Đề cương ôn tập môn thương mại quốc tế: Phần các tổ chức quốc tế - Pdf 28

I/T ổ ch ứ c th ươ ng m ạ i th ế gi ớ i WTO: quá trình thành l ậ p, nguyên t ắ c
ho ạ t đ ộ ng, m ụ c tiêu c ủ a t ổ ch ứ c
 Quá trình thành lập :
WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade
Organization) - tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại
giữa các quốc gia trên thế giới. Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã và
đang được các nước đàm phán và ký kết.
WTO được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương
mại quốc tế của tổ chức tiền thân, GATT - Hiệp định chung về Thuế quan
Thương mại. GATT ra đời sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà trào lưu
hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc
tế đang diễn ra sôi nổi, điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển,
thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ tiền tệ
Quốc tế (IMF) ngày nay.
Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc
tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hàng hóa, khắc
phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sáng
lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc
làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc
tế (ITO) với tư cách là chuyên môn của Liên Hiệp Quốc. Đồng thời, các nước
này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý những
biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ
đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóa mậu dịch, mở đường cho
kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời
sống của nhân dân các nước thành viên.
Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thỏa
thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ
11/1947 đến 23/4/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê
1
chuẩn, nên việc hình thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không
thực hiện được.

phân chia lợi ích mậu dịch ở mọi lĩnh vực). Riêng các nước đang phát triển
và các nước có nền kinh tế thấp kém có thể hưởng lợi ích từ điều kiện
thương mại thuận lợi nhất ở bất cứ nơi nào mỗi khi các điều kiện thương mại
được đưa ra đàm phán.
Ngày nay, qui chế “tối huệ quốc” được hiểu như là sự bình thường hóa quan
hệ thương mại bình thường vĩnh viễn.
- Hình thức đối xữ quốc gia (National treatment): Đối xữ quốc gia(NT) được
hiểu là: “khi hàng hóa thâm nhập vào một thị trường, sẽ phải được đối xữ
không kém ưu đãi về thuế, điều kiện vệ sinh, v.v… so với hàng hóa tương tự
được sản xuất trong nước đó”. Sự đối xử quốc gia thường chỉ là kết quả của
cuộc đàm phán, thương lượng giữa các nước thành viên với nhau.
b) Nguyên tắc tạo điều kiện hoạt động thương mại ngày càng thuận lợi và tự do
hơn thông qua đàm phán. Tức là mỗi nước phải thiết lập được lộ trình cắt
giảm thuế và các biện pháp phi thuế quan thông qua các vòng đàm phán
song phương và đa phương để tạo thuận lợi cho việc thực hiện tiến trình tự
do hóa thương mại. Các nước thành viên phải có nghĩa vụ tạo môi trường
lành mạnh , công khai , bình đẳng giữa các sản phẩm sản xuất trong nước
mình và sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu.
c) Nguyên tắc xây dựng môi trường kinh doanh có thể dự đoán trước: Được thể
hiện qua việc các nước thành viên không được thay đổi các chính sách , pháp
luật về kinh tế một cách tuỳ tiện, đặc biệt là hàng rào thương mại, gây trở ngại
cho các nhà doanh nghiệp và nhà nhập khẩu khi thực hiện các kế hoạch, các
chính sách thương mại của mình.
d) Nguyên tắc tăng cường cạnh tranh công bằng: Các nước thành viên phải cam
kết giảm dần đi đến cắt bỏ các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng (như trợ
giá, tài trợ xuất khẩu), phải chống bán phá giá, từ bỏ các biện pháp ưu đãi, đặc
quyền đặc lợi trong hoạt động thương mại, kể cả ưu đãi cho các doanh nghiệp
nhà nước.
e) Nguyên tắc chấp nhận dành một số ưu đãi thương mại cho các nước đang phát
3

thứ 7 của Hiệp hội. Ngày 23/7/1997 kết nạp Lào và Mi-an-ma. Ngày
30/4/1999, Căm-pu-chia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN.
