Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê vào thị trường EU của Tổng công ty cà phê Việt Nam - Pdf 15

LI M U
Đặc trng quan trọng của tình hình thế giới ngày nay là xu hớng quốc tế hóa.
Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, mỗi nớc dù lớn hay nhỏ đều phải tham
gia vào phân công lao động quốc tế. Ngày nay, không một dân tộc nào có thể phát
triển đất nớc mình chỉ bằng tự lực cánh sinh. Đặc biệt là đối với một đất nớc đang
phát triển nh Việt Nam hiện nay thì nhận thức đầy đủ đặc trng quan trọng này và
ứng dụng vào tình hình thực tế của đất nớc có tầm quan trọng hơn bao giờ hết.
Tại đại hội VIII, Đảng ta đã nhấn mạnh kiên trì chiến lợc hớng mạnh về
xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nớc có hiệu quả,
phát huy lợi thế so sánh của đất nớc cũng nh của từng vùng, từng ngành, từng lĩnh
vực trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng trong
nớc, thị trờng khu vực và thị trờng thế giới.
Thực hiện đờng lối do Đảng khởi xớng và lãnh đạo, trong thời gian qua nớc
ta đã đạt đợc những thành tựu bớc đầu quan trọng. Việt Nam đã thiết lập nhiều
mối quan hệ ngoại giao với nhiều nớc, mở rộng hoạt động ngoại thơng theo hớng
đa dạng hóa, tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia vào các tổ chức
nh: ASEAN, AFTA, APEC, WTO...Điều này đã đặc biệt làm cho lĩnh vực xuất
khẩu ngày càng trở nên sôi động.
Hin nay EU ó v ang l i tỏc quan trng, mt th trng ln cú kh
nng tiờu th nhiu hng hoỏ, sn phm ca Vit Nam. Cỏc mt hng xut khu
ch lc ca Vit Nam cng chớnh l nhng mt hng m th trng ny cú nhu
cu nhp khu hng nm vi khi lng nh giy dộp, thu hi sn, c
phờ.Trong ú mt hng c phờ l mt trong nhng mt hng nụng sn quan trng
nht c bỏn rng rói trờn th trng EU. Kh nng xut khu c phờ ca Vit
Nam vt xa hai loi ung l chố v ca cao. Vỡ vy y mnh xut khu hng
hoỏ núi chung v y mnh xut khu c phờ núi riờng vo th trng EU l mt
vic lm cp thit i vi nc ta hin nay. Tuy nhiờn lm c iu ny Vit
1
Nam cần tập trung nghiên cứu tìm cách giải quyết các vướng mắc, cản trở hoạt
động xuất khẩu sang EU và tìm ra các giải pháp căn bản để đẩy mạnh xuất khẩu
cà phê.

nhiều thời kì với những đặc điểm và kết quả khác nhau.
Thời kì trước năm 1975: cây cà phê chủ yếu được trồng ở những đồn điền
của người Pháp và những nông trường quốc doanh ở miền bắc. Đây là thời kì
cây cà phê phát triển chậm, không ổn định, năng suất thấp và chưa xác định được
giống thích hợp.
Thời kì từ năm 1975-1994: Diện tích trồng cây cà phê có tăng lên nhưng
với tốc độ chậm. Năng suất bắt đầu tăng lên. Phong trào trồng cà phê trong nhân
dân được phát động. Cà phê Việt Nam đã thực sự tham gia vào thị trường cà phê
thế giới.
Thời kỳ 1994- 2001: Đây là thời kỳ cây cà phê Việt Nam, đặc biệt là cây
cà phê vối phát triển rất nhanh và đạt kết quả trên nhiều mặt : diện tích tăng
3
nhanh, hình thành vùng sản xuất cà phê tập trung, có giá trị kinh tế cao, trở thành
nước xuất khẩu cà phê vối hàng đầu thế giới.
Thời kì 2001 – nay đây là thời kỳ ngành cà phê thế giới nói chung và
ngành cà phê Việt Nam nói riêng chịu sự khủng hoảng nghiêm trọng về giá cả.
Giá cả cà phê xuống thấp nhất trong lịch sử ngành cà phê. Cuộc sống của trên 30
triệu người dân gắn bó với cây cà phê bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Do khủng
hoảng giá liên tiếp kéo dài trong 4 vụ, nhiều vườn cà phê bị phá bỏ hoặc bỏ
hoang không chăm sóc. Nhiều gia đình nông dân đối mặt với khó khăn, doanh
nghiệp xuất khẩu cà phê không thu hồi được tiền ứng trước, bị lỗ do giá biến
động thất thường. Từ đầu năm 2005, giá cà phê dần phục hồi và tại thời điểm
bài viết này giá cà phê tăng lên với mức độ đáng kể, đạt xấp xỉ 1.500USD/ tấn cà
phê vối và 2.500USD/ tấn cà phê chè. Với mức giá này , người sản xuất có hiệu
quả và đầu tư chăm sóc vườn cây hướng tới nền nông nghiệp bền vững.
1.1.2. Diện tích, sản lượng cà phê của Việt Nam.
Diện tích :diện tích trồng cây cà phê đã tăng lên nhanh chóng. Năm 2001
đạt 565 nghìn ha gấp 4,56 lần năm 1994, với tốc độ tăng bình quân 55%/ năm.
Nhưng 3 năm trở lại đây do giá cà phê trên thị trường thế giới giảm một cách
nhanh chóng. Các hộ nông dân không thu được nhiều lãi từ cây cà phê. Do đó có

