Đề cương ôn tập môn kinh doanh quốc tế và hướng dẫn trả lời - Pdf 13

1. Khái niệm, bản chất của KDQT (dưới góc độ chung và góc độ doanh nghiệp), các
phương thức tham gia KDQT chủ yếu của doanh nghiệp
2. Các động cơ chủ yếu thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia KDQT (lực đẩy – lực kéo)
3. Các chủ thể liên quan đến KDQT
4. DN nhỏ và KDQT (cơ hội, điều kiện, khả năng và cách thức tham gia KDQT của các
DN nhỏ)
5. Khái niệm, các cấp độ của toàn cầu hóa (TCH), các nhân tố thúc đẩy TCH (không chỉ
nêu mà cần lý giải các nhân tố này thúc đẩy quá trình TCH thị trường và TCH sản
xuất như thế nào!)
6. Lý giải sự cần thiết về tầm nhìn chiến lược toàn cầu đối với các DN
7. Khái niệm, đặc trưng và các nhân tố cấu thành văn hóa. Vai trò của văn hóa đối với
DN KDQT.
8. Văn hóa định hướng nhóm: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
9. Văn hóa định hướng cá nhân: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
10. Khái niệm, nguồn gốc, hình thức và tác động của rủi ro chính trị đối với các DN
KDQT
11. Ngăn ngừa, hạn chế rủi ro chính trị đối với DN KDQT: các bước và các công cụ áp
dụng
12. Đặc điểm của các dòng luật chính trên thế giới: Thông luật, dân luật, thần luật.
13. Một số vấn đề luật pháp quốc tế quan trọng đối với DN KDQT (Giải quyết tranh
chấp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, an toàn, trách nhiệm sản phẩm)
14. Liên hệ tình hình rủi ro chính trị đối với: i) các DN nước ngoài trên thị trường Việt
Nam; ii) đối với các DN Việt Nam trên thị trường Mỹ
15. Liên hệ thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
16. Liên hệ thực trạng vấn đề an toàn sản phẩm ở Việt Nam
17. Các đặc trưng và ưu, nhược điểm của các hệ thống kinh tế thị trường, kinh tế chỉ huy
và kinh tế hỗn hợp.
18. Nội dung và ưu nhược điểm của các chỉ tiêu thu nhập và chỉ số HDI trong việc phản
ánh trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia.
19. Chu kỳ kinh tế: đặc trưng của các pha trong chu kỳ kinh tế và tác động đến doanh
nghiệp.

Các loại hình tái xuât:
• Xuất khẩu tại chỗ
• Chuyển khẩu
- Nhóm các hình thức kinh doanh thông qua các hợp đồng:
+ Hợp đồng cấp giấy phép: là hợp đồng thông qua đó một công ty (DN, ng cấp giấy
phép) trao quyền sử dụng những tài sản vô hình của mình cho một DN khác trong một thời
gian nhất định và người được cấp giấy phép phải trả cho người câó giấy phép một số tiền nhất
định
+ Hợp đồng đại lý độc quyền: là một hợp đồng hợp tác kinh doanh thông qua đó alf
ng đưa ra đặc quyền trao và cho phép ng nhận đặc quyền sử dụng tên cty rồi trao cho họ nhãn
hiệu mẫu mã và tiếp tục thực hiên sự giúp đỡ hoạt động kinh doanh của đối tác, ngc lại cty
nhận được một khoản tiền mà đối tác trả cho công ty
+ Hợp đồng quản lý: là hợp đồng qua đó một doanh nghiệp thực hiện sự giúp đỡ của
mình đối với một doanh nghiệp khác quốc tịch bằng việc đưa những nhân viên quản lý của
mình để hỗ trợ cho DN kia thực hiện các chức năng quản lý
+ Hợp đồng theo đơn đặt hàng: là loại hợp đồng thhường diễn ra với các dự án vô
cùng lớn, đa dạng, chi tiết với những bộ phận rất phức tạp cho nên các vấn đề về vốn, công
nghệ và quản lý, họ ko tự đảm nhận được mà pahỉ kí hợp đồng theo đơn đặt hàng từng khâu
từng gia đoạn cảu dự án đó.
+ Hợp đồng xây dựng và chuyển giao: là nhứng hợp đồng đc áp dụng chủ yếu trong
lĩnh vực xd cơ sở hạ tầng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn ra xây dựng công trình, kinh
daonh trong 1 khaongr thời gian nhất định sau đó chuyển giao lại cho nước sỏ tại trong tình
trạng công trình còn đang hoạt động tốt mà nước sở tại ko phải bồi hoàn tài sản cho bên nước
ngoài
+ Hợp đồng phân chia sản phẩm: là loại hợp đồng mà hai bên hoặc nhiều bên ký kết
với nhau góp vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh và sản phẩm thu đc sẽ đc chia cho
bên theo tỷ lệ góp vốn hoặc thỏa thuận
- Nhóm hình thức kinh doanh thông qua đầu tư nước ngoài:
Đầu tư nước ngoài là một quá trình trong đó hai hay nhiều bên có quốc tịch khác nhau cùng
nhau góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư nào đó nhằm mang lại lợi ích cho

nhiên tạo ra và hữu ích về mặt kinh tế hoặc công nghệ, đbiệt là rừng. Chẳng hạn Nhật là 1
nước có mật độ dsố cao TNTN thì ít, Vì vậy hoạt động của cty sx giấy lớn nhất của Nhật Bản
là Nippon Seishi không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào nhập khẩu bột gỗ, công ty này còn nắm
quyền sở hữu các khu rừng rộng lớn và các cơ sở chế biến gỗ ở Australia, Canada, Mỹ.
Các thị trường lao động cũng là nhân tố thúc đẩy các công ty tham gia vào kinh doanh
quốc tế. Một phương pháp được áp dụng nhiều là tổ chức sx ở các nước có chi phí thấp để
duy trì mức giá có tính cạnh tranh quốc tế Để có sức hấp dẫn, 1 qgia phải có mức chi phí
thấp, có đội ngũ công nhân lành nghề và 1 môi trg với mức ổn định về kinh tế,chính trị và xh
có thể chấp nhận đc.
Câu 3: Các chủ thể liên quan đến KDQT
Các chủ thế liên quan tới hoạt động KDQT: doanh nghiệp, người tiêu dùng, tổ chức tài chính
tiền tệ, chính phủ.
Về phía doanh nghiệp
Các công ty thuộc tất cả các loại hình, các loại quy mô và ở tất cả các ngành đều tham
gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế.Tất cả các công ty sản xuất, công ty dịch vụ và công ty
bán lẻ đều tìm kiếm khách hàng ngoài biên giới quốc gia mình.
Công ty quốc tế là một công ty tham gia trực tiếp vào bất kỳ hình thức nào của hoạt
động kinh doanh quốc tế.Vì vậy sự khác nhau của các công ty là ở phạm vi và mức độ tham
gia vào kinh doanh quốc tế.Chẳng hạn, mặc dù một công ty nhập khẩu chỉ mua hàng từ các
nhà nhập khẩu nước ngoài, nhưng nó vẫn được coi là một công ty quốc tế.
Tương tự, một công ty lớn có các nhà máy phân bổ trên khắp thế giới cũng được gọi là công
ty quốc tế, hay còn gọi là công ty đa quốc gia (MNC)- một công ty tiến hành đầu tư trực tiếp
(dưới hình thức các chi nhánh sản xuất hoặc marketing) ra nước ngoài ở một vài hay nhiều
quốc gia. Như vậy. mặc dù tất cả các công ty có liên quan đến một hay một vài khía cạnh nào
đó của thương mại hay của đầu tư quốc tế đều được coi là công ty quốc tế, nhưng chỉ có các
công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mới được gọi là công ty đa quốc gia.
- Các doanh nhân và doanh nghiệp nhỏ:
Các công ty nhỏ đang ngày càng tham gia tích cực vào hoạt động thương mại và đầu tư quốc
tế. Một nghiên cứu gần đây đã cho thấy các công y nhỏ tham ia vào hoạt động xuất khẩu
nhiều hơn và tăng nhanh chóng, sự đổi mới công nghệ đã gỡ bỏ nhiều trở ngại thực tê đối với

