội dung Trang
Danh mục ký hiệu viết tắt 1
Danh mục bảng 2
Danh mục hình 3
Mở đầu 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Mục tiêu của đề tài 7
2.1 Mục tiêu tổng quát 7
2.2 Mục tiêu cụ thể 7
3 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
6 Cấu trúc của luận văn 8
1 Chương 1: Tổng quan về cách tiếp cận nông nghiệp
thông minh với khí hậu
9
1.1 An ninh lương thực và Biến đổi khí hậu - Những thách
thức đối với nông nghiệp
9
1.1.1 Bảo đảm an ninh lương thực 9
1.1.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp 11
1.1.3 Tác động của nông nghiệp đến biến đổi khí hậu 12
1.2 Hướng đến các hệ thống hiệu quả và có sức chống chịu tốt
hơn
14
1.2.1 Các hệ thống sử dụng hiệu quả tài nguyên 14
nghiệp thông minh
45
3.1 Chính sách biến đổi khí hậu và nông nghiệp trên thế giới 45
3.1.1 Tài chính 45
3.1.2 Công nghệ 46
3.1.3 Xây dựng năng lực và tăng cường thể chế 47
3.2 Chính sách biến đổi khí hậu và nông nghiệp ở Việt Nam 49
3.2.1 Giai đoạn trước NTP 2008 49
3.2.2 Giai đoạn thực hiện NTP 2008 50
3.2.3 Giai đoạn thực hiện Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu
năm 2011
53
3.3 Cơ hội chính sách biến đổi khí hậu và nông nghiệp 58
3.3.1 Xây dựng cơ sở niềm tin - chỉ rõ những hành động cụ thể
theo từng quốc gia
59
3.3.2` Thiết kế những chính sách quốc gia tạo điều kiện cho việc
chấp nhận các kỹ thuật mới
59
3.3.3 Thiết kế những chính sách quốc gia có tính liên kết và phối
hợp
60
3.3.4 Xây dựng, sắp xếp thể chế quốc gia có khả năng hỗ trợ 60
3.3.5 Tiếp cận tài chính và đầu tư 61
3.3.6 Các chiến lược quốc gia và khung hành động 62
3.4 Đánh giá chung 62
4 Kết luận và kiến nghị 64
Tài liệu tham khảo 66
Khí nhà kính
FAO
Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc
GDP
Tổng thu nhập quốc nội
HLPE
Ban chuyên gia cao cấp
HST
Hệ sinh thái
IFAD
Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế
IPCC
Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
KT-XH
Kinh tế - Xã hội
KTX
Kinh tế xanh
NAMAs
Kế hoạch hành động giảm nhẹ phù hợp với điều kiện quốc gia
NAPAs
Kế hoạch hành động thích ứng phù hợp với điều kiện quốc gia
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NTP
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
ODA
Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
OECD
Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
PTBV
Các nhóm đất chính ở Tây Nguyên 34
Bảng 2.3
Các nhân tố thổ nhưỡng cơ bản ảnh hưởng đến khả năng cố
định carbon trong đất (độ sâu 30 cm)
37
Bảng 2.4
Tỷ lệ diện tích phù hợp trồng cà phê chè về mặt khí hậu
theo tỉnh (thời kỳ cơ sở, %)
39
Bảng 2.5
Tỷ lệ diện tích phù hợp trồng cà phê chè về mặt khí hậu
theo tỉnh (thời kỳ dự tính, %)
40
Bảng 2.6
Tỷ lệ diện tích đất phù hợp triển khai CSA (%) 41
Bảng 2.7
Tỷ lệ diện tích phù hợp về khí hậu và thổ nhưỡng cho việc
triển khai CSA (thời kỳ cơ sở, %)
42
Bảng 2.8
Tỷ lệ diện tích phù hợp về khí hậu và thổ nhưỡng cho việc
triển khai CSA (thời kỳ dự tính, %)
43
Phân vùng thích nghi khí hậu cho cây cà phê chè - thời kỳ
cơ sở 1990-2010 (%)
39
Hình 2.4
Phân vùng thích nghi khí hậu cho cây cà phê chè - thời kỳ
dự tính 2020-2040 (màu đậm: thích hợp, màu nhạt: không
thích hợp)
40
Hình 2.5
Các vùng thổ nhưỡng thích hợp cho việc triển khai CSA 41
Hình 2.6
Các vùng thích hợp về khí hậu và thổ nhưỡng cho việc triển
khai CSA trong thời kỳ cơ sở (màu đậm: thích hợp, màu
nhạt: không thích hợp)
42
Hình 2.7
Các vùng thích hợp về khí hậu và thổ nhưỡng cho việc triển
khai CSA trong thời kỳ dự tính (màu đậm: thích hợp, màu
nhạt: không thích hợp)
43
nông nghiệp làm tăng sản lượng, sức chống chịu (thích ứng với BĐKH), giảm
phát thải KNK một cách ổn định và góp phần thực hiện các mục tiêu ANLT
cũng như các mục tiêu phát triển khác của quốc gia.
