Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê vào thị trường EU của Tổng công ty cà phê Việt Nam - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LI M U
Đặc trng quan trọng của tình hình thế giới ngày nay là xu hớng quốc tế hóa.
Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, mỗi nớc dù lớn hay nhỏ đều phải tham
gia vào phân công lao động quốc tế. Ngày nay, không một dân tộc nào có thể phát
triển đất nớc mình chỉ bằng tự lực cánh sinh. Đặc biệt là đối với một đất nớc đang
phát triển nh Việt Nam hiện nay thì nhận thức đầy đủ đặc trng quan trọng này và
ứng dụng vào tình hình thực tế của đất nớc có tầm quan trọng hơn bao giờ hết.
Tại đại hội VIII, Đảng ta đã nhấn mạnh kiên trì chiến lợc hớng mạnh về
xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nớc có hiệu quả,
phát huy lợi thế so sánh của đất nớc cũng nh của từng vùng, từng ngành, từng lĩnh
vực trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng trong
nớc, thị trờng khu vực và thị trờng thế giới.
Thực hiện đờng lối do Đảng khởi xớng và lãnh đạo, trong thời gian qua nớc
ta đã đạt đợc những thành tựu bớc đầu quan trọng. Việt Nam đã thiết lập nhiều
mối quan hệ ngoại giao với nhiều nớc, mở rộng hoạt động ngoại thơng theo hớng
đa dạng hóa, tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia vào các tổ chức
nh: ASEAN, AFTA, APEC, WTO...Điều này đã đặc biệt làm cho lĩnh vực xuất
khẩu ngày càng trở nên sôi động.
Hin nay EU ó v ang l i tỏc quan trng, mt th trng ln cú kh
nng tiờu th nhiu hng hoỏ, sn phm ca Vit Nam. Cỏc mt hng xut khu
ch lc ca Vit Nam cng chớnh l nhng mt hng m th trng ny cú nhu
cu nhp khu hng nm vi khi lng nh giy dộp, thu hi sn, c
phờ.Trong ú mt hng c phờ l mt trong nhng mt hng nụng sn quan trng
nht c bỏn rng rói trờn th trng EU. Kh nng xut khu c phờ ca Vit
Nam vt xa hai loi ung l chố v ca cao. Vỡ vy y mnh xut khu hng
hoỏ núi chung v y mnh xut khu c phờ núi riờng vo th trng EU l mt
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
việc làm cấp thiết đối với nước ta hiện nay. Tuy nhiên để làm được điều này Việt
Nam cần tập trung nghiên cứu tìm cách giải quyết các vướng mắc, cản trở hoạt

1.1.Năng lực sản xuất cà phê Việt Nam:
1.1.1. Thực trạng sản xuất cà phê ở Việt Nam
Cây cà phê được đưa vào trồng ở Việt Nam từ cuối thế kỉ 19 và đã trải qua
nhiều thời kì với những đặc điểm và kết quả khác nhau.
Thời kì trước năm 1975: cây cà phê chủ yếu được trồng ở những đồn điền
của người Pháp và những nông trường quốc doanh ở miền bắc. Đây là thời kì
cây cà phê phát triển chậm, không ổn định, năng suất thấp và chưa xác định được
giống thích hợp.
Thời kì từ năm 1975-1994: Diện tích trồng cây cà phê có tăng lên nhưng
với tốc độ chậm. Năng suất bắt đầu tăng lên. Phong trào trồng cà phê trong nhân
dân được phát động. Cà phê Việt Nam đã thực sự tham gia vào thị trường cà phê
thế giới.
Thời kỳ 1994- 2001: Đây là thời kỳ cây cà phê Việt Nam, đặc biệt là cây
cà phê vối phát triển rất nhanh và đạt kết quả trên nhiều mặt : diện tích tăng
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhanh, hình thành vùng sản xuất cà phê tập trung, có giá trị kinh tế cao, trở thành
nước xuất khẩu cà phê vối hàng đầu thế giới.
Thời kì 2001 – nay đây là thời kỳ ngành cà phê thế giới nói chung và
ngành cà phê Việt Nam nói riêng chịu sự khủng hoảng nghiêm trọng về giá cả.
Giá cả cà phê xuống thấp nhất trong lịch sử ngành cà phê. Cuộc sống của trên 30
triệu người dân gắn bó với cây cà phê bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Do khủng
hoảng giá liên tiếp kéo dài trong 4 vụ, nhiều vườn cà phê bị phá bỏ hoặc bỏ
hoang không chăm sóc. Nhiều gia đình nông dân đối mặt với khó khăn, doanh
nghiệp xuất khẩu cà phê không thu hồi được tiền ứng trước, bị lỗ do giá biến
động thất thường. Từ đầu năm 2005, giá cà phê dần phục hồi và tại thời điểm
bài viết này giá cà phê tăng lên với mức độ đáng kể, đạt xấp xỉ 1.500USD/ tấn cà
phê vối và 2.500USD/ tấn cà phê chè. Với mức giá này , người sản xuất có hiệu
quả và đầu tư chăm sóc vườn cây hướng tới nền nông nghiệp bền vững.
1.1.2. Diện tích, sản lượng cà phê của Việt Nam.