cầu, chính sách vĩ mô khác…
Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính quyền địa
phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá, lạm phát, chính sách quản lý ngoại hối, thuế ,khủng
hoảng nợ.
Câu 4: DN nhỏ và KDQT (cơ hội, điều kiện, khả năng và cách thức tham gia
KDQT của các DN nhỏ)
Cơ hội:
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động và phát triển trong một môi trường pháp lý,
cơ chế đang được tích cực hoàn thiện theo hướng thông thoáng, gia tăng nhiều ưu đãi. Các
doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phần nào đã khắc phục được tình trạng phân biệt đối xử,
được hưởng những ưu đãi trong kinh doanh quốc tế như các doanh nghiệp lớn của Nhà nước.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng những hỗ trợ cụ thể về cải tiến quá
trình chế tác, quản lý kinh doanh các hoạt động sản xuất thủ công thông qua dự án ” nghiên
cứu phát triển ngành thủ công phục vụ công nghiệp hoá ở nông thôn Việt nam ” do Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn cùng cơ quan hợp tác quốc tế nhật bản ( JICA) thực hiện….
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã bước đầu tạo dựng được thế và lực trong kinh
doanh nội địa; và từng bước tham gia vào thị trường quốc tế, thu hút đầu tư vốn và công nghệ
của nước ngoài. Gần đây, Việt nam được đánh giá là quốc gia có môi trường kinh doanh an
toàn nhất ở châu Á – đây là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam
hợp tác với nước ngoài.
Điều kiện:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật cần phải được tiếp tục hoàn thiện phù hợp với quá trình
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, thông
thoáng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận với nguồn
vốn, đất đai, lao động, công nghệ và thông tin thị trường theo hướng: cơ chế chính sách phải
đồng bộ; xoá bỏ những phân biệt đối xử về tín dụng, thuế, giá thuê đất và các ưu đãi khác…
Thực hiện nghiêm túc theo Luật Doanh nghiệp, ban hành Luật Khuyến khích đầu tư áp dụng
chung cho cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam và khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài.
Thứ hai, phát triển thị trường lao động và có chính sách thích hợp đối với thị trường

Quĩ tín dụng nhân dân trung ương thành Ngân hàng Phát triển kinh tế ngoài quốc
doanh.Khuyến khích việc phát triển dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán và về những
dịch vụ liên quan đến tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Có chính sách hỗ trợ về thông tin, đào tạo nhằm hình thành hệ thống thông tin về kinh
tế – tài chính doanh nghiệp trong phạm vi cả nước… Nhà nước thực hiện việc hướng dẫn và
hỗ trợ về nghiệp vụ, về phương pháp quản lý,.… công bố công khai những thông tin về các
định hướng đầu tư phát triển của từng ngành, vùng và lãnh thổ; hỗ trợ về cơ sở hạ tầng để
giảm thiểu chi phí kinh doanh. Cần qui hoạch đô thị, xây dựng các cụm công nghiệp, quy mô
nhỏ ở một số thành phố nhằm đảm bảo được sự ổn định về địa bàn kinh doanh cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ tư, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong kinh doanh và mở rộng
thị trường xuất khẩu. Để giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ động, linh hoạt trong hoạt
động kinh doanh, cần có sự cải cách về đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép đủ điều kiện kinh
doanh, thủ tục vay vốn, phương thức thanh toán, kê khai nộp thuế… Các cấp, các ngành cần
tạo điều kiện để các doanh nghiệp được tự do đăng ký kinh doanh, thay đổi sản phẩm và xuất
nhập khẩu hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Để xuất khẩu có hiệu quả, cần khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân trực tiếp xuất
khẩu, cũng như gián tiếp tham gia vào hoạt động xuất khẩu.Hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ
và vừa trực tiếp tham gia vào các hợp đồng xuất khẩu, không phân biệt mặt hàng xuất khẩu;
mở rộng các nghiệp vụ bảo hiểm xuất khẩu. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong quá
trình đẩy mạnh xuất khẩu cần chú ý đến thương hiệu sản phẩm…
Thứ năm, nâng cao hơn nữa vai trò của các hiệp hội, câu lạc bộ giám đốc và tổ chức
chuyên môn đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa .
Ở các nước có nền kinh tế phát triển, các hiệp hội chuyên ngành, các câu lạc bộ…. có vai trò
to lớn trong việc xúc tiến thương mại, giao lưu, trao đổi thông tin và hỗ trợ phát triển chuyên
môn.Ở Việt Nam, cũng có một số hiệp hội ngành hàng, tổ chức chuyên môn đã tích cực hoạt
động nhưng hiệu quả và vai trò còn hạn chế. Các hiệp hội, các câu lạc bộ chuyên ngành cần
nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc tổ chức sinh hoạt, giao lưu, giới thiệu kinh nghiệm
trong nước và quốc tế, cập nhật thông tin về ngành và về hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển .

Để toàn cầu hóa cần phải cso các liên kết kinh tế: Các loại hình liên kết kinh tế hiên
nay bao gồm:
+ Khu vực mậu dịch tự do: các nc thanh viên trong kkhu vực áp dụng 1 biểu thuế quan
thống nhất hay các nc dỡ bỏ hàng rào thuế quan, hàng hóa dịch vụ di chuyển tự do giữa các nc
+ Đồng minh thuế quan: đây là hình thức liên kết cao hơn, nó không chỉ laoị bỏ các
hạn chế thuế quan giữa các nc thành viên mà còn thiết lập biểu thuế quan chung cho các nc
ngoài liên minh
+ Thị trường chung: ngoài việc áp dụng các biện pháp giống đồng minh thuế quan, các
nước tham gia thị trường chung cho phép vốn, lao động đc tự do di chuyển thông qua việc
hình thành 1 thị trường thống nhất.
+ Liên minh tiền tệ: là hình thức chủ yếu của liên kết kinh tế trên lĩnh vực tiền tệ, các
nc tham gia liên kết phải phối hợp các chính sách tiền tệ với nhau, thực thi 1 chính sach tiền tệ
chung trong toàn khối, thống nhất đồng tiền trong toàn khối
+ Liên minh kinh tế: đây là liên kết có trình độ cao nhất hiện nay, Hàng hóa, dịch vụ,
sức lao động, vốn đc di chuyển tự do giữa các quốc gia thành viên. Các nước thực hiện 1
chính sách thuế quan với nc ngoài liên minh, thực hiện các chính sách kinh tế tài chính thống
nhất hình thành cơ cấu kinh tế mới có tính chất khu vực
Các nhân tố thúc đẩy TCH
Có 2 nhân tố chính:
- Giảm bớt các trở ngại đối với thương mại và đầu tư:
• Hiệp định GATT là 1 hiệp định quốc tế có chức năng thiết lập những quy tắc cụ thể
đối với thương mại quốc tế nhằm mở cửa các thị trường quốc gia thông qua việc cắt
giảm thuế quan và các trở ngại phi thuế quan
• Thuế suất TB đối với thương mại hàng hóa sẽ giảm hơn nữa
• Trợ cấp (trợ giá) đối với nôg sản được giảm đáng kể
• Quyền sở hữu trí tuệ đc định nghĩa ró ràng và thưucj hiện bảo hộ đối với bản quyền,
nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụ và bằng sáng chế
• Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đc thành lập với chức năg tăng cường hiệu lực
của Hiệp đinh GATT
• Các khối thương mại đc sáng lập làm tăng tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế

ngăn cách địa giới trong giao dịch của con người trên tất cả các mặt giãu các quốc gia.Điều
này đã đẩy quốc tế hoá nền kinh tế lên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế
giới. Cac quốc gia dù muốn hay không dều chịu tác động của của quá trình toàn cầu hoá và
đương nhiên để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay không thế không tham gia quá
trình toàn cầu hoá, tức là hội nhập quốc tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thi trường
Qua trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát triển của
kinh tế thi trường. Kinh tế thị trường phát triển đã mở ra điều kiện cho sự gia tăng xu thế quốc
tế hoá, thể hiện trên hai khía cạnh chính: Thứ nhất, kính tế thị trường mở ra cơ sở, điều kiện
cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho quy mô sản xuất không bó hẹp trong phạm
vi cua từng quốc gia mà mang tầm quốc tế, như vậy cũng có nghĩa là thúc đẩy quá trình phân
công lao động quốc tế, gắn các quố gia vào sự ràng buộc của sản xuất và tiêu thụ. Thứ hai,
nền kinh tế thi trường phát triển của các quốc gia đưa lại cơ chế thống nhất cho sử lý các mối
quan hệ, đó là cơ chế thị trường.
Có thể nói, ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất với cơ chế vận hành : cơ chế thi
trường.
Kinh tế thi trườngcàng phát triển thì sự giao thoa thâm nhập lẫn nhau giữa các nền
kinh tế càng tăng. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường không chỉ ở sự mở rộng qui
mô về không gian, về sự xâm nhập ràng buộc lẫn nhâu giữa các quốc gia mà còn thể hiện ở sự
phát triển theo chiều sâu. Đó là sự bùng nổ phát triển của thi trường tài chính gắn liền với sự
xuất hiện của một loạt công cụ mới trong thanh toán giao dịch. Thi trường sản phẩm hàng hoá
cũng gia tăng mạnh mẽ thể hiện ở qui mô chưa từng có của khối luqongj giao dich thương
mại và ở sự phát triển của các dang giao dịch mới như thương mại dịch vụ và điện tử.
Như vậy có thể thấy sư phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường chínhlà cơ sở, điều
kiệncho quá trình quốc tế hoá. Nhìn chung các quốc gia trên thế giới ngày nayđèu dựa trên cơ
chế thị trường, sử dụng các phương tiện và công cụcủa kinh tế thị trường trong hoạt động kinh
doanh, đưa lại một không gian rộng lớn, không gian toàn cầu cho các hoạt động sản xuất và
lưu chuyểncác yếu tố của chính quá trình sản xuất ấy,
Sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới kết thúc chiến tranh
lạnh bước vào thời kì hoà bình hợp tác và phát triển.

bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu làmm gia tăng tính đa dạng của nó.
Sự hình thành và phát triển của các định chế toàn cầu và khu vực.
Các định chế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế hoá, toàn cầu
hoá kinh tế.Sự tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu và khu vực lại góp phần thúc
đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu hoá.
Trong các tổ chức kinh tế- thương mại-tài chính toàn cầu và khu vực có ảnh hưỏng lớn
tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá phải kể đến WTO, IMF, WB và các tổ chức khu
vực khác như EU, NAFTA, APEC Với các mục tiêu chức năng của mình các tổ chức kinh
tế quốc tế đã tham gia và thúc đẩy các hoạt động kinh tế quốc tế, điều phối và quản lí các hoạt
động này. Cho dèu tính hiệu quả của các tổ chức này còn đựoc đánh giá khác nhau xuất phát
từ quan điểm lợi ích quốc gia, song không ai không thừa nhận sự cần thiết và vai trò của
chúng, thậm chí đang đặt ra yêu cầu về hoàn thiệncơ cấu tổ chức, đổi mới nguyên tắc hoạt
động của chúng.
Tác động của các tổ chức toàn cầu và đặc biệt là các tổ chức khu vực đến xu thế toàn
cầu hoá kinh tế thể hiện ở hai điểm chính:
-Thứ nhất, việc tham gia vào các tổ chức này cho phép các quốc gia đựoc hưỏng
những ưu đãi của hoạt động kinh doanh khu vực; thúc đẩy các quốc gia trong khu vực tiến
đến những chuẩn mực chung trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở các
thoã thuận hợp tác song phương và đa phươngđã làm tăng lên sự gắn bó tuỳ thuộc lân nhau
giữa các nền kinh tế, thực chất nó đã thúc đẩy phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc
trong nội bộ tổ chức.
-Thứ hai, hoạt động của các tổ chức này từ thấp đến cao sẽ đẩy đến hình thành một thị
trường thống nhất trong khu vực buộc các quốc gia tham gia phải có lịch trình hội nhập tích
cực để hoà đồng vào khu vực.
Nói tóm lại các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực vừa là kết quả vừa là động lực của quá
trình toàn cầu hoá kinh tế.
Vai trò của chính phủ và sự chuyển đổi trong chính sách phát triển.
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song tốc độ của toàn cầu hoá phụ thuộc rất nhiều
vào chính sách của các quốc gia. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất thì việc đóng cửa đất nước
không giao lưu thông thương với nước ngoài của các quốc gia đã làm cho lưu thông quốc tế bị