Ở Việt Nam, các chính sách của ngành nông nghiệp và phát triển nông
thôn (NN&PTNT) cũng đang hướng đến những mặt khác nhau của cách tiếp cận
này. Tiêu biểu là những chính sách sau:
- Quyết định số 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23 tháng 03 năm 2011 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Ban hành Kế hoạch hành động ứng phó
với BĐKH của ngành NN&PTNT giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2050
với mục tiêu chung là nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH của ngành
NN&PTNT giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2050, nhằm giảm thiểu mức
độ thiệt hại do BĐKH và tham gia giảm phát thải KNK, đảm bảo được sự phát
triển bền vững (PTBV) các lĩnh vực thuộc ngành trên phạm vi toàn quốc; bảo vệ
cuộc sống của nhân dân, phòng, tránh, giảm nhẹ thiên tai do BĐKH, nước biển
dâng gây ra, đồng thời tạo ra cơ hội phát triển bền vững các lĩnh vực của ngành
NN&PTNN trong điều kiện BĐKH, trong đó chú trọng đến:
+ Ổn định, an toàn dân cư cho các thành phố, các vùng, miền, đặc biệt là
vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, ven biển miền Trung;
+ Sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp và thuỷ sản ổn định, ít phát thải và
PTBV;
+ Bảo đảm ANLT, ổn định diện tích đất lúa 3,8 triệu ha, trong đó ít nhất
3,2 triệu ha canh tác lúa 2 vụ trở lên;
+ Đảm bảo an toàn hệ thống đê điều, các công trình dân sinh, hạ tầng kinh
tế kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai;
+ Giữ vững mức độ tăng trưởng ngành 20%, giảm tỷ lệ đói nghèo 20% và
giảm phát thải KNK 20% trong từng giai đoạn 10 năm.
- Quyết định số 3119/QĐ-BNN-KHCN ngày 16 tháng 12 năm 2011 Phê
duyệt đề án giảm phát thải KNK trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020
với mục tiêu:
là một cơ hội để thúc đẩy sự phối hợp giữa các bên liên quan chủ chốt làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp và BĐKH, mang lại cho họ cơ hội cùng nhau tạo ra
một tầm nhìn tổng thể về phát triển nông nghiệp trong bối cảnh BĐKH.
Mặc dù vậy, với thực tế ở Việt Nam, cần một cách tiếp cận trung gian,
làm cầu nối trước khi xây dựng một chính sách CSA ở cấp độ quốc gia. FAO
(2012c) đã đề xuất cách tiếp cận cảnh quan để lồng ghép CSA. Cảnh quan
thường bao gồm một tập hợp duy nhất các đặc trưng kinh tế-xã hội và sinh thái
cũng như sự tương tác giữa chúng. Tuy nhiên, với phạm vi của một luận văn
thạc sỹ, cách tiếp cận này đã được đơn giản hoá với nội dung chủ yếu là việc
phát triển các vùng cà phê chè ở Tây Nguyên. Điều này đảm bảo về mặt sinh
thái của khu vực là một vùng riêng biệt của Việt Nam và việc phát triển các
vùng cà phê chè ở Tây Nguyên cũng đang là một hướng đi mới, nên luận văn sẽ
có những ý nghĩa nhất định đối với quy hoạch của vùng. Hơn nữa, cà phê chè
cũng là cây có giá trị kinh tế lớn hơn cà phê vối, do vậy, nếu tích hợp được cách
tiếp cận CSA vào các kế hoạch phát triển loại cây này, những đồng lợi ích sẽ
được phát huy một cách rõ ràng hơn. Với những lý do đó, đề tài :“Đánh giá khả
năng triển khai cách tiếp cận nông nghiệp thông minh với khí hậu trong kế
hoạch phát triển các vùng cà phê chè ở Tây Nguyên” đã được lựa chọn.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được khả năng triển khai cách tiếp cận nông nghiệp thông minh
với khí hậu trong kế hoạch phát triển các vùng cà phê chè ở Tây Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được mức độ phù hợp về điều kiện tự nhiên để phát triển các
vùng cà phê chè theo cách tiếp cận CSA;
- Đánh giá mức độ phù hợp về mặt chính sách để phát triển các vùng cà
phê chè theo cách tiếp cận CSA.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: khu vực Tây Nguyên (về mặt hành chính gồm 5 tỉnh Kon
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁCH TIẾP CẬN NÔNG NGHIỆP
THÔNG MINH VỚI KHÍ HẬU
1.1. An ninh lương thực và Biến đổi khí hậu - Những thách thức đối với
nông nghiệp
Nông nghiệp và các hệ thống sản xuất lương thực cần phải cải thiện và đảm bảo
ANLT, để làm được điều đó chúng cần phải thích ứng với BĐKH cũng như góp
phần giảm nhẹ BĐKH. Những thách thức này đang được liên kết với nhau và
cần phải được giải quyết liên tục (FAO, 2013).
