Chân dung nhà nho qua một số sán tác phú chữ nôm tiêu biểu (khảo sát qua phú nôm của nguyễn công trứ và cao bà quát) - Pdf 29


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

TRẦN THỊ MÙI
CHÂN DUNG NHÀ NHO QUA MỘT SỐ
SÁNG TÁC PHÚ CHỮ NÔM TIÊU BIỂU
(Khảo sát qua phú Nôm của Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI – 2014
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

TRẦN THỊ MÙI


Sinh viên

Trần Thị Mùi LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân
tôi dƣới sự hƣớng dẫn của cô giáo, TS. Nguyễn Thị Nhàn. Khóa luận không
trùng với kết quả của bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Nếu sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên

Trần Thị Mùi
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2

3.1.2. Ngôn ngữ văn xuôi 50
3.1.3. Sử dụng những từ loại đắc dụng 50
3.2. Nghệ thuật xây dựng hình ảnh 51
3.2.1. Hình ảnh chân thực, sinh động 51
3.2.2. Hình ảnh hoa mĩ, diễm lệ 54
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong làng văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Công Trứ chiếm
một vị trí khá đặc biệt. Sáng tác văn chƣơng Nguyễn Công Trứ hàm chứa
những vấn đề quan trọng, phức tạp và lý thú.
Nguyễn Công Trứ đƣợc xem là một trong những nhà nho có bản tính
phóng túng mạnh mẽ, có triết lý sống “ngất ngƣởng” nhƣng lại bị khuôn phép
trong tƣ tƣởng Nho giáo và để hành đạo phụng sự quân vƣơng. Đấy chính là
sự phức hợp trong tƣ tƣởng và hành động của con ngƣời Nguyễn Công Trứ.
Chữ Nôm là hình thức văn tự đƣợc Nguyễn Công Trứ lựa chọn cho hầu hết
sáng tác văn chƣơng trong cuộc đời. Hàn nho phong vị phú thuộc trong số đó.
Bài phú giúp ngƣời đời hiểu thêm chân dung một nho sinh thuở hàn vi. Cũng
qua đó, con ngƣời bản ngã của Nguyễn Công Trứ đã bắt đầu hé lộ. Đọc thơ
ông, chúng ta luôn có những mĩ cảm đa dạng.
1.2. Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn, có phong cách độc đáo ở giai đoạn
nửa sau thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX. Sự nghiệp văn chƣơng của ông gắn
liền với cuộc đời sóng gió, bi kịch nhƣng bản lĩnh kiên cƣờng không khuất

Xƣa nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp
và một số biểu hiện con ngƣời cá nhân trong thơ văn ông. Trong quá trình làm
khóa luận, thông qua sự tìm hiểu, chúng tôi quan tâm đến một số công trình
của các tác giả sau:
- Tác giả Phạm Thế Ngũ nhìn từ khuynh hƣớng thời đại đi đến quan
niệm sống của Nguyễn Công Trứ. Nhà nghiên cứu đã có cái nhìn tƣơng đối
toàn diện và sâu sắc. Bài viết có nhan đề Sáng tác của Nguyễn Công Trứ. Ông
3