quốc tế, các công ty cần thường xuyên đưa ra những quyết định kinh doanh quốc tế đúng đắn.
Muốn làm được điều đó, DN cần phải có một tầm nhìn chiến lược toàn cầu
Câu 7. Khái niệm, đặc trưng và các nhân tố cấu thành văn hóa.Vai trò của văn hóa
đối với DN KDQT.
Khái niệm:
Văn hóa là một hệ thống các giá trị chân lý, chuẩn mực, mục tiêu mà con người cùng
thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và hoạt động sáng tạo. Nó được bảo tồn và
chuyền hóa cho những thế hệ nối tiếp theo sau.
Văn hóa là một phạm trù dùng để chỉ các giá trị , tín ngưỡng, luật lệ và thể chế do một
nhóm người xác lập nên
 Giá trị (Values): những gì (có tính trừu tượng) mà một nhóm người nào đó cho rằng
là tốt, là đúng và mong muốn đạt được.
 Chuẩn mực (Norms): Những quy tắc, hướng dẫn xã hội về hành vi phù hợp trong bối
cảnh cụ thể
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua
lại giữa con người và xã hội.Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và
duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động
và tương tác xã hội của con người.Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội
được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng
như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
=> Đặc trưng của văn hóa:
• Tính dân tộc
• Tính ổn định
• Tính cộng đồng
• Tính phổ biến
• Tính đặc thù
• Tính học hỏi
• Tính kế thừa
• Tính tiến hóa

quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt.
4. Cấu trúc xã hội
Cấu trúc xã hội thể hiện cấu tao tảng của một nền văn hóa bao gồm các nhóm xã hội
các thể chế hệ thống xã hội mối quan hệ giữa các địa vị này và quá trình qua đó các nguồn
nhân lực xã hội được phân bổ
- Các nhóm xã hội: con người trong tất cả các nên văn hóa tự hội họp với nhau thành
các nhóm xã hội rất đa dạng. Hai nhóm đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ảnh hưởng
đến các hoạt động kinh doanh ở mọi nơi là gia đình và giới tính
+Gia đình:
• Gia đình hạt nhân: hình thành trên cơ sở các mối quan hệ gần gũi nhất của một con
người gồm cha mẹ anh chị em xuất hiện ở Úc, Canada, Mỹ và các chây Âu
• Gia đình mở rộng hình thành trên cơ sở mở rộng gia đình hạt nhận trong đó sẽ bao
gồm cả ông bà cha mẹ cô dì chú bác cháu chắt và người thân thích như con dâu con rể.
xuất hiện nhiều ở Châu Á, Trung Đông, Bắc Phi và Mỹ Latinh
+ Giới tính: đc nhận biết qua các hành vi và thái độ về mặt xã hội đề cập đến vấn đề là nữ hay
nam, chẳng hạn như phong cách ăn mặc và sở thích hoạt động.
- Địa vị xã hội
Thường được xác định bởi 1 hay nhiều trong 3 yếu tố sau: tính thừa kế gia đình, thu
nhập và nghề nghiệp. ở hầu hết các xh thì những tầng lớp cao nhất thường do những ng có uy
thế, quan chức chính phủ và doanh nhân kinh doanh hàng đầu nắm giữ. Các nhà khoa học bác
sĩ và nhiều giới khác có có trình độ đại học chiến thứ bậc TB trong xh. DƯới các tầng lớp đó
là lđộng có giáo dục trung học và đào tạo nghề cho các nghề nghiệp chân tay và văn phòng.
Mặc dù bậc xh là ổn định nhưng mọi ng có thể cải thiện địa vị của mình.
- Tính linh hoạt của xã hội: một trong hai hệ thống quyết định tính linh hoạt của xh là:
hệ thống đẳng cấp và hệ thống giai câp:
+Hệ thống đẳng cấp: là 1 hệ thống về phân tầng xh trong đó con ng đc sinh ra ở một
thứ bậc xh hay đẳng cấp xh, ko có cơ hội di chuyển sang 1 đẳng cấp khác.
+ Hệ thống giai cấp: là 1 hệ thống phân tầng xh trong đó khả năng cá nhân và hành
động cá nhân quyết định địa vị xh và tính linh hoạt của xh
5. Tôn giáo: là 1 hệ thống các tín ngưỡng và nghi thức liên quan tới yếu tố tinh thần

thích ứng với hệ thống các giá trị và chuẩn mực của nền văn hóa đó
 Tránh quan điểm vị chủng: quan điểm cho rằng một dân tộc hay văn hóa của một dân
tộc có tính ưu việt hơn so với các dân tộc hoặc các nền văn hóa khác
 Văn hóa và đàm phán: thời gian, địa điểm, số lượng người tham gia, chiến thuật đàm
phán
 Văn hóa và quá trình ra quyết định: ai là người ra quyết định (cá nhân hay tập thể) và
ra quyết định như thế nào (dựa trên thông tin định lượng hay định tính, sự hợp lý, kinh
nghiệm hay các yếu tố khác)
 Văn hóa và hoạt động marketing: chọn sản phẩm (không được kinh doanh rượu bia ở
các nước theo đạo Hồi), đặt tên sản phẩm (Ford Feira), bao bì, đóng gói, định giá sản
phẩm, quảng cáo (chữ viết – quảng cáo bột giặt ở các nước Arập, hình ảnh – giày
NIKE), kênh phân phối
 Văn hóa và quản trị nhân lực: tuyển chọn, bố trí công việc, trả lương, thưởng phạt,
quan hệ lao động (phụ thuộc vào giá trị và thái độ, văn hóa định hướng nhóm hay định
hướng cá nhân, tôn giáo).
 Lựa chọn địa điểm kinh doanh: Văn hóa có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho một quốc
gia (quốc gia có hệ thống giáo dục phát triển sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài)
Câu 8: Văn hóa định hướng nhóm: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
“Văn hóa định hướng nhóm (Group-oriented Culture) là tập hợp các giá trị và chuẩn
mực có tính đặc trưng cho nhóm người đề cao sự phụ thuộc qua lại giữa con người
với nhau và tầm quan trọng của tập thể chứ không phải là của từng cá nhân riêng
rẽ”.
Đặc trưng: Một nền văn hóa trong đó một nhóm cùng chung chia sẽ trách nhiệm về sự sung
túc của mỗi thành viên được gọi là nền văn hóa định hướng theo nhóm. Con người làm việc vì
tập thể nhiều hơn các mục tiêu cá nhân và có trách nhiệm trong nhóm đối với các hành động
của họ. Toàn thể các thể chế xã hội, chính trị, kinh tế và luật pháp phản ánh vai trò chủ yếu
của nhóm. Mục tiêu duy trì sự hài hòa nhóm được minh chứng tốt nhất thông qua cấu trúc gia
đình. Ví dụ: Nhật Bản.
- Đề cao lợi ích , giá trị của nhóm : Con người thuộc nền văn hóa định hướng nhóm
thường đặt mục tiêu tạo ra lợi ích , giá trị cho tập thể rất quan trọng trong các hoạt động của