1.1.1. Bảo đảm an ninh lương thực
Thế giới đang sản xuất đủ lương thực nhưng trong giai đoạn 2010-2012 vẫn có
gần 870 triệu người thiếu ăn (FAO và ctv, 2012). Thêm vào đó, 1 tỷ người khác
bị suy dinh dưỡng, thiếu những vi chất cần thiết. Mâu thuẫn là trong cùng một
thời điểm, phần lớn dân số - chủ yếu là ở những nước giàu - dư thừa dinh
dưỡng, gây nên những vấn đề sức khoẻ lâu dài và 60% những người suy dinh
dưỡng thực tế là các nhà sản xuất lương thực, các nông hộ. Với những người sản
uống tốt, chuẩn bị lương thực, sự đa dạng hóa bữa ăn và sự phân phối lương
thực trong hộ gia đình. Kết hợp với việc sử dụng lương thực sinh học, điều này
sẽ xác định hiện trạng dinh dưỡng của cá nhân;
- Sự ổn định của các chiều cạnh trên theo thời gian: Kể cả nếu sự hấp thụ lương
thực của con người phù hợp hàng ngày, một người vẫn có thể bị xem là bất
ANLT nếu không được tiếp cận phù hợp với lương thực hàng ngày. Các điều
kiện thời tiết bất lợi, sự bất ổn chính trị hoặc các nhân tố kinh tế (thất nghiệp,
tăng giá lương thực) có thể có tác động đến hiện trạng ANLT.
Với mục tiêu là đảm bảo ANLT trên toàn thế giới, việc đảm bảo sự sẵn có lương
thực và sự phù hợp trong sản xuất toàn cầu là chưa đủ, chúng ta cũng cần đảm
bảo đủ lương thực mà mọi người đều có khả năng tiếp cận ở bất cứ nơi nào, cả
về tự nhiên và kinh tế. Thêm vào đó, chúng ta cần đảm bảo rằng lương thực này
được sử dụng phù hợp với đúng chất lượng và sự đa dạng. Do đó cần phải
thưởng xuyên đảm bảo 3 hợp phần ANLT&: sự sẵn có, khả năng tiếp cận và sử
dụng.
1.1.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp
BĐKH đã có những tác động đáng kể đến nông nghiệp và được cho là sẽ tác
động nhiều hơn một cách trực tiếp và gián tiếp đến sản xuất lương thực. Sự tăng
nhiệt độ trung bình, những thay đổi trong chế độ mưa, tăng các dao động của
nhiệt độ và phân bố mưa, thay đổi sự sẵn có của nước, nhiễu động trong các hệ
sinh thái (HST) sẽ có những tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp, lâm nghiệp và
ngư nghiệp. Sự tăng cường của những tác động này sẽ phụ thuộc không chỉ vào
cường độ và thời gian của những thay đổi mà còn vào sự kết hợp của chúng
trong điều kiện địa phương. Việc dự đoán phù hợp những tác động của BĐKH
đến nông nghiệp cần dữ liệu, công cụ và mô hình ở quy mô không gian phù hợp
với diện tích sản xuất thực tế.