đề cập đến những vấn đề nhƣ: Chí nam nhi, quan niệm công danh, quan niệm
hƣởng lạc, triết lý nhân sinh. Đặc biệt, tác giả còn nêu ra điểm tƣơng đồng và
khác biệt giữa Nguyễn Công Trứ và một số nhà nho khác nhƣ: Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng…
- Bài viết của tác giả Lê Thƣớc về Sự nghiệp và thơ văn của Uy Viễn
tướng công Nguyễn Công Trứ là công trình biên khảo có ý nghĩa nền tảng làm
tƣ liệu khi nghiên cứu về tác giả Nguyễn Công Trứ. Lê Thƣớc phân chia các
giai đoạn trong cuộc đời và đánh giá nhà thơ theo tiêu chí lập công, lập đức và
lập ngôn.
- Nguyễn Khắc Hoạch có tiểu luận Lý tưởng kẻ sĩ trong thi văn và ngoài
cuộc đời Nguyễn Công Trứ. Bài viết không đi sâu nghiên cứu tƣ tƣởng của tác
giả mà tìm hiểu quá trình trƣởng thành cho đến cuối cuộc đời của nhà thơ.
Mỗi giai đoạn nhƣ vậy có một lý tƣởng, một cách sống riêng. Thời xuất
chính, ông tích cực hành đạo, thời trí sĩ ông vui hƣởng cuộc đời nhàn lạc của
ngƣời đã làm tròn phận sự.
- Phạm Vĩnh Cƣ khi bàn về Thơ hành lạc của Nguyễn Công Trứ với
dòng thơ an lạc, đã xem đó là mảng sáng tác rất đặc sắc lâu nay. Tác giả
khẳng định: “Nhu cầu hƣởng thụ của con ngƣời, nâng nó lên thành một triết
lý có sức thu phục nhân tâm thì không mấy ai làm đƣợc nhƣ Nguyễn Công
Trứ”. Ở Nguyễn Công Trứ hành lạc lẫn hành đạo, cả sự hƣởng thú vui lẫn
việc thực hiện sứ mệnh của ngƣời anh hùng trên đời đều khát khao hƣởng lạc.

thơ của Nguyễn Công Trứ. Trƣơng Chính cũng khẳng định: “bất cứ nỗi buồn
nào cũng đƣợc phản ánh vào thơ, không giấu giếm, không tô vẽ, nghĩ thế nào
thì viết thế ấy, mộc mạc nôm na nhƣng ý nghĩa chân thành sâu sắc, yêu ghét
rõ ràng: đọc rất thấm thía” [tr.41]. Ý kiến của tác giả gần với ý kiến của
5

Nguyễn Lộc, Nguyễn Lộc cũng cho rằng: “thơ văn ông (Nguyễn Công Trứ)
không chạm trỗ, đẽo gọt, mộc mạc: nôm na mà vẫn gây xúc cảm”.
- Năm 2003 có công trình Nguyễn Công Trứ - tác gia và tác phẩm do
Trần Nho Thìn chủ biên (Nxb Giáo dục). Đây là cuốn sách tập hợp ý kiến của
nhiều tác giả, có nhiều bài viết, nhiều nhận xét và phát hiện có giá trị về cuộc
đời cũng nhƣ thơ văn Nguyễn Công Trứ. Chẳng hạn, trong bài viết “Nguyễn
Công Trứ và thời đại chúng ta”, Trần Nho Thìn đã đề cập tới yếu tố hành lạc,
triết lý cầu nhàn hƣởng lạc biểu hiện rất rõ trong thơ Nguyễn Công Trứ. Có thể
nói, đây không phải là một phát hiện mới mẻ nhƣng điều đó nó chứng tỏ các
nhà nghiên cứu đã đồng nhất trong quan điểm nhìn con ngƣời của nhà thơ.
- Năm 2007, trong bộ giáo trình Văn học trung đại Việt Nam (tập 2) do
Nguyễn Đăng Na chủ biên, tác giả Nguyễn Phong Nam viết về Nguyễn Công
Trứ nhƣ sau: “Tiếng nói chí nam nhi là chủ đề lớn nhất tập trung xuất hiện
trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ thuở hàn vi và thời làm quan đắc
chí” [tr.236]. Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định công lao to lớn của ông
“Nguyễn Công Trứ đã mang vào khái niệm chí nam nhi của Nho gia cái ý
thức cá nhân về sự tự do phóng túng trong lối sống tạo nên nét riêng độc đáo
và mang đến một màu sắc mới cho thời đại. Nguyễn Công Trứ nhất quán giữa
con ngƣời trong mối quan hệ với cộng đồng và con ngƣời trong mối quan hệ
với bản thân; giữa ý thức về trách nhiệm và ý thức về quyền lợi, giữa hành
động và hƣởng thụ” [tr.239].
Có thể khẳng định rằng, ý kiến của giới nghiên cứu phê bình đã có thành
tựu đáng kể khi đánh giá nhận xét về thơ văn của Nguyễn Công Trứ. Tuy mỗi
ngƣời có một cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau nhƣng tựu chung đều thấy

