Phụ lục I.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BA VÌ.
Địa chỉ: Trường THCS Phong Vân - Ba Vì - Hà Nội
Điện thoại: 0168 2.251.293
Email: [email protected]
Thông tin về giáo viên:
+ Họ và tên: Lê Thị Thanh Xuân
+ Ngày sinh: 21 - 03 - 1979
+ Môn dạy: Lịch Sử.
Năm học: 2014 - 2015
1
Phụ lục II.
PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC
1. Tên hồ sơ dạy học.
Tích hợp liên môn thông qua kiến thức các môn: Vật lý, Địa lý, Ngữ văn,
Âm nhạc và Giáo dục kĩ năng sống vào giảng dạy bài: Những chuyển biến trong
đời sống kinh tế. Bộ môn Lịch sử lớp 6
2. Mục tiêu dạy học.
Lịch sử chính là cuộc sống, quá khứ của loài người, trải qua lao động sản
xuất và đấu tranh chống áp bức, bất công khi xã hội phân chia thành giai cấp.
Trong cuộc sống lao động và đấu tranh xã hội, nhân dân trong quá trình lịch sử
để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ sau học tập, noi gương,
phát huy trong cuộc sống. Vì vậy thông qua bài học giúp các em nhận biết được
ông cha ta đã lao động sản xuất như thế nào?
Trong quá trình dạy học lịch sử tôi đã đề ra một số giải pháp vận dụng
kiến thức các môn học Vật lí, Địa, Ngữ văn, Âm nhạc để giải quyết tốt các
vấn đề có liên quan đến chủ đề.
a. Kiến thức:
Học sinh biết sử dụng kiến thức của các môn học như Địa lý ( để giới
hiệu quả nhất.
Là giáo viên, nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động
này nên tôi thực hiện bài dạy.
Đối với các môn học nói chung, môn Sử 6 nói riêng, tích hợp trong
giảng dạy sẽ giúp học sinh phát huy sự suy nghĩ, tư duy, sáng tạo trong học tập
và ứng dụng vào thực tế đời sống.
Cụ thể: Đối với bài dạy này khi thực hiện sẽ giúp các em hiểu sâu hơn về
những chuyển biến về đời sống kinh tế của người nguyên thủy trên đất nước ta
và từ đó các em có cách nhìn nhận và so sánh với cuộc sống ngày nay.
Trong thực tế tôi nhận thấy, khi soạn bài có kết hợp các kiến thức của
các môn học khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn, sâu hơn những
vấn đề đặt ra. Từ đó tổ chức hướng dẫn học sinh sẽ linh hoạt hơn, sinh động
hơn. Học sinh có hứng thú học tập, tìm tòi, khám phá nhiều kiến thức và được
suy nghĩ, sáng tạo nhiều hơn. Từ đó vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn.
5. Thiết bị dạy và học.
- Các thiết bị dạy học, học liệu sử dụng trong dạy học:
+ Tranh, ảnh (công cụ sản xuất và đồ gốm)
+ Lược đồ Việt Nam
+ Đồ dùng để học sinh sinh hoạt nhóm (giấy A0, bút dạ, vở thực hành của
học sinh…)
+ Máy chiếu
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc dạy học: Bài giảng điện tử, các
hình ảnh, vi deo….
6. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học
a. Mục tiêu bài học.
* Kiến thức.
- Học sinh biết sử dụng kiến thức của các môn học như Địa lý, Ngữ văn,
Vật lí, Âm nhạc, Giáo dục kĩ năng sống….vào bài học.
- Hiểu được công cụ của người nguyên thủy được cải tiến như thế nào.
- Hiểu được những phát minh quan trọng của người nguyên thủy: Thuật
sống con người từng bước di cư, mở rộng vùng cư trú và đây là thời điểm hình
thành những chuyển biến lớn về kinh tế.