- ASEAN có diện tích hơn 4.5 triệu km2 với dân số khoảng 575 triệu người;
GDP khoảng 1281 tỷ đô la Mỹ và tổng kim ngạch xuất khẩu 750 tỷ USD. Các
nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hiện nay đang
đứng hàng đầu thế giới về cung cấp một số nguyên liệu cơ bản như: cao su
(90% sản lượng cao su thế giới); thiếc và dầu thực vật (90%), gỗ xẻ (60%), gỗ
súc (50%), cũng như gạo, đường dầu thô, dứa Công nghiệp của các nước
thành viên ASEAN cũng đang trên đà phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực:
dệt, hàng điện tử, hàng dầu, các loại hàng tiêu dùng. Những sản phẩm này
được xuất khẩu với khối lượng lớn và đang thâm nhập một cách nhânh chóng
vào các thị trường thế giới. ASEAN là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao so với các khu vực khác trên thế giới, và được coi là tổ chức khu vực thành
công nhất của các nước đang phát triển.
- Tuy nhiên mức độ phát triển kinh tế giữa các nước ASEAN không đồng đều.
Mi-an-ma hiện là nước có thu nhập quốc dân tính theo đầu người thấp nhất
trong ASEAN, chỉ vào khoảng hơn 200 đôla Mỹ. In-đô-nê-xi-a là nước đứng
đầu về diện tích và dân số trong ASEAN, nhưng thu nhập quốc dân tính theo
đầu người chỉ vào khoảng trên 600 đôla Mỹ. Trong khi đó, Xin-ga-po và Bru-
nây Đa-ru-xa-lam là hai quốc gia nhỏ nhất về diện tích (Xin-ga-po ) và về dân
số (Bru-nây Đa-ru-xa-lam) lại có thu nhập theo đầu người cao nhất trong
ASEAN, vào khoảng trên 30.000 đô la Mỹ/năm.
- Ở các nước ASEAN đang diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ theo
hướng công nghiệp hoá. Nhờ chính sách kinh tế “hướng ngoại”, nền ngoại
thương ASEAN đã phát triển nhanh chóng, tăng gần năm lần trong 20 năm
qua, đạt trên 160 tỷ đôla Mỹ vào đầu những năm 1990 (nay là 750 tỷ đôla Mỹ).
ASEAN cũng là khu vực ngày càng thu hút nhiều vốn đầu tư của thế giới. Nếu
năm 2005, tổng số vốn đầu tư mà ASEAN thu hút được tăng 16,9% so với năm
2004, thì năm 2006, tổng số vốn đầu tư đã tăng 27,5%.
5

- Thời hạn thực hiện CEPT của các nước có khác nhau. Cụ thể là:
 Với Brunei, Indonesia, Philippines, Singapore, Thái Lan: từ 1993 đến
2003.
 Với Việt Nam: từ 1996 đến 2006
 Với Lào, Myanmar và Campuchia: từ 1998 đến 2008.
- Để thực hiện dần dần việc cắt giảm thuế quan, mỗi nước sẽ phải phân loại
tất cả hàng hóa của mình vào một trong các danh mục sau:
 Danh mục giảm thuế (IL)
 Danh mục loại trừ tạm thời (TEL)
 Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL)
 Danh mục nhạy cảm (SL)
 Danh mục nhạy cảm cao
Danh mục giảm thuế (IL) bao gồm những mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế
quan để đến khi hoàn thành CEPT sẽ có thuế suất 0-5%. Ngay sau khi ký
CEPT, mỗi nước ASEAN phải đưa ra IL của mình để bắt đầu giảm thuế
quan từ năm 1993. Trên thực tế, không phải mặt hàng nào trong IL cũng
thực sự phải giảm thuế quan, vì có những mặt hàng trước khi đưa vào IL đã
có thuế suất dưới 5%, thậm chí bằng 0%.
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) bao gồm những mặt hàng chưa đưa vào
giảm thuế quan ngay, do các nước thành viên ASEAN phải dành thêm thời
gian để điều chỉnh sản xuất trong nước thích nghi với môi trường cạnh
tranh quốc tế gia tăng.