của doanh nghiệp. Phương pháp làm việc theo nhóm thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ trong nhóm
và các công nhân quan tâm nhiều nhiệm vụ hơn là chỉ quan tâm đến một số nhiệm vụ nào đó
mà thôi. Xét về mặt liên kết nhóm thì một phần của mức lương thường không dựa trên sản
lượng, vì nếu vậy nhóm sẽ gây áp lực đòi hỏi không được vắng mặt thường xuyên và luôn cố
gắng nhiều. Xét về mặt nhiều loại nhiệm vụ khác nhau, các công nhân viên có thể luân phiên
làm các công việc trong nhóm để giảm sự nhàm chán và phát triển khả năng thay thế phòng
khi người nào đó trong nhóm vắng mặt.
- Quản lý nhân sự: dễ quản lý, tính kỉ luật chung cao, mọi người đều vì lợi ích chung
của tập thể, có tinh thần trách nhiệm cao, giảm thiểu hiềm khích giữa các cá nhân, tránh làm
phá vỡ sự thống nhất giữa các tổ chức sản xuất, mục tiêu của nhóm phù hợp với mục tiêu
chung của doanh nghiệp.
- Quan hệ lao động:
- Cấp trên với cấp dưới: Bình đẳng, khuyến khích sự hợp tác giữa người lao động và nhà
quản trị bằng cách phân chia quyền lãnh đạo.Nhân viên được tham gia vào hoạt động quản trị
của công ty, đây là quá trình hợp tác giữa người lao động và nhà quản trị trong việc ra quyết
định và các chính sách kinh doanh.
- Tuyển dụng : Sở hữu lực lượng nhân viên trung thành, có sự tận tụy với tổ chức cao.
Người lao động rất có tinh thần trách nhiệm đối với công ty. Vì lợi ích của công ty mà người
lao động sẵn sàng làm bất cứ công việc gì được giao phó, bất kể họ là những người có chức
vụ hay không. Họ được đào tạo kỹ lưỡng về nhiều chuyên ngành nên luôn luôn chuẩn bị sẵn
sàng mọi tình huống để có thể thay thế đồng nghiệp lúc cần thiết. Và như vậy có nghĩa là kiến
thức của họ rất đa dạng, tổng hợp.
- Hệ thống trả lương, thưởng phạt đơn giản, theo cấp bậc. Trong một vài nước, hiệu quả
công việc thường không phải là cơ sở chính để thăng cấp công nhân. Ở Trung Quốc và Nhật
Bản, tuổi đời mới là nhân tố quyết định hàng đầu trong việc thăng cấp. Vì vậy, nhân viên sẽ
được đãi ngộ dựa trên thâm niên chứ không phải theo kết quả công việc. Điều này sẽ gây khó
khăn khi liên doanh với các công ty nước ngoài, vì phong cách quản lý phương Tây lại là trả
lương theo hiệu quả công việc, nên nhân viên thâm niên cao chưa chắc được đãi ngộ tương
xứng.
2.Triết lý kinh doanh:Hướng tới mục tiêu đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, xã hội; đặt lợi ích

nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.
+Giá cả: dễ dàng đưa ra được giá sản phẩm cuối cùng hợp lý do tuy có nhiều ý kiến về giá,
việc định giá tuy có mất nhiều thời gian hơn nhưng sẽ tìm được mức giá trung bình của cả
nhóm, đảm bảo tính khách quan cao, tính khả thi cao.
- Đàm phán: tạo lập được nhiều mối quan hệ dựa trên mức độ tin cậy lẫn nhau do các đối
tác “gặp gỡ” nhau vì mục tiêu 2 bên cùng có lợi, như vậy các đối tác có thể linh động giúp đỡ
nhau trong nhiều trường hợp để duy trì mối quan hệ.
Ví dụ: Những mối quan hệ: Doanh nhân - Xã hội; Doanh nhân - Khách hàng; Doanh
nhân - Các Doanh nhân đối tác; Cấp trên - cấp dưới thường nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn
về lợi ích, tiêu chí, đường lối. Để giải quyết các doanh nhân Nhật Bản thường tìm cách mở
rộng đường tham khảo giữa các bên, tránh gây ra những xung đột đối đầu. Các bên đều có
thể đưa ra các quyết định trên tinh thần giữ chữ Tình trên cơ sở hợp lí đa phương. Các qui
định Pháp luật hay qui chế của Doanh nghiệp được soạn thảo khá " lỏng lẻo" rất dễ linh
hoạt nhưng rất ít trường hợp lạm dụng bởi một bên.
PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA VĂN HÓA NHÓM ĐẾN KINH
DOANH:
1. Quản trị nguồn nhân lực :
a) Thiết kế công việc :
Thiết kế công việc là cách mà một loạt công việc hoặc một công việc trọn vẹn được thiết
lập nhằm sắp xếp một cách hợp lí các yêu cầu về sức mạnh và hoạt động trí óc. Tuy nhiên,
theo nghiên cứu (1) “ Taking stock in our progress on individualism – collectivism: 100 years
or solidarity and community” của P.C.Earley và C.B.Gibson đã chỉ ra rằng “thiết kế công
việc không phù hợp và áp dụng được ở những nền văn hóa theo định hướng nhóm”. Tại
những nền văn hóa này, công việc có sự lệ thuộc và những nhu cầu giống nhau trông tổ chức
có tầm quan trọng đối với công việc hơn là những nhân tố truyền thống của một công việc
như: sự xác định nhiệm vụ và sự phản hồi …
Nghiên cứu này cũng cho thấy có sự ảnh hưởng của giá trị tổ chức đối với văn hóa định
hướng nhóm, đặc tính của nhiệm vụ có thể ảnh hưởng bởi bởi cấp độ của nhóm và giữa những
người trong nhóm đó. Những người gắn mình với nhiệm vụ độc lập trong xã hội định hướng
cá nhân sẽ hoàn thành chúng tốt hơn là những người gắn mình vào nhiệm vụ mang tính hợp

hài hòa lợi ích của các thành viên trong nhóm hơn là những mục tiêu sẽ đạt được. Trong
việc khen thưởng, tại các quốc gia có văn hóa định hướng nhóm, các cá nhân không có
xu hướng tự tôn mình lên trước người khác và thường hướng tới sự ngang bằng giữa các
thành viên. Bên cạnh đó, trong nền văn hóa định hướng nhóm, con người thường tiết
chế rất tốt khi đóng góp bất cứ y kiến gì trong nhóm và luôn tránh làm mất mặt người
khác. Chính điều này vô hình đã làm sự mất công bằng và minh bạch trong công việc.
Nhóm sẽ không có những ý tưởng tốt trong công việc do cá nhân không muốn thể hiện
mình.
c) Khả năng làm việc nhóm
Theo một nghiên cứu của Lobel & McLeod vào năm 1991 được đề cập trong nghiên cứu
(1), thì giữa hai nhóm đến từ Mĩ và Nhật Bản, sau khi được chọn giữa cạnh tranh và hợp tác
thì nhóm Nhật đã thể hiện thái độ hợp tác hơn nhóm Mĩ. Tuy nhiên, sự hợp tác này lại khiến
mỗi cá nhân trong nhóm ỷ lại vào người khác và mất dần sự tự tin vốn có của mình khi làm
việc độc lập. Càng làm việc nhóm nhiều thì tính cạnh tranh- một nhân tố thúc đẩy sự phát
triển càng biến mất. Trong những nền văn hóa như Nhật Bản, làm việc nhóm sẽ thành công
hơn và có sự thể hiện tốt hơn là làm việc cá nhân, nhưng người Nhật lại không đạt được
những kết quả mang tính kết nối toàn xã hội và không được tự do thể hiện bản thân.
Mặt khác, trong nền văn hóa định hướng nhóm, nhóm thường chịu trách nhiệm tốt hơn so
với cá nhân. Trong khi đó, tại các nền văn hóa định hướng cá nhân, mỗi người phải tự chịu
lấy trách nhiệm của mình. Và năng suất làm việc của những cá nhân trong nền văn hóa Mĩ
hay châu Âu thường cao hơn hẳn khi làm việc một mình và sẽ ngược lại nếu làm việc nhóm.
Còn những đồng nghiệp người Trung hay Nhật, họ đạt kết quả cao hơn khi làm việc nhóm và
tồi hơn khi làm việc cá nhân.
Để chúng minh cho điều nay, Earley đã lập một nhóm gồm 48 thực tập sinh người Trung
và nhóm khác gồm 48 thực tập sinh người Mĩ. Nhiệm vụ của họ là viết ghi nhớ và đánh giá kế
hoạch, đơn xin việc của những ứng viên. 10 người đầu tiên mỗi nhóm sẽ thực hiện một công
việc gồm 200 nhiệm vụ đơn lẻ và phải hoàn thành trong 1 giờ đồng hồ và được ẩn danh. 10
người tiếp theo cũng được làm nhiệm vụ tương tự như trên nhưng phải ghi tên các thành viên
trong nhóm và phân công công việc. 10 người tiếp của cả hai nhóm được giao các nhiệm vụ
đơn lẻ và phải hoàn thành trong 2-5 phút và cũng được ẩn danh, nhóm người còn lại của hai