đời chìm nổi của ông”, để tìm hiểu “tư tưởng thống nhất đã chi phối các
quá trình khác nhau của cuộc đời ông”. Quan điểm nghiên cứu này vừa
7

khoa học vừa có ý thức tích cực trong việc thúc đẩy quá trình nghiên cứu,
xử lý tƣ liệu thơ văn Cao Bá Quát.
- Một công trình khác rất đáng chú ý, dù không phải là công trình chuyên
biệt về Cao Bá Quát, đó là công trình Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam
(1995) của Trần Ngọc Vƣơng. Ở đây, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vƣơng và
tác giả Trần Đình Hƣợu trƣớc đó đã xác lập đƣợc cái nhìn khoa học trên cơ sở
khảo sát nhiều gƣơng mặt tác giả. Cao Bá Quát thuộc trong số đó. Các nhà
nghiên cứu đã nêu ra những đặc trƣng có tính đến loại hình của một kiểu tác
giả giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Từ góc nhìn này,
Trần Ngọc Vƣơng đã ghi nhận “Nguyễn Du và Cao Bá Quát có lẽ là hai tác
giả tiêu biểu nhất” cho loại hình nhà nho “coi tài năng, trước hết là tài năng
văn học là thước đo quan trọng” và họ “chỉ có thể lưu lại tên tuổi mình như
và chỉ như những nhà thơ xuất sắc”. Đây là hƣớng tiếp cận đầy triển vọng cho
phép đi sâu hơn vào việc nghiên cứu Cao Bá Quát trên nhiều bình diện, mà
trƣớc hết là một Cao Bá Quát với tƣ cách là một tác gia văn học có tính tiêu
biểu cho một loại hình, một khuynh hƣớng văn học đặc sắc trong lịch sử văn
học Việt Nam trung đại.
Khó có thể bao quát hết đƣợc các tƣ liệu đã nghiên cứu về Cao Bá Quát
cũng nhƣ những vấn đề các nhà nghiên cứu đã đặt ra và giải quyết.Tuy nhiên,
với tầm vóc một Cao Bá Quát đƣợc khẳng định nhƣ vậy, rõ ràng những nghiên
cứu về Cao Bá Quát vẫn còn là những nghiên cứu có tính chất bƣớc đầu.
Cho đến nay, công việc nghiên cứu về tác giả cũng nhƣ tác phẩm
Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát vẫn đƣợc tiếp tục.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này là:
- Thông qua tìm hiểu hai tác phẩm phú Nôm tiêu biểu của Nguyễn Công Trứ

9

8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Nội dung, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của
khoá luận đƣợc triển khai thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về thể phú và loại hình nhà nho
Chƣơng 2: Chân dung nhà nho Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát qua
Hàn nho phong vị phú và Tài tử đa cùng phú
Chƣơng 3: Nghệ thuật thể hiện chân dung nhà nho qua Hàn nho phong vị
phú và tài tử đa cùng phú

10

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ PHÚ
VÀ LOẠI HÌNH NHÀ NHO
1.1. Sơ lƣợc về thể phú
Phú là thể loại có bề dày phát triển trong lịch sử văn học Trung Hoa.
Ngay từ những thế kỷ trƣớc công nguyên, nó đã trở thành một phƣơng tiện
biểu đạt quan trọng không thể thiếu trong đời sống tình cảm của họ thời đó.
Từ cái nôi văn hóa này, phú đã ảnh hƣởng sâu sắc đến các nền văn học khác,
trong đó có Việt Nam.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Phú là một thể văn cổ của Trung Quốc,
du nhập vào Việt Nam từ sớm nhƣng đƣợc sáng tác rộng rãi bắt đầu từ thời
Trần. Phú có thể đƣợc viết bằng văn vần, văn xuôi hoặc văn biền ngẫu nhằm
miêu tả phong cảnh, kể sự việc, bàn chuyện đời. Phú vốn nghĩa là “phô bày”.
Trong cuốn Văn học Việt Nam sử yếu, tác giả Dƣơng Quảng Hàm cho
rằng: “Phú (nghĩa đen là bày tỏ) là một thể văn có vần dùng để tả cảnh vật,
phong tục hoặc tính tình” [tr.129].
Ban đầu, phú đƣợc dùng nhƣ khái niệm chỉ phƣơng thức sáng tác, sau