Cùng với liên môn Địa lí, giáo viên giới thiệu những địa điểm phát hiện
những công cụ được cải tiến vào thời kì này như: Phùng Nguyên (Phú Thọ),
Lung Leng (Kon Tum), hay những nơi phát hiện kim loại đầu tiên đó là: Hoa
Lộc (Thanh Hóa), Phùng Nguyên (Phú Thọ). Đồng thời giáo viên cũng chỉ rõ
cho học sinh thấy được ở Đồng bằng, ven các con sông lớn - nơi có điều kiện
đất đai màu mỡ, đủ nước tưới thuận lợi cho nghề nông trồng lúa phát triển.
Và GV cũng cho HS thấy được để mở rộng vùng cư trú thì con người
cần phải làm gì? Đó chính là sự cải tiến về công cụ lao động.
Công cụ lúc đầu của người nguyên thủy là những công cụ đá còn thô
sơ, chưa có hình thù rõ ràng, nhưng nhờ quá trình lao động con người ngày càng
cải tiến hon nữa trong kĩ thuật chế tác công cụ: Tiến tới việc mài nhẵn, sắc ở
phần lưỡi và có hình dáng cân xứng
GV cho HS quan sát một số công cụ: Rìu đá Phùng Nguyên, Hoa Lộc
và Lung Leng và so sánh với các công cụ trước đó để thấy được sự tiến bộ trong
việc chế tác công cụ của con người thời đó.
Và ở thời kì này đồ gốm cũng được phát triển thể hiện ở cách trang trí
hoa văn với hình dáng cân xứng.
Ở nội dung này giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm và đưa ra
nhận xét.
Học sinh cũng chỉ ra được: Những công cụ được mài nhẵn, có hình
dáng cân xứng, những mảnh gốm có in hoa văn độc đáo.
4
-> Kỹ thuật chế tác công cụ lao động: đạt trình độ cao (mài nhẵn, hình dáng cân
đối, sắc bén, dễ làm)
- Kĩ thuật làm gốm: đồ gốm ngày càng tiến bộ, hoa văn độc đáo.
Từ đó, GV cho HS biết được từ kĩ thuật làm gốm con người đã phát minh ra
thuật luyện kim.
* Tích hợp môn Vật lí để giải thích.
Cửu Long, Thái Bình, Hưng Yên
* Tích hợp môn Ngữ văn.
GVGT: Để nói tới tầm quan trọng của nghề nông trồng lúa và vai trò của hạt
gạo, truyền thuyết bánh chưng, bánh giầy có đoạn viết:
“Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Chỉ có gạo mới nuôi sống con
người và ăn không bao giờ chán. Các thứ khác tuy ngon, nhưng hiếm, mà người
không làm ra được. Còn lúa gạo thì mình trồng lấy, trồng nhiều được nhiều.
Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương”.
(Trích truyền thuyết Bánh Chưng – Bánh Giầy)
5
Từ xưa, người Việt ta đã làm ra hạt gạo và biết quý trọng hạt gạo, bời vì
hạt gạo đã nuôi sống con người. Qua đó, thấy được thái độ đề cao lao động, đề
cao nghề nông và đồng thời cũng thể hiện sự tôn kính tổ tiên.
* Tích hợp với môn Âm nhạc.
Âm nhạc là một nguồn suối dồi dào làm giàu thêm đời sống tinh thần cho
con người. Chính vì vậy khi kết hợp dạy bài: Những chuyển biến trong đời sống
kinh tế với Âm nhạc, vừa giúp tiết học đỡ căng thẳng hơn, vừa khiến học sinh
khắc ghi hình ảnh hạt gạo.
GV đặt câu hỏi: Em nào thuộc bài thơ: “Hạt gạo làng ta” của nhà thơ Trần
Đăng Khoa
Nhiều em HS sẽ thuộc bài thơ này và một HS đọc cho cả lớp nghe.
GVGT: Nhân dân ta vẫn phát huy truyền thống cần cù lao động, các bác nông
dân không quản khó nhọc, một nắng hai sương để làm nên những hạt lúa vàng.