chiếm 86% diện tích cà phê cả nước. Trong đó riêng Đắc Lắc diện tích 233
nghìn ha chiếm 45% diện tích toàn vùng.
Việt Nam có diện tích trồng cà phê nhiều nhất là ở Miền Nam, Tây
Nguyên, Lâm Đồng. Tại đây hình thành nên các vùng chuyên canh cà phê có
chất lượng tốt, năng suất cao.
1.1.3. Chế biến cà phê ở Việt Nam.
Do quy trình công nghệ chế biến cà phê ở Việt Nam chưa hiện đại do đó ta
chủ yếu xuất khẩu cà phê nhân. Vì thế ở nước ta hình thành được hệ thống chế
biến cà phê nhân. Hiện nay đang bắt đầu chế biến cà phê rang xay, cà phê hoà
tan.
- Ở Việt Nam chế biến cà phê nhân thường theo 2 phương pháp đó là chế
biến theo phương pháp ướt và phương pháp chế biến khô.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phương pháp chế biến ướt bao gồm các công đoạn thu lượm quả tươi đem
lọc và rửa sơ bộ để loại bỏ đất, que, lá cây, đá... sau đó đến xát vỏ để loại bỏ vỏ
rồi đến đánh nhớt, sau đó lên men ngâm rửa rồi đem phơi khô.
Phương pháp chế biến khô là cà phê tươi để phơi khô không cần qua khâu
sát tươi.
- Đối với cà phê hoà tan thì thường sử dụng phương pháp công nghệ sấy
phun của Liro- Đan Mạch
Việt Nam chủ yếu chế biến theo phương pháp khô (khoảng 90% sản
lượng). Tính đến năm 2001 cả nước có 50 dây chuyền chế biến cà phê nhân,
trong đó 14 dây chuyền ngoại nhập và hàng nghìn máy xay xát nhỏ quy mô hộ
gia đình. Năm 2004 thì số lượng dây chuyền tăng lên 70 dây chuyền chế biến cà
phê nhân có chất lượng cao. Lượng cà phê được chế biến thành sản phẩm cà phê
rang xay, cà phê hoà tan đã hình thành và ngày càng nhiều (chiếm 10-15% sản
lượng)
Việt Nam có sản lượng cà phê khá lớn với phẩm chất thơm ngon vốn có
của giống tốt, được sản xuất trên nhiều cao nguyên có thổ nhưỡng rất thích hợp.

