GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG.
1. Xác định các trường hợp H không phải chịu trách nhiệm hành chính, nêu căn
cứ pháp lý.
Trách nhiệm hành chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước bắt buộc các tổ
chức, cá nhân vi phạm hành chính phải gánh chịu. Các cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt
hành chính khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định. Tuy nhiên
có những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hành chính được quy định tại khoản 6
Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008
(sau đây gọi tắt là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008) như sau: “Không xử lý vi
phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự
kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh
khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.”
Xem xét tình huống, H dù đã có hành vi vi phạm hành chính nhưng sẽ không phải
chịu trách nhiệm hành chính trong những trường hợp sau:
a. H vô ý lái xe vào đường cấm trong trường hợp tình thế cấp thiết.
Tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 128/2008/NĐ-CP quy định chi tiết việc thi hành
một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008 đã ghi rõ: “Tình thế cấp thiết
là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà
nước, của cơ quan, tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà
không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.”
Ví dụ, H đang sống cùng mẹ. Tối hôm đó, mẹ H bị đau ruột thừa rất nguy kịch. H
lấy xe máy chở mẹ đi viện. Gần đến bệnh viện thì xảy ra ùn tắc giao thông, H để ý thấy
có con đường tắt nhưng không biết nó bị cấm (để phục vụ cho buồi diễu hành ngày hôm
sau). Khi đi vào thì H bị chiến sỹ cảnh sát phát hiện. Trong trường hợp này, việc H vô ý
đi vào đường cấm là vi phạm hành chính. Tuy nhiên, trong lúc đó sức khỏe, tính mạng
của mẹ H đang bị đe dọa vì đau ruột thừa nếu không cấp cứu ngay. Việc xảy ra ùn tắc
giao thông khiến cho H không còn cách nào khác là đi vào đường con đường tắt (H
không biết đó là đường cấm). Do đó, đây là trường hợp thuộc vào tình thế cấp thiết.
b. H vô ý lái xe vào đường cấm trong trường hợp sự kiện bất ngờ.
Người thực hiện hành vi do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy
trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó. (Theo khoản 3, Điều 4 Nghị
cứu trách nhiệm hành chính đối với H.
Có thể kết luận rằng, việc Nguyễn Văn H, 17 tuổi, điều khiển xe Dream đi vào
đường cấm của H cấu thành hai vi phạm hành chính.
Thứ nhất, H có hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe
cơ giới. Về mặt khách quan, việc H điều khiển xe Dream tham gia giao thông khi chưa đủ
độ tuổi quy định đã vi phạm điểm a, khoản 2 Điều 24 Nghị định 146/2007/NĐ-CP quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ: “Cảnh cáo hoặc
phạt tiền từ 40.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm
3
2
trở lên.” Phương tiện vi phạm mà H sử dụng là chiếc xe máy Dream (mọi loại xe Dream
đều có dung tích xi lanh lớn hơn 100 cm
3
). Về mặt chủ quan, rõ ràng có thể H thực hiện
hành vi trên với lỗi cố ý vì H biết rõ rằng mình không đủ 18 tuổi, chưa có bằng lái xe thì
không được điều khiển xe máy trên 50 cm
3
nhưng vẫn làm. Chủ thể vi phạm ở đây đương
nhiên là H. Với độ tuổi 17, đương nhiên H sẽ phải chịu mọi bị xử phạt hành chính với
mọi vi phạm hành chính mà mình gây ra (theo khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính 2008). Về khách thể, hành vi này của H đã xâm phạm đến trật tự quản lý
hành chính nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
Thứ hai, H có hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ đối với người điều
khiển xe mô tô. Về mặt khách quan, hành vi vô ý đi vào đường cấm của H đã vi phạm
vào điểm c, khoản 3 Điều 9 Nghị định 146/2007/NĐ-CP nêu trên. Cụ thể, theo quy định
tại điều này thì sẽ xử phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển,
người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy,… khi có hành vi “đi vào đường cấm, khu vực
cấm”. Phương tiện vi phạm tương tự như trên là chiếc xe máy Dream mà H điều khiển.
Xét về mặt chủ quan, hành vi đi vào đường cấm của H có lỗi vô ý. Trong tình huống đề
định tại khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008). Cả hai vi phạm
thì mức phạt tối đa đều không quá 200.000 đồng nên theo Điều 54 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2008, người có thẩm quyền xử lý vi phạm sẽ xử lý vi phạm theo
thủ tục đơn giản: “Trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến
200.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt quyết định xử phạt tại chỗ…”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 146/2007/NĐ-CP thì chiến sĩ
công an nhân dân đang thi hành công vụ có thẩm quyền phạt tiền đến 100.000 đồng. Vì
vậy, đối với trường hợp thứ nhất, hành vi vi phạm điểm c, khoản 3 Điều 9 Nghị định
146/2007/NĐ-CP của H có mức phạt tiền không quá 100.000 đồng thì chiến sĩ sảnh sát
có quyền ra quyết định xử phạt ngay tại chỗ cả 2 vi phạm theo thủ tục tại Điều 54 Pháp
lênh xử phạt vi phạm hành chính 2008. Trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt. H có
thể nộp tiền phạt tại chỗ cho chiến sĩ cảnh sát, nếu không có thì cha mẹ hay người giám
hộ của H phải nộp thay. Chiến sĩ cảnh sát phải giao biên lai thu tiền phạt cho H.
Trường hợp thứ hai, chỉ cần hành vi vi phạm điểm c, khoản 3 Điều 9 Nghị định
146/2007/NĐ-CP của H có mức phạt từ trên 100.000 đồng đến dưới 150.000 đồng, thì
chiến sĩ cảnh sát đang thi hành công vụ không được phép xử phạt ngay tại chỗ vì nó vượt
quá thẩm quyền người này. Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 42 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2008 hay khoản 2 Điều 46 Nghị định 146/2007/NĐ-CP: “Nếu
hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền
của người xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt”,
rõ ràng chiến sĩ cảnh sát phải chuyển vụ vi phạm của H đến Đội trưởng, Trạm trưởng của
người này để xử lý theo thủ tục đơn giản như trường hợp trên. Bởi lẽ, theo khoản 2 Điều
44 Nghị định 146/2007/NĐ-CP thì Đội trưởng, Trạm trưởng của người được quy định tại
khoản 1 (chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ) thì có thẩm quyền phạt tiền
tới 200.000 đồng.
Căn cứ pháp lý cần được áp dụng như sau:
4
- Những căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hành chính của H (nêu ở mục 2).
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008: Điều 53 quy định về Đình chỉ hành vi
vi phạm hành chính; Điều 54 quy định về Thủ tục đơn giản; Điều 42 quy định về Nguyên
quyền xử phạt.
5