Bài thơ: “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa đã nói lên điều đó.
Giáo viên trích một đoạn trong bài thơ:
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
-> Đó là lời tâm tình và cũng là lời nhắn nhủ của người làm ra lúa gạo với
người dùng nó.
Sau khi kết thúc tiết học, giáo viên kết luận và tóm tắt nội dung bài học
bằng sơ đồ tư duy.
7. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Việc kiểm tra, đánh giá học tập của học sinh trong dạy học có tầm quan
trọng đặc biệt, qua kiểm tra, giáo viên đánh giá được sự tiếp thu bài của học sinh
một cách chính xác nhất. Kiểm tra, đánh giá theo hướng đổi mới, giáo viên linh
hoạt, sáng tạo hơn trong việc ra đề. Qua đó việc sử dụng kiến thức liên môn để
đặt ra câu hỏi đối với học sinh là một biện pháp cần thiết.
Giáo viên có thể kiểm tra bằng nhiều hình thức: Kiểm tra miệng, kiểm
tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết.
Sau khi học xong bài này, giáo viên ra câu hỏi phân công nhiệm vụ cho
học sinh (và yêu cầu học sinh về nhà làm trong một tuần).
Với những câu hỏi sau:
1. Theo em, thời nguyên thủy con người đã có những phát minh lớn nào?
2. Nghề nông trồng lúa nước ra đời có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống
con người?
3. Theo em việc tích hợp liên môn trong học tập có lợi ích gì?
7
8. Các sản phẩm của học sinh.
Sau khi giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh, một tuần sau, giáo viên thu
bài của các em.
Nhìn chung đa số các em nắm được và làm được bài, đặc biệt với câu
hỏi: Việc tích hợp liên môn trong học tập có lợi ích gì? Đa số các em rất thích và
cho rằng việc học tập liên môn giúp các em hiểu sâu sắc hơn kiến thức của các
môn học nói chung và môn lịch sử nói riêng và tôi cũng nhận thấy các em có
hứng thú, say mê với môn học này hơn.
Cụ thể kết quả đạt được như sau:
Sĩ số Loại Số lượng %
Học sinh:
- Chuẩn bị trước bài.
- Sưu tầm các câu ca dao, tục ngữ, bài hát nói về hạt lúa, hạt gạo….
III. Tiến trình:
1. Ổn định lớp: SS.
2. Kiểm tra bài cũ:
? Em hãy cho biết người nguyên thủy sinh sống chủ yếu ở đâu?
HS: Sống trong các hang động, mái đá, trong những khu rừng rậm rạp.( vì lúc
đó, cuộc sống của họ chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên.)
? Nhưng có phải nước ta chỉ có đồi núi?
HS: Nước ta còn có đồng bằng, ven sông, ven biển
GVKL:
GV: Tích hợp môn địa lí và yêu cầu HS quan sát lược đồ (giới thiệu cảnh
quan nước ta)
GVGT vị trí địa lí nước ta: Thời xa xưa, nước ta là một vùng rừng núi
rậm rạp với nhiều hang động, nhiều sông suối, có vùng ven biển dài: khí hậu hai
mùa nóng – lạnh rõ rệt, thuận lợi cho cuộc sống của cỏ cây, muông thú và con
người.
9
Lược đồ: Cảnh quan nước ta.
GVKL:
3. Bài mới:
GV giới thiệu bài: Đất nước ta không phải chỉ có rừng núi, mà còn có đồng
bằng, đất ven sông, ven biển. Trong quá trình sinh sống con người từng bước di
cư, mở rộng vùng cư trú và đây là thời điểm hình thành những chuyển biến lớn
về kinh tế. Cuộc sống của họ có những chuyển biến gì, cô trò cùng tìm hiểu bài
mới.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung cần đạt.
GV yêu cầu HS nghiên
cứu mục 1.
- Điều kiện tự nhiên
thuận lợi, dễ trồng trọt,
chăn nuôi.