đặc điểm thích nghi của từng loại cây.
* Cà phê vối thích hợp với khí hậu khô ráo, nắng ấm, nhiệt độ thích hợp
nhất là 24-26
0
C, độ cao khoảng 600-2000m, mật độ từ 1200 -1500 cây/ha. Cà
phê Robusta có hình quả trứng hoặc hình tròn, quả chín có màu thẫm, vỏ cứng và
thường chín từ tháng 2. Đặc biệt cây cà phê này không ra hoa kết quả tại các mắt
của cành. Nhân hơi tròn, to ngang, vỏ lụa màu ánh nâu bạc. Loại cà phê này
được trồng nhiều nhất ở Châu Phi và Châu á trong đó Việt Nam và Indonesia là
hai nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.
* Cà phê Arabica ưa khí hậu mát mẻ có khả năng chịu rét, thường được
trồng ở độ cao trên dưới 200m. Arabica có nhiều tàn lá, hình trứng hoặc hình
lưỡi mác. Quả của loại cà phê chè có hình quả trứng hoặc hình tròn, có màu đỏ
tươi, một số giống khi chín có màu vàng. Loai cà phê này chủ yếu trồng ở Brazin
và Colombia với mùi thơm được nhiều nước ưa chuộng.
Ở Việt Nam cà phê vối được trồng tuyệt đại đa số ở Tây Nguyên và Đông
Nam Bộ. Đây là hai vùng chủ lực sản xuất cà phê của cả nước với năng suất khá
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cao (trên 1,6 tấn nhân /ha) chất lượng tốt, với diện tích 443.000 ha, chiếm 86%
diện tích cả nước. Cà phê chè lại thích hợp với các vùng núi trung du phía bắc,
tập trung ở Sơn La, Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An, quảng Trị và Thừa Thiên
Huế. Diện tích cà phê chè cả nước năm 2003 là 30.000 ha. Cà phê chè có chất
lượng hơn nhưng hay bị sâu bệnh và khả năng thích nghi kém hơn vì vậy năng
suất cũng thấp hơn khoảng 0,9-1,2tấn/ha.
Cà phê trồng ở nước ta bao gồm cà phê vối chiếm 89% diện tích, cà phê
chè 10% và cà phê mít 1%. Do cà phê vối có hàm lượng caffeine cao(2-4%) nên
hương vị không tinh khiết bằng cà phê chè (caffeine 1-2%) nên giá chỉ bằng một
nửa. Cây cà phê chè ưa sống ở vùng núi cao và thường được trồng ở độ cao từ
1000-1500m, nhiệt độ từ 16-25ºC, lượng mưa khoảng trên 1000mm. Cà phê vối

việc, sản xuất chế biến cà phê chưa nhiều vì thế lợi thế về nhân công có thể giúp
nước ta giảm rất nhiều chi phí cho sản xuất cà phê xuất khẩu từ đó có thể hạ giá
thành giúp cho Việt Nam có thể cạnh tranh được về giá so với các nước trên thế
giới.
Theo dự tính thì việc sản xuất cà phê xuất khẩu thu hút khá nhiều lao
động: 1 ha cà phê thu hút từ 120.000- 200.000 lao động. Riêng ở nước ta hiện
nay có khoảng 700.000 – 800.000 lao động sản xuất cà phê, đặc biệt vào thời
điểm chăm sóc, thu hoạch con số này lên đến hơn 1 triệu người. Như vậy với
nguồn lao động dồi dào như nước ta hiện nay có thể cung cấp một lượng lao
động khá đông đảo cho ngành cà phê.
Người dân Việt Nam có đức tính chịu khó cần cù, có tinh thần học hỏi tiếp
thu khoa học công nghệ để áp dụng vào trồng và chế biến cà phê xuất khẩu. Điều
này cũng là lợi thế trong việc tạo ra một nguồn hàng cho cà phê xuất khẩu.
- Cà phê Việt Nam có hương vị tự nhiên ngon. Cà phê Việt Nam được
trồng trên vùng cao nguyên, núi cao có khí hậu, đất đai phù hợp. Điều kiện này
tao cho cà phê Việt Nam có hương vị riêng, đặc biệt mà các quốc gia khác không
có được. Điều này là một lợi thế lớn của Việt Nam vì cà phê là thứ đồ uống dùng
để thưởng thức, đôi khi còn thể hiện đẳng cấp của con người trong xã hội vì vậy
hương vị cà phê luôn là một yếu tố lôi cuốn khách hàng, đặc biệt là khách hàng
khó tính.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Một trong những lợi thế thuộc về chủ quan là do đường lối đổi mới kinh
tế của Đảng và Nhà Nước Việt Nam đã tạo môi trường thuận lợi để phát triển
sản xuất cây cà phê. Nghị uyết 09/2000/ NQ/ CP của chính phủ xác định quy
hoạch và định hướng phát triển cây cà phê nước ta đến năm 2010. Ngoài ra, Nhà
nước còn có chính sách hỗ trợ về giá khi giá cà phê của thị trường thế giới xuống
thấp.
1.2.Những lợi thế về xuất khẩu cà phê Việt Nam:
- Chiến lược của nhà nước: trong những năm 2003- 2010 nhà nước đã xây