cần vần, không cần đối, cũng không hạn về số vần nhất định. Mỗi câu có thể
là bốn từ (gọi là phú tứ tự), bảy từ (gọi là phú thất tự). Những bài phú theo lối
trƣờng đoản cú (câu dài, ngắn đan xen nhau), lối văn xuôi có vần gọi là phú
lƣu thủy (câu văn xuôi nhƣ nƣớc chảy).
Bài phú còn gọi là biền phú là thể phú mới, đƣợc biến đổi và phát triển
trên cơ sở cổ phú. Bài phú có từ thời Ngụy - Tấn và thịnh hành vào thời
Nam - Bắc triều (thế kỷ III – IV). Bài hay biền đều có nghĩa là câu chữ đối
nhau. Đặc điểm chủ yếu của bài phú là cân đối về câu chữ, hài hòa về âm
12

thanh. Phú đời Hán ít dùng các cặp câu đối nhau mà thƣờng dùng nhiều câu
liên tiếp và có hiện tƣợng đối cùng chữ. Đối xứng chỉnh tề, đó là chỗ làm bài
phú khác hẳn cổ phú.
Luật phú (phú cận thể) là một biến thể của biền phú. Luật phú rất chú
trọng âm vận. Luật phú được đặt theo luật lệ quy định chặt chẽ nhằm thích
ứng chế độ khoa cử đời Đường - Tống. Vần trong phú đƣợc gieo theo nhiều
lối khác nhau: độc vận hoặc năm, sáu, bảy, tám vần, tùy sự hạn vận hoặc
phóng vận. Phú cận thể bao giờ cũng đặt câu gồm hai vế đối nhau, vần nằm ở
cuối vế dưới. Bố cục của một bài luật phú thƣờng có sáu phần:
1 - Lung khởi (mở đầu, nói một ý nghĩa bao quát toàn bài).
2 - Biện nguyên (nói gốc tích, ý nghĩa của đầu bài).
3 - Thích thực (giải thích, phân tích ý nghĩa của đầu bài).
4 - Phu diễn (trình bày, dẫn chứng, minh họa làm rõ phần giải thích,
phân tích).
5 - Nghị luận (bình luận, nhận xét ý nghĩa của đầu bài).
6 - Kết (thắt lại, kết thúc).
Luật phú yêu cầu đối phải chặt chẽ hơn cả biền phú. Luật phú cũng hạn
định cả số chữ, thƣờng không quá bốn trăm chữ.
Văn phú ra đời do ảnh hƣởng của phong trào cổ văn đời Đƣờng - Tống.
Đặc điểm chủ yếu của văn phú là chống lại sự hạn chế của biền ngẫu, vần

dẫn ra ý kiến đóng góp của học giả Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục về
phú đời Trần nhƣ sau: “Đời Trần có nhiều bài phú lạ kỳ, hùng vĩ, trôi chảy,
tốt đẹp, bố cục và cách điệu thì gần đƣợc nhƣ lối phú của đời Tống” [tr 218].
Giai đoạn Lê sơ (thế kỉ XV) là giai đoạn hƣng thịnh nhất của phú chữ
Hán. Đây là giai đoạn có nhiều cây bút viết phú nhất, có số lƣợng tác phẩm
14