- Nhiều loại: Rìu đá, lưỡi
đục, bàn mài, cưa đá,
xương, sừng, đồ gốm.
HS trả lời.
- Công cụ nhiều loại: Rìu
đá, lưỡi đục, bàn mài,
cưa đá, xương, sừng, đồ
gốm
- Cách đây 4000 - 3500
năm, ở Phùng Nguyên
(Phú Thọ), Hoa Lộc
11
(Thanh Hóa), Lung Leng
(Kon Tum) tìm thấy:
+ Công cụ: rìu, bôn
+ Đồ trang sức.
+ Đồ gốm
GV: Tích hợp môn địa lí: Để xác định vị trí các địa điểm trên lược đồ.
GVGT vị trí các địa điểm trên lược đồ.
Lược đồ Việt Nam
GVGT: Hình ảnh các công cụ và đồ trang sức.
12
Hoa Lộc
Phùng nguyên
GV yêu cầu HS quan sát
và nhận xét: - Công cụ được mài
nhẵn, có hình dáng cân
-> Kỹ thuật chế tác công
cụ lao động: đạt trình độ
cao (mài nhẵn, hình dáng
cân đối, sắc bén, dễ làm)
- Kĩ thuật làm gốm: đồ
gốm ngày càng tiến bộ,
hoa văn độc đáo.
hoa văn.
GVGT: Cuộc sống của người nguyên thủy ngày càng ổn định hơn, dần dần đã
xuất hiện những làng bản đông dân ở những vùng ven sông, đặc biệt là ven các
con sông lớn, cuộc sống lâu dài đòi hỏi con người lúc đó cần phải cải tiến hơn
nữa các công cụ sản xuất và đồ dùng hàng ngày.
Từ trình độ cao của kỹ thuật chế tác công cụ và làm đồ gốm, con người
đã tiến thêm một bước căn bản – phát minh ra thuật luyện kim
? Trên cơ sở nào thuật
luyện kim ra đời?
? Tại sao từ việc làm đồ
gốm con người đã phát
minh ra thuật luyện kim?
HS trả lời.
HS trả lời (nhờ vào
khuôn đúc và độ nung
cao)
b. Thuật luyện kim
- Nhờ sự phát triển nghề
gốm
-> Phát minh thuật luyện
kim.
GV tích hợp môn Vật lí để giải thích quá trình lọc quặng trong tự nhiên
ra kim loại.
-> Con người làm ra
những công cụ theo ý
muốn.
-> Năng suất lao động
tăng.
- Ở Phùng Nguyên, Hoa
Lộc: phát hiện nhiều cục
đồng, xỉ đồng
-> Con người làm ra
những công cụ theo ý
muốn.
-> Năng suất lao động
tăng.
GVKL: Thuật luyện kim đã mở ra một thời đại mới trong lĩnh vực chế tạo công
cụ của loài người (công cụ bằng kim loại thay thế dần công cụ bằng đá). -> Làm
thay đổi sức sản xuất. Đây là một phát minh to lớn không chỉ đối với người thời
đó mà đối với cả thời đại sau và xã hội ngày càng phát triển, máy móc cũng
được phát triển cùng với sự phát triển của KHKT.
GV chuyển ý: Bên cạnh việc phát minh ra thuật luyện kim, nghề nông trồng lúa
ra đời.
GVGT: Theo các nhà
khoa học thì nước ta là
một trong những quê
hương của cây lúa hoang.
? Những dấu tích nào
chứng tỏ nghề nông
trồng lúa đã ra đời? - Di chỉ Hoa Lộc, Phùng
Nguyên: tìm thấy công
cụ (lưỡi cuốc đá), gạo
2. Nghề nông trồng lúa
có đất đai màu mỡ.
- Đồng bằng, ven các con
sông lớn.
-> Đất đai phù sa màu
mỡ, đủ nước tưới cho cây
lúa, thuận lợi cho cuộc
sống của con người
* Địa điểm:
- Đồng bằng, ven các con
sông lớn.