Sau ba năm kể từ khi tham gia CEPT, các nước ASEAN phải bắt đầu
chuyển dần các mặt hàng từ TEL sang IL, tức là bắt đầu giảm thuế quan đối
với những mặt hàng này. Quá trình chuyển từ TEL sang IL được phép kéo
dài trong 5 năm, mỗi năm phải chuyển được 20% số mặt hàng. Điều đó có
7
nghĩa là đến hết năm thứ tám thì IL đã mở rộng bao trùm toàn bộ TEL, và
TEL không còn tồn tại.
Khi đưa mỗi mặt hàng vào IL, các nước đồng thời phải chỉ ra lịch trình

giảm thuế quan nhanh hơn đối với các sản phẩm thuộc chương 01 đến chương
08 ( Động vật sống, Thịt và nôi tạng động vật, Cá, Sữa và các sản phẩm từ
sữa, Các sản phẩm khác từ động vật, Cây sống, Rau ăn được, Quarvaf hạt ăn
được )
Tính đến đô phát triển kinh tế của các nước ASEAN khác nhau, lịch trình
giảm và loại bỏ thuế quan thuộc Chương trình thu hoạch sớm như sau :
- Với nhóm nước ASEAN 6:
Nhóm thuế MFN (X
%)
Không chậm hơn
1/1/2004
Không chậm
hơn 1/1/2005
Không chậm hơn
1/1/2006
X >15% 10% 5% 0%
5%=< X =< 15% 5% 0% 0%
X <15% 0% 0% 0%
- Với Việt Nam
Nhóm
thuế
MFN
Không
chậm
hơn
1/1/200
4
Không
chậm
hơn

15%
=< X
10% 10% 5% 5% 0% 0% 0%
9
=<30
%
X <
15%
5% 5% 0-5% 0% 0% 0% 0%
Để hạn chế tác động xấu đến sản xuất những mặt hàng nhạy cảm, Hiệp định cho
pháp các nước đưa ra Danh mục loại trừ ( các mặt hàng chưa đưa vào thực hiện
Chương trình thu hoạch sớm ). Các nước có thể đưa một hay nhiều mặt hàng từ
danh mục loại trừ vào chương trình thu hoạch sớm bất cứ lúc nào.
Nhận thấy việc hình thành khu vực ACFTA mà cụ thể là chương trình thu hoach
sớm đã có tác động lớn đến hoạt động thương mại giữa các quốc gia ASEAN với
TQ. Cụ thể :
- Trong 6 tháng đầu năm 2004 TQ đã nk 330 triệu USD rau quả từ các nước ASEAN
tăng 37,8% so với cùng kỳ năm 2003 và xk sang các nước ASEAN 270 triệu USD
tăng 33,9%
- Từ ngày 1/1/2004 cả 2 bên đã cắt giảm thuế nk khoảng 600 mặt hàng nông sản
xuống từ 2%-15% đồng thời xóa bỏ hoàn toàn các dòng thuế này vào năm 2006
đối với ASEAN 6
Với VN :
Bắt đầu từ 1/1/2004, Việt Nam và Trung Quốc đã thực hiện việc cắt giảm thuế xuất
nhập theo chương trình "Thu hoạch sớm" (EH) được ký kết giữa ASEAN và Trung
Quốc nhằm sớm đi đến hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc.
Theo chương trình này, có nhiều dòng thuế được cắt giảm nhanh hơn và thậm chí
nằm ngoài khuôn khổ CEPT/AFPA đã thỏa thuận.