“tôi” . Trong cuộc đàm phán họ thường để đến bối cảnh. Người Nhật thường sử dụng những
ngôn ngữ tiềm ẩn thể hiện thông qua thái độ, hành vi hơn là lời nói. Trong đàm phán họ
thường im lặng hay không nhất quán rõ ràng. Đặc biệt, thái độ im lặng trong đàm phán của
các đối tác đến từ nền văn định hướng nhóm dễ khiến người khác hiểu lầm và khó đoán định.
Với người Nhật hay Trung, sự im lặng có thể đông nghĩa với sự không đồng tình hoặc sức
mạnh tiềm ẩn cho dù những người Mĩ chỉ thấy sự yếu ớt và ngại ngùng trong hành động này.
Trong đàm phán, người Nhật hay người Trung thường tránh xung đột và không đi thẳng vào
vấn đề trong khi người Mĩ lại thích sự rõ ràng và có cái nhìn trực diện vào vấn đề đang bàn
luận. Điều này gây mất thời gian và gây khó chịu cho những người phương Tây. Tại các quốc
gia theo nền văn hóa định hướng nhóm, phong cách đàm phán thường làm hài lòng số đông
cho nên khó thực hiện được những yêu cầu mà số đông đưa ra hoặc nếu có thực hiện thì cũng
không triệt để. Đối với những người trong nhóm, họ thường thân tình và cởi mở hơn khi giao
tiếp trong khi đó lại thỏa hiệp hơn đôi khi là khách sáo nếu giao tiếp vơi người ngoài nhóm.
Trong nền văn hóa định hướng cá nhân, thường có ý kiến rõ ràng về mục đích và ý định của
cuộc đàm phán, khi có tranh chấp họ cũng dễ dàng tìm ra giải pháp và thích làm chủ mọi tình
huống. Trong khi ở nền văn hóa định hướng nhóm, họ không có khuynh hướng thích kiểm
soát vấn đề .
3. Qúa trình ra quyết định trong kinh doanh:
“Ở nền văn hóa định hướng nhóm, luôn tồn tại quyền lực nhóm. Các quy tắc nhóm và
nghĩa vụ được đề cao khi đưa ra quyết định hơn là quyền và kinh nghiệm của cá nhân . Và
quyết định này dựa trên sự hi sinh vì những mục tiêu cần đạt được và lợi ích duy trì mối quan
hệ tốt với những thành viên khác trong nhóm” theo nghiên cứu (3) The impact of I and C on
ethical decision making by individual in organization
Trong nền văn hóa này, người ra quyết định là trưởng nhóm và người trưởng nhóm sẽ đưa
ra quyết định dựa trên những chuẩn mực và qui tắc đạo đức mà không dựa trên cơ sở của sự
công bằng. Thời gian ra quyết định cũng lâu hơn so với khi quyết định bởi cá nhân nhưng
mức độ chính xác và hiệu quả thì chưa chắc đã hơn. Tính kiên định của người ra quyết định
cũng bị ảnh hưởng khi có nhiều ý kiến đóng góp.
Câu 9: Văn hóa định hướng cá nhân: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
Khái niệm: Một nền văn hóa trong đó mỗi cá nhân có xu hướng chịu trách nhiệm cho sự

-Chủ nghĩa cá nhân không thể giải quyết được vấn đề gia tăng bất bình đẳng giữa người giàu
và người nghèo
Tóm lại, lựa chọn chủ nghĩa cá nhân hay chủ nghĩa tập thể phải dựa vào những điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể.Phải có sự kết hợp hài hòa giữa 2 chủ nghĩa nhằm đem lại lợi ích cao
nhất.Đề cao chủ nghĩa tập thể nhưng vẫn phải xác định đúng vai trò của cá nhân trong cộng
đồng, tạo mọi điều kiện để các cá nhân có cơ hội phát huy tính sáng tạo, khả năng của mình.
Ý nghĩa đối với kinh doanh:
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
Câu 10: Khái niệm, nguồn gốc, hình thức và tác động của rủi ro chính trị đối với các
DN KDQT
Khái niệm rủi ro chính trị: rủi ro chính trị là những nguy cơ hoặc thiệt hại cho doanh
nghiệp có nguyên nhân bắt nguồn từ những biến động chính trị bất thường gây ra.
Nguồn gốc:
- Sự lãnh đạo của chính trị yếu kém;
- Chính quyền bị thay đổi thường xuyên;
- Sự dính líu đến chính trị của các nhà lãnh đạo tôn giáo và quân đội;
- Hệ thống chính trị không ổn định;