* Điều kiện:
-> Đất đai phù sa màu
mỡ, đủ nước tưới cho cây
lúa.
16
? Việc phát minh ra nghề
nông trồng lúa nước có ý
nghĩa gì trong cuộc sống
của con người? -> Lúa trở thành cây LT
chính của con người
-> Lúa trở thành cây LT
chính của con người
Tích hợp môn địa lí, GV giới thiệu một số địa điểm: Vựa lúa lớn của nước ta:
Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long.
- Thái Bình cũng được biết đến với quê hương của “Chị hai 5 tấn”, hiện
nay cùng với Nam Định, Hưng Yên đã trở thành vựa lúa lớn nhất miền bắc nước
ta.
GV: Nước ta xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan)
GVGT Hình ảnh: Đồng lúa, xuất khẩu gạo của VN.
HS quan sát hình ảnh.
càng cải tiến
-> Năng suất lao động
tăng, của cải làm ra ngày
càng nhiều.
- Chăn nuôi, đánh cá phát
triển.
Tích hợp môn Ngữ văn.
GVGT: Để nói tới tầm quan trọng của nghề nông trồng lúa và vai trò của hạt
gạo, truyền thuyết bánh chưng, bánh giầy có đoạn viết:
“Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Chỉ có gạo mới nuôi sống con
người và ăn không bao giờ chán. Các thứ khác tuy ngon, nhưng hiếm, mà người
không làm ra được. Còn lúa gạo thì mình trồng lấy, trồng nhiều được nhiều.
Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương”.
(Trích truyền thuyết Bánh Chưng – Bánh Giầy)
GV: Từ xưa, người Việt ta đã làm ra hạt gạo và biết quý trọng hạt gạo, bời vì hạt
gạo đã nuôi sống con người. Qua đó, thấy được thái độ đề cao lao động, đề cao
nghề nông và đồng thời cũng thể hiện sự tôn kính tổ tiên.
GV tích hợp với môn Âm nhạc.
Âm nhạc là một nguồn suối dồi dào làm giàu thêm đời sống tinh thần cho
con người. Chính vì vậy khi kết hợp dạy bài: Những chuyển biến trong đời sống
kinh tế với Âm nhạc, vừa giúp tiết học đỡ căng thẳng hơn, vừa khiến học sinh
khắc ghi hình ảnh hạt gạo.
GV có thể hỏi em nào thuộc bài thơ: “Hạt gạo làng ta” của nhà thơ Trần Đăng
Khoa
18
Nhiều em HS sẽ thuộc bài thơ này và một HS đọc cho cả lớp nghe.
GVGT: Nhân dân ta vẫn phát huy truyền thống cần cù lao động, các bác nông
dân không quản khó nhọc, một nắng hai sương để làm nên những hạt lúa vàng.
Bài thơ: “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa đã nói lên điều đó.
GV cho HS cả lớp nghe bài hát “Hạt gạo làng ta”( nhạc sĩ Trần Viết Bình phổ
- Cho biết sự đổi thay trong đời sống kinh tế của con người trong thời
kỳ này so với người thời Hoà Bình – Bắc Sơn? (Thời kỳ này k/tế chủ yếu là
nông nghiệp )
5. HDVN:
- Học bài.
- Làm các bài tập trong SGK
- Và giao nhiệm vụ cho học sinh làm những câu hỏi sau:
1. Theo em, thời nguyên thủy con người đã có những phát minh lớn nào?
2. Nghề nông trồng lúa nước ra đời có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống
con người?
3. Theo em việc tích hợp liên môn trong học tập có lợi ích gì?
- Đọc nghiên cứu bài 11: Những chuyển biến về xã hội.
Tìm hiểu kĩ:
+ Sự phân công lao động đã được hình thành như thế nào?
+ Xã hội có gì đổi mới.
+ Bước phát triển mới về xã hội được nảy sinh như thế nào?
Phong Vân, ngày 28/12/2014.
Người thực hiện.
Lê Thị Thanh Xuân
20
21