Theo cam kết cắt giảm thuế trong EH, từ 2004, Việt Nam phải cắt giảm 88 dòng
thuế nhập khẩu từ Trung Quốc thuộc ba nhóm (trên 30%, 15-30% và dưới 15%)

Phi-líp-pin và Xinh-ga-po) đã xóa bỏ thuế của gần 90% các mặt hàng trong Lộ trình
Thông thường. Các thành viên mới hơn của ASEAN là Việt Nam, Cam-pu-chia,
Lào, Mi-an-ma, sẽ có thời gian dài hơn để cắt giảm và xóa bỏ thuế quan. Đối với
Việt Nam, ít nhất 50% các dòng thuế trong Lộ trình Thông thường sẽ có thuế suất từ
11
0-5% trước ngày 1 tháng 1 năm 2013 và đối với Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma là
trước ngày 1 tháng 1 năm 2015. Đến năm 2016, Việt Nam sẽ phải đưa 90% số dòng
thuế về mức 0-5% và đạt mức tự do hóa hoàn toàn vào năm 2017. Thời hạn tương tự
cho Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma sẽ là 90% vào năm 2018 và tự do hóa hoàn toàn
vào năm 2020. Thái Lan, do tham gia Hiệp định AKTIG muộn hơn – năm 2007, sẽ
có lộ trình cắt giảm thuế khác. Thuế suất đối với các sản phẩm trong Lộ trình Thông
thường sẽ được cắt giảm theo từng giai đoạn và xóa bỏ vào nâm 2016 hoặc 2017.
Với việc ký kết và thực hiện Hiệp định AKTIG, quan hệ thương mại giữa ASEAN
và Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng. Năm 2009, Hàn Quốc là đối tác thương
mại lớn thứ năm của ASEAN với tổng giá trị thương mại lên tới 74,7 tỷ đô la Mỹ.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Hàn Quốc vào ASEAN là 1,4 tỷ đô la Mỹ.
-Thương mại Dịch vụ
Hiệp định Thương mại Dịch vụ ASEAN – Hàn Quốc (AKTIS) được ký ngày 21
tháng 11 năm 2007, tạo nền tảng để tiếp tục mở cửa thị trường dịch vụ cho các nhà
cung cấp dịch vụ của ASEAN và Hàn Quốc. Xây dựng trên cơ sở các cam kết theo
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của WTO, trong Hiệp định
AKTIS, cả ASEAN và Hàn Quốc đều cam kết sâu rộng hơn thông qua việc bổ sung
các ngành/phân ngành mới như kinh doanh, xây dựng, giáo dục, dịch vụ viễn thông,
môi trường, dịch vụ du lịch và dịch vụ giao thông vận tải.
-Đầu tư
Hiệp định Đầu tư ASEAN – Hàn Quốc (AK-AI) được ký kết ngày 2 tháng 6 năm
2009 nhằm tạo lập một môi trường minh bạch, thuận lợi và ổn định hơn cho các nhà
đầu tư và nguồn vốn từ ASEAN và Hàn Quốc. Nội dung chính của Hiệp định AK-
AI tập trung vào các yếu tố bảo hộ đầu tư như điều khoản về đối xử công bằng, bảo
vệ đầy đủ và an toàn cho nguồn đầu tư; chuyển giao quỹ liên quan đến nguồn đầu

Một đặc điểm nổi bật trong quan hệ thương mại Việt Nam-Hàn Quốc là việc ta
liên tục nhập siêu từ nước này. Trong năm 2010, Việt Nam chịu thâm hụt thương
mại lên đến gần 6,7 tỷ đô la, tăng 57,8% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng nhập
siêu/xuất khẩu là 216%, cao hơn nhiều so với chỉ tiêu chung. Mặc dù vậy, nhập siêu
13
từ Hàn Quốc được đánh giá là tương đối tích cực vì cơ cấu nhập khẩu từ Hàn Quốc
chủ yếu là các mặt hàng nguyên nhiên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất công
nghiệp và sản xuất hàng xuất khẩu (chiếm hơn 70% tổng kim ngạch nhập khẩu từ
Hàn Quốc). Sắt thép các loại là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất (12,3%) tiếp đến
là vải các loại (11,7%), máy móc thiết bị (11,2%), máy vi tính sản phẩm điện tử
(8,6%), xăng dầu các loại (8,3%), chất dẻo nguyên liệu (7,3%), nguyên phụ liệu dệt
may và da giầy (4,9%).