Những tác động của BĐKH sẽ có những ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông
nghiệp với sự giảm sản xuất ở vùng này nhưng lại sẽ làm tăng sản xuất và mở
rộng canh tác cây trồng ở vùng khác. Nói rộng hơn, BĐKH có thể sẽ làm tăng
Vào năm 2005, nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) chiếm 13,5% lượng phát
thải KNK toàn cầu (IPCC, 2007b). Con số này dựa trên các hoạt động diễn ra
trên đồng ruộng và chăn nuôi. Nhưng vai trò của nông nghiệp trong BĐKH và
đặc biệt là tiềm năng giảm nhẹ của nó cần được xem xét ở phương diện rộng
hơn là các hệ thống lương thực. Chúng bao gồm tác động của các hệ thống này
đến rừng, năng lượng và giao thông. Mở rộng sự quan tâm về vai trò của nông
nghiệp trong BĐKH là hợp lý vì một vài trong số các loại hình phát thải nông
trại không nằm trong số 13.5% nhưng được nhóm vào các lĩnh vực khác như
điện năng được sử dụng trong các công trình ở nông trại và nhiên liệu sử dụng
trong các thiết bị nông trại và vận chuyển lương thực. Nông nghiệp cũng là một
nguyên nhân chính của việc phá rừng, được tính đến 17% phát thải KNK toàn
cầu (IPCC, 2007b). Đó là lý do tại sao nông nghiệp nằm trong những nghiên cứu
về các nguyên nhân phá rừng được yêu cầu bởi COP 17. Cuối cùng, trong các hệ
thống lương thực, việc giảm phát thải ở một số lĩnh vực này có thể dẫn đến tăng
ở lĩnh vực khác. Ví dụ, dựa vào hiệu quả của các hệ thống sản xuất, các chuỗi
lương thực ngắn hơn có thể giảm chi phí vận tải nhưng lại tăng phát thải trong
nông nghiệp. Do đó, khi nhìn nhận những thách thức và cơ hội giảm phát thải
KNK từ nông nghiệp, cần thiết phải đánh giá ngoài nông trại, theo toàn bộ chuỗi
lương thực và qua quá trình sử dụng đất.
Các nguồn phát thải KNK trực tiếp trong ngành nông nghiệp không chỉ là CO
2
.
Nông nghiệp là một nguồn N
2
O, chiếm 58% tổng phát thải, chủ yếu từ đất và
thông qua sử dụng phân bón và CH
4
, chiếm 47% tổng phát thải, chủ yếu từ chăn
nuôi và canh tác lúa. Những nguồn này phụ thuộc vào các quá trình tự nhiên và
carbon trong đất, giảm làm đất, cải thiện quản lý chăn thả, phục hội hữu cơ trong
đất và đất thoái hoá.
Việc giảm phát thải trên kg của một sản phẩm nhất định cũng có lợi cho ANLT
và nông nghiệp, một trong những mục tiêu lớn. Các kết quả trực tiếp thông qua
tăng hiệu quả cũng ẩn chứa một loạt các kết quả gián tiếp khác. Những kết quả
này gồm việc giảm phát thải từ phá rừng do việc sản xuất sử dụng ít đất đai hơn.
Những lợi ích gián tiếp còn bao gồm việc giảm phát thải từ sản xuất phân bón
hoặc đầu vào năng lượng sử dụng trong nông trại. Tiềm năng giảm tương đương
770 tấn CO
2
/năm vào 2030 đã được nhận dạng từ việc giảm sử dụng nhiên liệu
hóa thạch thông qua cải thiện hiệu quả năng lượng nông trại (IPCC, 2007b).
Thêm vào đó, có những tiềm năng giảm phát thải thông qua cải thiện hiệu quả
trong các chuỗi lương thực, bao gồm cả giảm thất thoát sau thu hoạch.
Để giải quyết những thách thức trên, các hệ thống lương thực cần phải hướng
đến việc hoạt động hiệu quả hơn và được xây dựng sức chống chịu tốt hơn, điều
này sẽ được thảo luận ở phần 1.2 của luận văn.