Ngày nay, các chính phủ ít sử dụng đến giải pháp tịch thu hoặc xung công. Bởi vì
ảnhhưởng đến thu hút đầu tư trong tương lai. Các công ty đã đầu tư thì lo sợ mất tài sản và
nó cũngngăn cản các công ty mới bắt đầu đầu tư vào địa phương nếu việc tịch thu xảy ra.
Quốc hữu hóa: Quốc hữu hóa phổ biến hơn xung công và tịch thu. Trong khi xung
côngáp dụng đối với một hoặc một số công ty nhỏ trong một ngành, thì quốc hữu hóa diễn
ra đối vớitoàn bộ ngành. Quốc hữu hóa là việc Chính phủ đứng ra đảm nhiệm cả một
ngành. Quốc hữu hóa được các chính phủ áp dụng vì 4 lý do sau: (1) Chính phủ phải quốc
hữu hóa những ngành mà họ cho rằng các công ty nước ngoàichuyển lợi nhuận tới đầu tư ở
những nước khác có tỷ lệ thuế thấp. (2) Chính phủ tiến hành quốc hữu hóa một ngành bởi
vì tư tưởng lãnh đạo. Quốc hữu hóađôi khi là công cụ chính trị. Nhà nước hứa là sẽ đảm
bảo việc làm nếu được quốc hữu hóa. (3) Quốc hữu hóa có lẽ là giải pháp trợ giúp những
ngành mà các công ty tư nhân khôngmuốn hoặc không có khả năng đầu tư, chẳng hạn như
đầu tư vào những ngành công cộng. Chínhphủ thường kiểm soát ngành công cộng và tài trợ
hoạt động cho các ngành này từ thuế. Quốc hữu hóa cũng có sự khác nhau giữa các quốc
gia. Trong khi các chính phủ Cuba,Bắc Triều Tiên kiểm soát mọi ngành, thì Mỹ và Canada
chỉ kiếm soát một số ngành. Các nướckhác như Pháp, Braxin, Mexico, Ban Lan và Ấn Độ
cố gắng làm cân bằng giữa sở hữu nhà nướcvà sở hữu tư nhân.
- Sự thay đổi các chính sách Sự thay đổi chính sách của chính phủ cũng có thể là do
nguyên nhân mất ổn định xã hộihoặc là do có sự tham gia của các chính đảng mới. - Những
yêu cầu của địa phương
Luật mà khuyến khích các nhà sản xuất trong nước cung cấp một số lượng hàng hóa
vàdịch vụ nào đó gọi là bảo hộ của địa phương. Chế độ bảo hộ yêu cầu các công ty sử dụng
nguồnnguyên liệu sẵn có của địa phương, mua một phần từ nhà cung cấp địa phương hoặc
thuê một sốlượng nhân công nhất định nào đó ở địa phương. Các yêu cầu của địa phương
có thể gây bất lợi sự tồn tại của các hãng trong dài hạn. Đặcbiệt, họ có thể gây ra hai điểm
bất lợi đối với các công ty 1. Yêu cầu phải tuyển dụng những nhân công địa phương của họ
có thể làm cho các côngty này thiếu những người làm việc có đủ trình độ. 2. Yêu cầu các
công ty sử dụng toàn bộ hoặc một phần nguyên, nhiên vật liệu của địaphương dẫn đến chi
phí sản xuất cao, chất lượng giảm sút hoặc cả hai.
Câu 11: Ngăn ngừa, hạn chế rủi ro chính trị đối với DN KDQT: các bước và các công

ngoài nước. Có những hình thức khác hạn chế mất mát do bạo lực, chiến tranh, khủngbố.
- Duy trì mức độ phụ thuộc: Thông thường, một công ty duy trì sự phụ thuộc sở tại
vào hoạt động của nó. Công typhải tiếp cận theo ba hướng để giải quyết vấn đề này:
1. Minh chứng được địa phương được lợi ích qua hoạt động của công ty nước ngoài
2. Các công ty nước ngoài cố gắng sử dụng nguyên vật liệu, công nghệ và một
phầnnguồn lực sẵn có của địa phương. Họ cố gắng thuyết phục bất bỳ một sự chiếm đoạt
tài sản nàocũng gây ra khó khăn trong kinh doanh. Nếu công ty đủ mạnh và đủ lớn, nó có
thể nhận được toàn bộ quyền kiểm soát kênhphân phối ở địa phương. Nếu nó bị đe dọa, nó
có thể từ chối cung cấp cho người tiêu dùng địaphương và người mua là các công ty địa
phương. Duy trì sự phụ thuộc nhằm: Thứ nhất, công ty không phát triển nhân công địa
phương.Những doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn do sự hiện diện của các
doanh nghiệp nướcngoài hùng mạnh. Thứ hai, các công ty quốc tế phá vỡ nhiều khu vực
kinh tế bằng việc từ chốisử dụng các yếu tố sản xuất do khu vực này cung cấp. Thứ ba,
các công ty này từ chối cung cấpsản phẩm cho địa phương. Thực tế này có ảnh hưởng xấu
đến phúc lợi và an toàn của người dânđịa phương, đặc biệt những sản phẩm này có tầm
quan trọng đối với sức khỏe và an ninh. - Thu thập thông tin Các hãng kinh doanh quốc tế
phải kiểm soát được thậm chí cố gắng dự đoán trước nhữngsự kiện chính trị đe dọa hoạt
động hiện tại và thu nhập trong tương lai. Có hai nguồn dữ liệu cầnthiết cho việc dự báo
rủi ro chính trị chính xác:
(1) Công ty yêu cầu người lao động đánh giá mức độ rủi ro chính trị. Những công nhâncó
thời gian làm việc ở một nước đủ lâu để hiểu được văn hóa và chính trị ở đây, cũng chính
vìvậy, đây là nguồn thông tin đáng tin cậy.
(2) Một công ty cũng có thể thu thập thông tin từ những hãng chuyên cung cấp nhữngdịch
vụ về rủi ro chính trị. Đó là các ngân hàng, chuyên gia phân tích chính trị, các ấn phẩm
mớixuất bản và các dịch vụ đánh giá rủi ro. Nhiều hãng đưa ra các báo cáo rủi ro chính trị
chi tiết kểcả mức độ và nguồn gốc rủi ro cho mỗi quốc gia. Bởi vì dịch vụ này khá đắt đỏ,
cho nên cácdoanh nghiệp và công ty nhỏ thường quan tâm những nguồn thông tin miễn
phí sẵn có, đáng chúý là nguồn từ chính phủ. - Những chính sách của địa phương Các nhà
quản lý có thể phải xem xét đến những luật lệ và quy định áp dụng trong kinhdoanh ở mỗi
quốc gia. Hơn nữa, pháp luật ở nhiều quốc gia rất dễ thay đổi và luật mới ra đời tiếp tục

những trường hợp và tình huống cụ thể. Thông luật được áp dụng tại Úc, Anh, Canada,
New zealand, Mỹ và một phần Châu Á và Âu.
* Luật dân sự
Luật dân sự xuất hiện ở Rome vào thế kỷ XV trước công nguyên, nó là bộ luật ra đời
và thông dụng nhất trên thế giới. Luật dân sự dựa trên các quy định chuẩn tắc bằng văn
bản. Luật dân sự ít có sự đối lập như thông luật bởi vì nó không cần giải thích các điều
luật theo lịch sử hình thành, tiền lệ và cách sử dụng. Bởi vì, tất cả các luật được hệ thống
hóa và súc tích, cho nên các hợp đồng cần làm rõ các hàm ý trong hợp đồng. Tất cả các
quyền lợi và trách nhiệm đều trực tiếp thể hiện trong hợp đồng. Bên cạnh đó, chi phí về
thời gian và tiền bạc ít tốn kém hơn, nhưng luật dân sự có xu hướng bỏ qua những tình
huống đơn lẻ. Luật được áp dụng tại Cuba, Puerto Rico, Quebec và tất cả các nước trung
và Nam Phi.
* Luật mang tính chất tôn giáo (thần luật).
Luật dựa trên nền tảng tôn giáo được gọi là luật thần quyền. Có 3 luật thần quyền nổi
lên đó là Luật Đạo Hồi, đạo Hin-đu, luật Do Thái.
Các hãng hoạt động ở những nước tồn tại luật thần quyền phải nhạy cảm với niềm tin và
văn hóa địa phương. Họ nên đánh giá hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh bao gồm
những thông lệ và chính sách đầu tư để đảm bảo phù hợp với không chỉ pháp luật mà còn
tôn giáo và văn hóa địa phương.
Nhìn chung, luật liên quan đến chất lượng sản phẩm, trách nhiệm với sản phẩm và ô
nhiễm môi trường, đối xử với công nhân được áp dụng mạnh mẽ ở những nước Châu Phi,
Châu Á, Châu Mỹ Latinh. Một số công ty quốc tế lợi dụng những chuẩn mực khác nhau ở
những nước khác nhau. Thí dụ: họ sản xuất sản phẩm bị cấm ở một nước nhưng lại bán
sản phẩm đó sang nước khác. Vì vậy, sự khác nhau của luật pháp làm nảy sinh vấn đề đạo
đức trong những thương gia kinh doanh quốc tế.
Câu 13: Một số vấn đề luật pháp quốc tế quan trọng đối với DN KDQT (Giải quyết
tranh chấp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, an toàn, trách nhiệm sản phẩm)
* Tiêu chuẩn hóa
Bởi vì hệ thống là khác nhau ở mỗi nước cho nên các công ty thường thuê các chuyên
gia pháp luật ở những nước mà họ kinh doanh. Điều này có thể làm tăng chi phí. Nhưng có