trên thị trường khu vực và thế giới.
-Về quy hoạch: Việt Nam đã xây dựng, quy hoạch nhiều vùng trồng cà
phê để xuất khẩu, cho năng suất cao, chất lượng tốt như Tây Nguyên, Đông Nam
Bộ và một số tỉnh Miền Trung. Đây là một lợi thế lớn để tạo ra một nguồn hàng
phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu cà phê
1.3.Những bất lợi trong xuất khẩu cà phê Việt Nam:
Cùng với sự gia tăng sản lượng cà phê xuất khẩu và dẫn đầu thế giới về
sản lượng cà phê Robusta (cà phê vối) nhưng giá trị xuất khẩu cà-phê nước ta
đem lại không cao do giá xuất khẩu còn thấp vì chất lượng thấp. Chất lượng cà-
phê xuất khẩu là một thách thức về khả năng cạnh tranh của chúng ta.
Theo báo cáo của Hiệp hội Cà-phê - Ca- cao Việt Nam, trong sáu tháng
tính đến tháng 3-2007, cà-phê xuất khẩu có nguồn gốc Việt Nam chiếm 88%
trong tổng số cà-phê xuất khẩu bị thải loại của thế giới. Cùng một loại sản phẩm,
nhưng giá cà-phê xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn các nước trong khu vực
từ 50 đến 70 USD/tấn, nhiều khi sự chênh lệch này còn lên đến 100 USD.
Nguyên nhân bởi từ trước đến nay, cà-phê xuất khẩu của nước ta được đánh giá
theo tiêu chuẩn cũ của năm 1993 (TCVN: 4193-93).
Theo tiêu chuẩn này, sản phẩm hầu hết được bán ở dạng "thô". Ðây là
tiêu chuẩn phổ biến mà nhiều doanh nghiệp áp dụng để xuất khẩu cà-phê
Robusta (R2), tức là cà-phê có độ ẩm 13%, tạp chất 1%, hạt đen vỡ 5% và hạt
trên sàn 13 đạt 90%. Và như vậy, vô hình chung chúng ta đã xuất khẩu cả một
lượng cà-phê xấu đáng lẽ phải được thải loại. Các nhà thu mua cà phê R2 đã tìm
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cách ép giá, trừ hao hụt tạp chất, hạt đen vỡ khi ký hợp đồng nên kim ngạch xuất
khẩu cà-phê của chúng ta không tăng cao cho dù sản lượng tăng rất cao. Vì vậy,
cà-phê Việt Nam phải bán với giá thấp hơn rất nhiều so với thế giới.
Cà phê Việt Nam từ lâu được khẳng định, có chất lượng tự nhiên cao và
có hương vị đậm đà do được trồng ở độ cao nhất định so với mặt biển. Nhưng do
khâu thu hái, phơi sấy, chế biến không tốt đã ảnh hưởng đến chất lượng vốn có.

được thị trường ưa chuộng giá cao. Cà phê vối được trồng phổ biến ở Việt Nam,
tuy nhiên nhu cầu thế giới lại thích tiêu dùng cà phê chè. Điều này đặt ra cho
Việt Nam vấn đề là nếu không thay đổi cơ cấu cà phê phù hợp sẽ dẫn đến tình
trạng quá thừa trong mặt hàng cà phê vối song lại thiếu trong cà phê chè. Điều
này gây bất lợi lớn cho xuất khẩu cà phê Việt Nam.
1.3.3. Chất lượng cà phê còn thấp chưa tương xứng với lợi thế(về đất đai,
khí hậu Việt Nam) còn cách xa với yêu cầu của thị trường thế giới. Xu hướng
chạy theo năng suất và sản lượng khiến không ít các hộ kinh doanh quan tâm
đên chât lượng cà phê dẫn đến giá cà phê bị thấp hơn rất nhiều cà phê thế giới.
Cà phê Việt Nam nhiều tạp chất, cà phê chưa chín, công nghê phơi sấy bảo quản
lạc hậu, dẫn đến nấm mốc làm giảm chất lượng cà phê. Đặc biệt các doanh
nghiệp Việt Nam chưa khai thác được lợi thế của cà phê Việt Nam chính là ở
hương vị mặt hàng này.
1.3.4. Tổ chức quản lý, thu mua cà phê còn nhiều bất cập. Hiệp hội cà phê
chỉ quản lý được một phần các doanh nghiệp sản xuất cà phê, chủ yếu thuộc tổng
công ty cà phê Việt Nam, còn đại bộ phận cà phê hộ gia đình do tư thương chi
phối.
Do những nhược điểm trên nên sức cạnh tranh của cà phê trên thị
trường thế giới còn thấp về chất lượng, giá thành cao, chủng loại sản phẩm còn
đơn điệu. Đây là những thách thức lớn đối với việc xuất khẩu cà phê Việt Nam
trong giai đoạn hội nhập với thị trường thế giới.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II.Cơ hội xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê Việt Nam
Hiện nay, Cà phê Việt Nam đứng thứ hai thế giới về lượng xuất khẩu và
đang có mặt ở tất cả các châu lục. Việt Nam còn là thành viên quan trọng của Tổ
chức Cà phê thế giới (ICO), nhưng lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ
yếu là ở dạng nguyên liệu, chưa qua chế biến sâu. Vì vậy, mà người tiêu dùng
trên thế giới vẫn chưa biết nhiều đến sản phẩm cà phê qua chế biến của Việt
Nam.Do đó, trong thời gian tới các doanh nghiệp cần tập trung nâng cao hàm