1.2. Hướng đến các hệ thống hiệu quả và có sức chống chịu tốt hơn
Để giải quyết 3 thách thức đan xen, các hệ thống lương thực cần trở nên hiệu
quả và có sức chống chịu tốt hơn ở mọi quy mô từ nông trại đến hệ thống lương
thực toàn cầu. Chúng cần phải trở nên hiệu quả hơn trong sử dụng tài nguyên:
đất, nước và đầu vào để sản xuất được nhiều lương thực hơn một cách bền vững,
và có sức chống chịu tốt hơn với những thay đổi và đột biến của khí hậu.
1.2.1. Các hệ thống sử dụng hiệu quả tài nguyên
Hầu hết phát thải KNK của ngành nông nghiệp có nguyên nhân trực tiếp là sử
dụng tài nguyên: diện tích đất mới được chuyển đổi do phá rừng hoặc từ đồng
trồng cỏ thành đất canh tác, phân bón, chăn nuôi, năng lượng. Việc tăng hiệu
quả sử dụng tài nguyên (ví dụ sản xuất nhiều sản phẩm hơn nhưng dùng ít đầu
vào hơn) là chìa khoá để giảm phát thải tích luỹ trên kg sản phẩm. Nó cũng là
chìa khoá để cải thiện ANLT, đặc biệt là ở những vùng thiếu tài nguyên.
O trên đồng ruộng; và (iii) chăn nuôi: một nguồn phát thải CH
4
và N
2
O quan
trọng. Vốn vật chất như các công trình và máy móc cũng là một nhân tố, trực
tiếp qua sử dụng năng lượng và gián tiếp qua sản xuất chúng. Việc tăng hiệu quả
sử dụng một trong những nhân tố sản xuất này sẽ giảm phát thải tích lũy trong
sản phẩm. Do tưới tiêu thường cần đáng kể năng lượng nên hiệu quả sử dụng
nước cũng là một nhân tố quan trọng khác để tăng sản xuất, thích ứng với
BĐKH và giảm phát thải.
Riêng với lĩnh vực trồng trọt, do đây là nguyên nhân quan trọng của phá rừng
nên việc giảm mở rộng nông nghiệp thông qua thâm canh bền vững ở những
diện tích đất canh tác sẵn có có thể có ảnh hưởng lớn đến việc giảm nhẹ. Các
nghiên cứu cho thấy ở cấp độ toàn cầu, từ 1961-2005, sản lượng trồng trọt tăng
160%, năng suất tăng 135% và diện tích tăng 27% (Burney và nnk, 2010). Sự
thâm canh này cho phép nông dân tăng sản xuất lương thực trong khi đó phát
thải ít hơn khoảng 590 giga tấn CO
2
. Họ kết luận rằng phát thải do thay đổi sử
dụng đất là quan trọng hơn nhiều so với phát thải trực tiếp từ các hệ thống nông
nghiệp. Do đó, việc cải thiện năng suất cây trồng có thể trở nên quan trọng ở
mọi chiến lược giảm nhẹ. Hơn nữa, những cải tiến này cũng góp phần bảo tồn
các bể carbon ở rừng và duy trì năng lực lưu trữ carbon của chúng trong thời hạn
dài.
Các chất dinh dưỡng cho sản xuất nông nghiệp cũng cần thiết để tăng năng suất.
Nhưng việc sản xuất phân bón tổng hợp rất tiêu tốn năng lượng, với lượng phát
thải CO
2
chính họ. Nông dân phải hứng chịu những rủi ro kinh tế bao gồm sự mất an toàn
trong giao đất, những biến động về khả năng tiếp cận các đầu vào (phân bón, hạt
giống, thuốc trừ sâu, thức ăn) cả về chất lượng và số lượng cũng như những biến
động về khả năng tiếp cận thị trường.
Thuật ngữ rủi ro được sử dụng ở đây là tiềm năng của những đột biến và sức ép
tác động theo nhiều cách khác nhau đến trạng thái của hệ thống, cộng đồng, hộ
gia đình hoặc cá nhân. Xác suất, sự không chắc chắn (khi xác suất xảy ra hoặc
thậm chí là bản chất của tác động chưa được nhận thức), cường độ, quy mô kinh
tế, các quy mô thời gian, các chi phí trực tiếp và gián tiếp là tất cả những yếu tố
cần được xem xét.