khả dụng.
Nhãn hiệu đăng ký: là những từ hoặc các biểu tượng để phân biệt các sản phẩm và nhà
sản xuất ra nó. Lợi ích của khách hàng là họ hiểu ra được chất lượng sản phẩm mà họ mua là
của các hãng nổi tiếng.
Bản quyền tác giả: Trao cho quyền sở hữu có quyền tự do xuất bản hoặc quyền quyết
định về sản phẩm của mình. Bản quyền tác giả còn cho biết rõ thời gian và tên người sở hữu.
Một người sở hữu có những quyền sau:
- Quyền được tái xuất bản.
- Quyền được nhận sản phẩm mới từ bản quyền.
- Quyền được bán và phân phối các bản sao chép.
- Quyền định đoạt sản phẩm từ bản quyền.
- Quyền công bố bản quyền ra công chúng.
* Sự đảm bảo và trách nhiệm đối với sản phẩm
Hầu hết các quốc gia đều có đạo luật bảo vệ sản phẩm, luật này đưa ra các tiêu chuẩn
áp dụng cho các nhà sản xuất. Trách nhiệm đối với sản phẩm yêu cầu các nhà sản xuất, người
bán và những đối tượng khác, gồm cả nhân viên công ty phải có trách nhiệm đối với những
thiệt hại, thương tích hoặc chết chóc do các sản phẩm khuyết tật gây ra. Tổn thất có thể phải
được bồi thường bằng tiền thông qua bộ luật dân sự và tiền phạt, hoặc có thể bị phạt tù theo
luật hình sự. Những hòa giải phải được thực hiện thường xuyên trước khi vụ việc được đưa ra
tòa án.
* Thuế
Chính phủ các nước dùng thu nhập từ thuế doanh thu cho nhiều mục đích. Tiền thuế
được dùng để trả lương, xây dựng quân đội, điều hòa thu nhập từ người giàu sang người
nghèo. Chính phủ cũng đánh thuế trực thu, còn gọi là thuế tiêu dùng cho hai mục đích:
- Nó giúp cho việc chi trả cho những hậu quả của việc tiêu dùng một sản phẩm.
- Làm cho hàng hóa nhập khẩu đắt hơn.
Thuế tiêu dùng được đánh trên các hàng hóa như rượu và thuốc lá để điều trị những
bệnh tật sinh ra từ những sản phẩm này. Tương tự, thuế đánh trên xăng dầu để xây dựng và
sữa chữa cầu cống và đường xá. Thuế đánh trên những mặt hàng nhập khẩu làm cho những
hàng hóa địa phương có lợi thế hơn về mặt giá cả. Xét về tỷ lệ khác, các nước có tỷ lệ thuế

Trong Bảng Chỉ số Tham nhũng năm 2010 do Tổ chức Minh bạch Quốc tế đưa ra, Việt
Nam thăng hạng một chút, từ bậc 120 cách đó hai năm lên 116, cho thấy có sự thay đổi rất ít
về mức độ tham nhũng.
Xếp hạng nhận thức về nạn tham nhũng tại Việt Nam. Một bước cải tiến hay thụt lùi đáng
kể trong vấn đề tham nhũng đều có thể ảnh hưởng đến đầu tư dài hạn, mặc dù lẽ ra Việt Nam
đã phải thực hiện các thay đổi cơ bản.
- Bất ổn định xã hội
Việt Nam đang chứng kiến số lượng các cuộc đình công, phản kháng và tranh chấp đất đai
ngày càng tăng, và chúng thường ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của người nước ngoài.
Những bất ổn này nổ ra ở khu vực nông thôn do Nhà nước sung công đất đai, và do những
quan chức tham nhũng ở địa phương. Nhưng vẫn không có dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng
bất ổn rộng lớn hơn sẽ nổ ra, hoặc thể chế hiện tại sẽ bị thách thức từ bên dưới thời gian tới.
II. Đối với các DN Việt Nam trên thị trường Mỹ
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………………

lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan cho phù hợp với những thay đổi và phát triển liên
quan đến các tranh chấp và xung đột về sở hữu trí tuệ giữa các công cụ nhận diện thương mại
là nhãn hiệu, tên thương mại và tên miền.
I. Luật quốc gia
Hệ thống pháp luật quốc gia của Việt Nam về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ
đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
liên quan đến sở hữu trí tuệ được quy định ở trong các văn bản pháp luật hiện hành như: Bộ
luật Dân sự (phần sở hữu trí tuệ); Bộ luật Hình sự (phần sở hữu trí tuệ), Luật Sở hữu trí tuệ,
Luật Cạnh tranh; Luật Thương mại; Luật Doanh nghiệp; Luật Công nghệ Thông tin và các
văn bản hướng dẫn các luật trên.
II. Luật quốc tế
Cùng với quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế đa phương, song
phương và khu vực là một nguồn luật không thể thiếu khi xem xét việc bảo hộ và thực thi
quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Vì vậy, trong hoạt động thực thi và bảo hộ quyền đối với
nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, cơ
quan thực thi cần lưu ý viện dẫn đến các công ước quốc tế sau đây về bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ mà Việt Nam đã tham gia:
1. Công ước Pari về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883 tạo lập cơ sở chung nhất cho
các thỏa thuận đa phương và song phương khác về bảo hộ quyền SHCN. Tính đến tháng 10
năm 2011 có 173 quốc gia là thành viên của Công ước này, trong đó Việt Nam tham gia là
thành viên từ năm 1949.
Công ước Paris áp dụng cho sở hữu công nghiệp theo nghĩa bao gồm sáng chế, nhãn
hiệu, kiểu dáng công nghiệp, giải pháp hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn
gốc và tên gọi xuất xứ) và chống cạnh tranh không lành mạnh.
Công ước Paris đề ra nguyên tắc “đối xử quốc gia” theo đó, công dân Việt Nam có quyền
được hưởng các điều kiện thuận lợi như công dân của bất kỳ một nước thành viên nào khác
trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại nước đó, miễn là tuân thủ các điều kiện và thủ tục
quy định đối với công dân của nước tương ứng. Quy định về chế độ đối xử quốc gia được đặt
ra không chỉ nhằm bảo đảm quyền của người nước ngoài được bảo hộ mà còn đảm bảo rằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status