Theo đánh giá chung, Khu vực thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc đã đem lại
những lợi ích đáng kể cho các nền kinh tế ASEAN, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt,
các doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác hạn ngạch thuế quan với thuỷ sản, mặt
hàng xuất khẩu có kim ngạch hàng đầu của ta vào Hàn Quốc. Hàn Quốc cam kết
dành cho ASEAN lượng hạn ngạch thuế quan như sau: (i) Tôm đông lạnh: 5000
tấn miễn thuế; (ii) Tôm tươi: 300 tấn miễn thuế; (iii) Mực nang: 2000 tấn miễn thuế;
(iv)Tôm luộc: 2000 tấn miễn thuế; (iiv) Sắn: 25000 tấn với thuế suất 20%; (iiiv)
Tinh bột sắn: 9600 tấn với thuế suất 9%. Với mức thuế trong hạn ngạch 0% (so với
mức trung bình 15% ngoài hạn ngạch) là lợi thế cho các doanh nghiệp ASEAN và
Việt Nam. Bên cạnh đó, thuế suất mà Hàn Quốc dành cho các sản phẩm mà ta có thế
mạnh như dệt may, giày da, sản phẩm chế biến cũng rất thấp, góp phần tạo cơ hội
xuất khẩu quan trọng cho các mặt hàng này.
Một điểm đáng lưu ý là Hàn Quốc đã có nhượng bộ trong vấn đề kiểm dịch động
thực vật (SPS), chấp nhận đưa nội dung hợp tác đối với các thỏa thuận công nhận
lẫn nhau về SPS vào Phụ lục của Hiệp định khung; có điều khoản về TBT và SPS
trong Hiệp định về Thương mại Hàng hóa; thành lập Tổ công tác về TBT và SPS để
xem xét các vấn đề thực thi.
6/ASEAN – Nh ậ t B ả n :

Quốc hội Nhật Bản đã chính thức phê chuẩn hiệp định thương mại tự do giữa Nhật
Bản với Hiệp hội Các nước Đông Nam Á (ASEAN) 25/06/2008.Đây là thỏa thuận
tự do thương mại đa phương đầu tiên của Nhật Bản.Hiệp định này sẽ có hiệu lực
vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai sau khi Nhật Bản và ít nhất một thành viên
15
ASEAN hoàn tất các thủ tục thông qua trong nước. Theo thỏa thuận, Nhật Bản sẽ
miễn thuế đối với 93% hàng hóa nhập khẩu từ ASEAN trong vòng mười năm thỏa
thuận có hiệu lực.Trong khi đó, sáu thành viên ASEAN là Brunei, Indonesia,
Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan sẽ miễn thuế đối với 90% hàng hóa
nhập khẩu từ Nhật Bản trong vòng mười năm. Lộ trình miễn giảm thuế sẽ được thực
hiện muộn hơn đối với bốn thành viên ASEAN là Myanmar, Campuchia, Lào và
Việt Nam.
Kết quả : ASEAN và Nhật Bản tiếp tục mở rộng và tăng cường các quan hệ thương
mại. Tổng kim ngạch thương mại giữa ASEAN và Nhật Bản tăng 22,1% từ 173,1 tỷ
USD năm 2007 lên 211,4 tỷ USD năm 2008. Kim ngạch xuất khẩu của ASEAN
sang Nhật Bản tăng 22,8% từ 85,1 tỷ USD năm 2007 lên 104,5 tỷ USD năm 2008.
Kim ngạch nhập khẩu vào ASEAN từ Nhật Bản trong cùng giai đoạn cũng tăng từ
87,9 tỷ USD lên 106,8 tỷ USD, tương đương mức tăng 21,5%. Nhật Bản là đối tác
thương mại lớn nhất của ASEAN với 12,4% tổng kim ngạch thương mại của
khối.Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN, dòng vốn FDI từ Nhật Bản
giảm 8,4% từ 8,3 tỷ USD năm 2007 xuống 7,7 tỷ USD năm 2008. Trong các đối tác
đối thoại của ASEAN, Nhật Bản là nguồn FDI lớn thứ hai của khối này.