Những rủi ro ảnh hưởng đến các hoạt động nông nghiệp thường được chia theo
bản chất của các đột biến liên quan (ví dụ sinh ký, kinh tế ). Chúng cũng
thường được chia theo cường độ, tần suất và khả năng dự báo của những đột
biến liên quan. Chúng cũng có thể được chia theo tác động và bản chất, cũng
như tầm quan trọng theo không gian và thời gian. Thời tiết là một trong những
nguyên nhân rủi ro lớn và cũng có ảnh hưởng lớn đến các dạng rủi ro khác.
BĐKH được cho là sẽ ảnh hưởng đến bản chất, quy mô và cường độ của những
rủi ro, sâu bệnh và làm tê liệt các chức năng HST (HLPE, 2012; FAO và OECD,
2012).
Tác động của một rủi ro phụ thuộc vào chính đột biến của nó và sức chống chịu
của hệ thống nhận đột biến đó. Phụ thuộc vào sự tổn thương, các hệ thống khác
nhau sẽ bị ảnh hưởng khác nhau bởi cùng một đột biến. Phụ thuộc vào sức
chống chịu, các hệ thống khác nhau sẽ phục hồi khác nhau.
Các hệ thống lương thực về bản chất gồm có tính sinh thái và tính kinh tế-xã
hội. Mỗi chiều hướng có sự tổ chức riêng và tương tác với các chiều hướng
khác. Các hệ thống lương thực có thể được mô tả và phân tích theo các chiều
hướng riêng của chúng. Cũng có những lý thuyết cố gắng nhận thức và mô tả
các hệ thống phức tạp để đạt được sự mô tả tốt hơn cho khái niệm bền vững.
Kể cả khi xem xét một hệ thống nông trại đơn giản, một sức ép hoặc đột biến
Trong nhiều trường hợp, có thể có sự phóng đại hoặc những tương quan dương
giữa những ảnh hưởng của đột biến vốn có bản chất đa dạng. Trong những
trường hợp đó, việc giảm khả năng bị tổn thương với một dạng đột biến có thể
cũng giúp giảm tính dễ bị tổn thường với các dạng đột biến khác. Tính dễ bị tổn
thương cũng bị ảnh hưởng bởi các đột biến khác nhau. Thông qua việc giảm sức
khỏe gia súc, hạn hán cũng tăng tính dễ bị tổn thương của chúng với bệnh tật.
Thông qua việc giảm vốn của hộ gia đình, hạn hán cũng tăng tính dễ bị tổn
thương của họ với các dạng đột biến khác.
Các hệ thống có thể được định nghĩa ở những quy mô khác nhau. Một hệ thống
quy mô lớn thường gồm các hệ thống khác nhau ở quy mô nhỏ hơn. Ví dụ, từ
phương diện sinh lý, các hệ thống cảnh quan được hợp thành từ các hệ thống
nông trại. Tính dễ bị tổn thương của một hệ thống lớn phụ thuộc vào tính dễ bị
tổn thương của các hệ thống phụ trong nó. Nó cũng phụ thuộc vào các hệ thống
khác kết nối với nó như thế nào, gồm cả các hệ thống lớn hơn, trong sự tổn
thương và nhạy cảm với các đột biến. Ví dụ, tính dễ bị tổn thương của một nông
trại với một rủi ro cụ thể là tính dễ bị tổn thương của chính nó và tính dễ bị tổn
thương của cảnh quan chứa nó
1.2.2.3. Sức chống chịu
Sức chống chịu có thể được mô tả là năng lực của các hệ thống, cộng đồng, hộ
gia đình hoặc cá nhân để phòng ngừa, giảm thiểu hoặc đối phó với rủi ro và
phục hồi từ những đột biến. Sức chống chịu thoạt nghĩ sẽ là đối lập với tính dễ
bị tổn thương. Tuy nhiên, sức chống chịu có thêm chiều cạnh thời gian. Một hệ
thống là có khả năng chống chịu khi nó ít bị tổn thương với các đột biến theo
thời gian và có thể phục hồi. Điều thiết yếu với sức chống chịu là khả năng thích
ứng. Khả năng thích ứng gồm 2 hướng: phục hồi từ các đột biến và phản ứng
với những thay đổi để đảm bảo tính mềm dẻo của hệ thống. Ví dụ, một tổ chức
các hệ thống cung cấp hạt giống cho phép nông dân mất mùa có thể có hạt giống
trong mùa vụ sau. Nó cũng cho phép họ tiếp cận với hạt giống mới với khả năng
thích ứng với các điều kiện mới.