lớn nhất, có tác giả sáng tác nhiều tác phẩm nhất, có sáng tác quy mô nhất
nhƣ Lam Sơn Lương Thủy phú của Lê Thánh Tông gần 2200 chữ.
Mặc dù số lƣợng tác phẩm lớn nhƣng đề tài và chủ đề phú giai đoạn này
lại khá tập trung, hình thức thể tài khá thuần nhất. Hàng loạt sáng tác thể hiện
đề tài chiến công vệ quốc. Cả một chùm bài ca ngợi địa danh lịch sử Lam Sơn
nhƣ: Chí Linh sơn phú của Nguyễn Mộng Tuân, Phú núi Chí Linh của
Nguyễn Trãi, Lam Sơn Lương Thủy phú của Lê Thánh Tông Các giai tác
này quy tụ về chủ đề: ngợi ca địa linh nhân kiệt, ngợi ca nhà vua.
Đến giữa thời Lê sơ, phú có sự chuyển đổi đề tài. Phần lớn các tác giả
khai thác đề tài trong sử sách Trung Quốc.
Thời Lê - Mạc (thế kỷ XVI- XVIII) phú chữ Hán không hƣng thịnh nhƣ
ở thời Lê sơ. Các tác giả nhƣ Nguyễn Bá Lân, anh em dòng họ Ngô Thì đều
có những tác phẩm phú nổi tiếng đƣợc ngợi ca và chép trong nhiều tuyển tập.
Lấy đề tài nhân vật và phong cảnh Trung Quốc là nội dung của phú giai đoạn
này: Hoàng Hạc lâu phú (Ngô Thì Nhậm), Dịch đình thừa dương xa phú
(Nguyễn Bá Lân) Cũng có tác phẩm biểu hiện tình cảm riêng của con
ngƣời, miêu tả phong cảnh đất nƣớc: Đăng ải Vân sơn phú (Ngô Thì Nhậm),
Tây Hồ phong cảnh phú (Ngô Thì Sĩ). Thiên nhiên trong phú thời kỳ này đơn
thuần là hiện tƣợng tự nhiên, không phải thiên nhiên gắn với chiến công giữ
nƣớc nhƣ trong phú thời Lê sơ.
Sang thế kỷ XIX, phú chữ Hán đời Nguyễn (nhƣ đánh giá của nhà
nghiên cứu Nguyễn Lộc) là “thụt lùi so với các thế kỷ trƣớc” [7,tr. 32]. Điều
này là do văn học chữ Nôm sau khi đạt đến đỉnh cao ở thế kỷ XVIII vẫn tiếp

với sự trƣởng thành của ngôn ngữ tiếng Việt. Tác giả Nguyễn Lộc cho rằng:
Phú có giá trị nhất của giai đoạn này thuộc bộ phận phú chữ Nôm: Hàn nho
phong vị phú, Tài tử đa cùng phú, Tụng Tây Hồ phú. Điểm nổi bật trong nội
16