mạnh nhưng vẫn có 4/10 thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam đạt
tốc độ tăng trưởng dương về lượng là Anh, Nga, Indonexia và Angiêri. Đặc biệt,
trong thời gian gần đây, khối lượng cà phê xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt
Nam.
Theo dự báo của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), trong niên vụ 2009-2010
sản lượng cà phê của toàn thế giới đạt 123,7 triệu bao (60 kg/bao), giảm so với
mức 128 triệu bao của niên vụ trước đó mà nguyên nhận chủ yếu là do sản lượng
của Brazil giảm cũng như sản lượng của Việt Nam, Côlômbia và một số nước
xuất khẩu Trung Mỹ khác cũng được dự đoán giảm do thắt chặt nguồn cung hoặc
do ảnh hưởng của thời tiết. Trong khi đó, tiêu thụ cà phê năm 2010 trên phạm vi
thế giới ước tính sẽ đạt 132 triệu bao, tăng so với mức 130 triệu bao của năm
trước. Mặc dù dự báo nguồn cung sẽ giảm trong khi cầu lại tăng nhưng giá xuất
khẩu cà phê của Việt Nam trong nhiều tháng qua lại giảm mạnh, đặc biệt giá
bình quân xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 3 năm 2010 chỉ đạt trung
bình khoảng 1370 USD/tấn, đây là mức thấp nhất kể từ tháng 11 năm 2006. Bên
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cạnh đó, giá cả của các nguyên, vật liệu đầu vào như xăng dầu, phân bón, …
phục vụ sản xuất cà phê lại tăng. Do đó, Chính phủ cũng như Hiệp hội Cà phê
Việt Nam và các doanh nghiệp cần có những biện pháp để khắc phục nghịch lý
này, tránh thiệt hại cho người nông dân trồng cà phê.
2.2.Cơ hội xuất khẩu theo ngành hàng:
Trong quý I/2010, cà phê là mặt hàng duy nhất trong các nhóm hàng nông
sản xuất khẩu chủ yếu có đơn giá xuất khẩu bình quân giảm so với cùng kỳ năm
2009
Các tính toán cho thấy trong khi hầu hết giá xuất khẩu bình quân của các
nhóm hàng nông sản quý I/2010 đều tăng thì chỉ có riêng giá xuất khẩu bình
quân mặt hàng cà phê lại giảm tới 7,4% so với cùng kỳ năm 2009, tương ứng
giảm 113 USD/tấn. Số liệu thống kê cập nhật mới nhất của Tổng cục Hải quan
cũng cho thấy, đơn giá xuất khẩu bình quân nhóm hàng này trong quý I/2010 đạt