7/Phân tích các tác đ ộ ng c ủ a t ự do th ươ ng m ạ i khu v ự c và đa biên t ớ i
ho ạ t đ ộ ng TMQT c ủ a Vi ệ t Nam :
(Nếu có một yếu tố nào khái quát được đặc điểm kinh tế đối ngoại của Việt Nam
trong những năm qua, thì đó là xu thế tự do mậu dịch với sự tham gia ngày càng sâu
rộng hơn - xét trên số lượng, lẫn cường độ - vào các FTA. Đa phương qua ASEAN
có FTA nội khối giữa các nước ASEAN (AFTA), FTA giữa ASEAN - Hàn Quốc
(AKFTA) và FTA giữa ASEAN - Trung Quốc (ACFTA). Song phương với Nhật Bản
qua hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA).)

(AKFTA) được ký lại lần thứ ba vào tháng 8/2006 với cam kết lộ trình cắt giảm thuế
quan bắt đầu từ năm 2007. Theo cam kết trong Hiệp định thương mại hàng hóa, Việt
Nam phải cắt giảm thuế theo lộ trình với đích cuối cùng là xóa bỏ thuế nhập khẩu
17
của ít nhất 90% mặt hàng trong Danh mục thông thường vào ngày 1/1/2015, và ít
nhất 95% mặt hàng trong Danh mục này vào ngày 1/1/2016.
Tháng 12/2008, Khu vực thương mại tự do ASEAN-Nhật Bản (AJFTA) được thiết
lập và có hiệu lực ngay với một số cam kết. Khu vực thương mại tự do ASEAN -
Úc+NewZealand (ACERFTA) chính thức được ký kết vào đầu năm 2009. Nước ta
cũng có trách nhiệm trong việc thúc đẩy đàm phán thương mại toàn cầu và xây dựng
Cộng đồng kinh tế Đông Á, dù đây là những quá trình phức tạp và lâu dài.
Cuối năm 2006, nước ta chính thức trở thành thành viên WTO. Các cam kết WTO
của Việt Nam, tương tự như cam kết của các nước mới gia nhập khác, nhằm xóa bỏ
sự phân biệt đối xử giữa hàng nội địa và nhập khẩu hoặc giữa đầu tư trong và ngoài
nước và minh bạch hóa. Các lĩnh vực quan trọng nhất mà Việt Nam đã có cam kết
gồm mở cửa thị trường thông qua cắt giảm các hàng rào thuế quan; chính sách giá
cả minh bạch, không phân biệt đối xử và phù hợp với các quy định của WTO; giảm
hoặc điều chỉnh lại thuế xuất khẩu đối với một số hàng hóa; không áp dụng trợ cấp
xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập; duy trì hỗ trợ nông nghiệp trong
nước ở mức không quá 10% giá trị sản lượng; bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp công
nghiệp bị cấm từ thời điểm gia nhập; các ưu đãi đầu tư đã cấp trước ngày gia nhập
WTO sẽ được bảo lưu trong 5 năm (trừ các ưu đãi xuất khẩu đối với ngành dệt
may); tuân thủ Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIM)
của WTO từ thời điểm gia nhập; áp dụng các loại phí và lệ phí theo quy định của
WTO; tuân thủ Hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan của WTO ngay từ
khi gia nhập; tuân thủ Hiệp định về kiểm tra trước khi giao hàng cũng như các Hiệp
định có liên quan khác của WTO; duy trì hệ thống thủ tục hải quan thống nhất, minh
bạch, đơn giản và phù hợp với chuẩn mực quốc tế; các DNNN sẽ hoàn toàn hoạt
động theo tiêu chí thương mại, Nhà nước không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào
hoạt động của DNNN; chấp nhận điều khoản về nền kinh tế phi thị trường trong thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status