dung của phú thời này là tính chất hiện thực đã đƣợc thể hiện một cách khá cụ
thể, phơi bày những cảnh nghèo khổ đau đớn của con ngƣời dƣới chế độ phong
kiến và tố cáo thói đời đen bạc với bất công của xã hội. Tinh thần nhân đaọ chủ
nghĩa cũng là điểm nổi bật trong các bài phú Nôm ở giai đoạn này.
Cuối thế kỷ XIX, văn học giai đoạn triều Nguyễn thời Pháp xâm lƣợc, văn
học chữ Nôm không đạt đƣợc thành tựu nhƣ văn học từ nửa thế kỷ XVIII đến
nửa đầu thế kỷ XIX, nhƣng phú Nôm trong giai đoạn này cũng khá nhiều, đến
nay chƣa sƣu tầm hết. Nội dung của phú giai đoạn này đƣợc các tác giả tập
trung theo các chủ đề sau: Nêu cao tinh thần yêu nƣớc thƣơng dân, cổ vũ nhân
dân đứng lên chiến đấu, ca ngợi lòng hy sinh dũng cảm, xót xa về những cảnh
lầm than của nhân dân, vạch trần tội ác của bè lũ cƣớp nƣớc và bán nƣớc.
Ngoài xu hƣớng yêu nƣớc còn có xu hƣớng trào phúng. Tiêu biểu nhƣ
Nguyễn Khuyến, Tú Xƣơng, Nguyễn Thiện Kế và nhiều sáng tác khuyết
danh. Một số sáng tác tiêu biểu nhƣ: Phú thầy đồ, Phú hỏng thi, Phú ông đồ
ngông đã diễu nhà nho và chán ngán cho cảnh thi cử trong tình trạng cuối
mùa. Đặc điểm nổi bật của phú ở chủ đề này là tính phi nho rõ rệt, và có mối
liên hệ nhiều mặt với văn hóa dân gian.
Tác giả Phong Châu và Nguyễn Văn Phú trong Phú Việt Nam cổ và kim
đã kết luận: “Về mặt nghệ thuật, lối văn biền ngẫu rất thịnh hành vì nó có khả
năng đi vào quần chúng làm nhiệm vụ kêu gọi, hô hào thúc giục, ca ngợi tinh
thần hi sinh chiến đấu và châm biếm mọi thói hƣ tật xấu của xã hội. Ngôn ngữ
bình dân tràn ngập trong các bài văn” [tr.24].
Tóm lại, phú là một thể loại nghệ thuật cổ điển có vị trí quan trọng
trong văn học Việt Nam. Nó không những có nội dung độc đáo mà còn “cung
cấp một môi trƣờng rèn luyện ngôn ngữ, có tác dụng làm cho các bài cáo, bài

18

cũng vậy. Muốn giúp đời trƣớc hết họ phải tự rèn luyện bản thân để giúp vua
trị vì đất nƣớc, để giúp nhân dân có cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc.
Con ngƣời hành đạo đƣợc trang bị hệ thống giáo lí của Nho giáo. Những vấn
đề thuộc phạm trù đạo lí khuyên răn con ngƣời sống có nhân cách, giữ vững
trật tự cƣơng thƣờng: nhân - lễ - nghĩa - trí - dũng; vua - tôi, cha - con, vợ -
chồng… đƣợc họ thấm nhuần.
Hình mẫu nhà nho hành đạo đƣợc thể hiện rõ ở những sáng tác thơ văn
của họ. Trong số đó phải kể đến các tác giả nhƣ: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến… Ở họ, tinh thần nhập thế thể
hiện rất tích cực. Đó là những con ngƣời có khí phách, có chí hƣớng làm
quan, quan tâm đến sự vững bền, thịnh vƣợng của dân tộc; đó là những tấm
lòng ƣu quốc ái dân, lo lắng đến sự tồn vong của quốc gia, cuộc sống no đủ
của nhân dân. Với họ, đã sinh ra ở trên đời thì phải cống hiến cả đức độ và tài
năng mà phò vua giúp nƣớc, giúp dân, sống phải có chí hƣớng, đồng thời phải
mang trong mình nhân cách cao đẹp. Đó là cái đạo để giúp đời. Bởi vậy, ở họ
vấn đề đạo đức đƣợc đƣa lên hàng đầu.
Các nhà nho thời kỳ trung đại thƣờng đi theo một con đƣờng chung đó
là: học, thi cử và đỗ đạt ra làm quan. Mô hình (nếu phát triển trọn vẹn) của
cuộc đời một nhà nho thƣờng có thể đƣợc quy vào sơ đồ sau:

Không có sự ngăn cách tuyệt đối giữa hai loại hình nhà nho hành đạo và
ẩn dật. Ngƣợc lại, thƣờng có sự chu chuyển, sự đổi chỗ giữa họ. Trong tâm
hồn nhà nho có hai nửa: hành và tàng. Trong xử sự của họ có hai khả năng:
19

xuất và xử. Họ không nhất định gắn cuộc đời mình vào chỉ một trong hai khả
năng nói trên.
Khi nhà nho ẩn dật trở thành một định hƣớng tồn tại độc lập, văn chƣơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status