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ
CỦA TỔNG CÔNG TY CÀ PHÊ VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG EU
2.1.Tầm quan trọng của thị trường EU đối với xuất khẩu cà phê của Tổng
công ty cà phê Việt Nam:
EU gồm 25 quốc gia, mỗi quốc gia có một đặc điểm tiêu dùng riêng do đó
có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hoá.
Liên minh EU có nền ngoại thương lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, là thị trường
xuất khẩu lớn nhất và thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới. Hàng năm EU
nhập khẩu một khối lượng từ khắp các nước trên thế giới. Kim ngạch nhập khẩu
không ngừng gia tăng: từ 622,48 tỷ USD năm 1994 lên tới 757,85 tỷ USD năm
1997 và gần 900 tỷ USD năm 2004, đạt 1.199 tỉ Euro năm 2009. Các mặt hàng
nhập khẩu chủ yếu của EU là nông sản chiếm 11,79% trong đó có chè, cà phê,
gạo,...khoáng sản 17,33%, máy móc 24,27%, thiết bị vận tải chiếm trên 8,9%,
hoá chất 7,59%, các sản phẩm chế tạo khác 27,11% trong tổng kim ngạch nhập
khẩu.
Trong quý I năm 2010, các sự kiện đáng chú ý là việc EU và Việt Nam
tuyên bố đàm phán FTA song phương, việc EU tiếp tục tuyên bố thuế chống bán
phá giá đối với xe đạp của Việt Nam và Trung Quốc sắp hết hiệu lực (tháng
7/2010) và việc Hiệp hội công nghiệp hàng thể thao châu Âu (FESI) và Trung
quốc kiện EC gia hạn thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng giày mũ da Việt
Nam và Trung Quốc.
Đến nay EU đã chính thức có số liệu xuất nhập khẩu năm 2009, theo đó
xuất khẩu cả năm 2009 đạt giá trị 1.093,3 tỉ Euro, giảm 16% so với năm 2008 và
nhập khẩu đạt 1.199 tỉ Euro, giảm 23%.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tuy nhiên, xu thế giảm cả xuất và nhập khẩu của EU trong những tháng
cuối năm có dấu hiệu giảm dần (bảng dưới):

Việt Nam nói riêng vào thị trường EU thuận lơi hơn.Tuy nhiên EU là thị trường
khó tính, yêu cầu chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cao. Nếu đảm bảo yêu
cầu trên thì sản phẩm dễ dàng vào thị trường EU cũng như sản phẩm mặc nhiên
đạt được những sản phẩm quốc tế và dễ dàng nhập khẩu vào thị trường khó tính
khác.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Xuất khẩu cà phê vào thị trường EU của Việt Nam đứng thứ 2 trên thế
giới về cà phê vối sau Indonesia. Nếu tính chung toàn lượng cà phê mà thị
trường EU nhập khẩu thì Việt Nam chiếm khoảng 22% thị phần của EU sau
Brazin 28 % và Indonesia 25 %. Tuy nhiên phần lớn ta xuất khẩu cà phê vối, mà
hiện nay EU lại có nhu cầu lớn về cà phê chè. Do vậy trong một vài năm tới Việt
Nam cần nâng cao khả năng xuất khẩu cà phê chè vào thị trường này. Có như
vậy thì mới có khả năng giữ được thị phần trên thị trường EU
Năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU chiếm 10.600
triệu USD (trong đó cà phê chiếm 800 triệu USD trong tổng kim ngạch).
Một dấu hiệu đáng mừng là kim ngạch XNK của EU trong tháng 1/2010
đều tăng so với năm 2009( Đơn vị: tỉ Euro)
Tháng 1/2010 Tháng 1/2010 So sánh
EU xuất 81,6 75,7 Tăng 8%
EU nhập 104,1 103,8 Tăng 0,29%
Cán cân -22,5 -28,1
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam vào EU giai đoạn 2009-2010
(Đơn vị tớnh: Kim ngạch: triệu USD; tăng %)
Nội dung Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 2009-2010
Trị giá Tăng Trị giá Tăng Trị giá Tăng Trị giá tăng
Tổng KN
XK vào EU

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mỹ 9729 3416 2512 3546 3674
Pháp 1264 1275 84 950 1000
Hà Lan 4467 2771 1001 535 637
Singapore 2373 778 590 697 672
Thuỵ Sỹ 6713 1284 581 797 790
( Nguồn của hiệp hội cà phê- ca cao Việt Nam)
Đối với thị trường EU là thị trường lớn của Vinacafe nên mang lại cho
Tổng công ty một lượng ngoại tệ khá lớn. Điều này thể hiện bằng chỉ tiêu kim
ngạch của Vinacafe trên thị trường EU như sau .
Bảng kim ngạch xuất khẩu của Vinacafe vào thị trường EU.
Năm 2004 2005 2006 2007 2008
Kim ngạch (1000USD) 26.675 28.522 22.235 26.224 28.3400
Mức độ tăng giảm (%) 40,4 6,9 -22 18 8,08
(Báo cáo xuất khẩu hàng năm của Tổng công ty)
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
EU có nhu cầu nhập khẩu cà phê rất lớn, qua bảng sau ta có tình hình các
nước hàng đầu nhập khẩu cà phê của Vinacafe:
1
Năm 2001 2002 2003 2004
L (tấn)
Trị giá
(USD)
S
L (tấn)
Trị gía
(USD)
L (tấn)
Trị gía


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status