1.1.3. Chế biến cà phê ở Việt Nam.
Do quy trình công nghệ chế biến cà phê ở Việt Nam chưa hiện đại do đó ta
chủ yếu xuất khẩu cà phê nhân. Vì thế ở nước ta hình thành được hệ thống chế
biến cà phê nhân. Hiện nay đang bắt đầu chế biến cà phê rang xay, cà phê hoà
tan.
- Ở Việt Nam chế biến cà phê nhân thường theo 2 phương pháp đó là chế
biến theo phương pháp ướt và phương pháp chế biến khô.
5
Phương pháp chế biến ướt bao gồm các công đoạn thu lượm quả tươi đem
lọc và rửa sơ bộ để loại bỏ đất, que, lá cây, đá... sau đó đến xát vỏ để loại bỏ vỏ
rồi đến đánh nhớt, sau đó lên men ngâm rửa rồi đem phơi khô.
Phương pháp chế biến khô là cà phê tươi để phơi khô không cần qua khâu
sát tươi.
- Đối với cà phê hoà tan thì thường sử dụng phương pháp công nghệ sấy
phun của Liro- Đan Mạch
Việt Nam chủ yếu chế biến theo phương pháp khô (khoảng 90% sản
lượng). Tính đến năm 2001 cả nước có 50 dây chuyền chế biến cà phê nhân,
trong đó 14 dây chuyền ngoại nhập và hàng nghìn máy xay xát nhỏ quy mô hộ
gia đình. Năm 2004 thì số lượng dây chuyền tăng lên 70 dây chuyền chế biến cà
phê nhân có chất lượng cao. Lượng cà phê được chế biến thành sản phẩm cà phê
rang xay, cà phê hoà tan đã hình thành và ngày càng nhiều (chiếm 10-15% sản
lượng)
Việt Nam có sản lượng cà phê khá lớn với phẩm chất thơm ngon vốn có
của giống tốt, được sản xuất trên nhiều cao nguyên có thổ nhưỡng rất thích hợp.
Tuy nhiên cà phê hạt xuất khẩu lại không có chất lượng tương xứng và vì vậy đã
thua thiệt về giá cả so với các nước khác. Một thời gian dài trước đây công
nghiệp chế biến cà phê không được quan tâm đày đủ, có sự thiếu xót về nhận
thức, có khó khăn về vốn đầu tư, trình độ công nghệ thấp kém chậm đổi mới, tổn
thất sau thu hoạch là khá lớn và đã có những cơ sở tổn thất khá nghiêm trọng,
thất thu hàng tỉ đồng, vì chất lượng hạt xấu. Mặt khác hơn 80% cà phê được sản

mắt của cành. Nhân hơi tròn, to ngang, vỏ lụa màu ánh nâu bạc. Loại cà phê này
được trồng nhiều nhất ở Châu Phi và Châu á trong đó Việt Nam và Indonesia là
hai nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.
* Cà phê Arabica ưa khí hậu mát mẻ có khả năng chịu rét, thường được
trồng ở độ cao trên dưới 200m. Arabica có nhiều tàn lá, hình trứng hoặc hình
lưỡi mác. Quả của loại cà phê chè có hình quả trứng hoặc hình tròn, có màu đỏ
tươi, một số giống khi chín có màu vàng. Loai cà phê này chủ yếu trồng ở Brazin
và Colombia với mùi thơm được nhiều nước ưa chuộng.
Ở Việt Nam cà phê vối được trồng tuyệt đại đa số ở Tây Nguyên và Đông
Nam Bộ. Đây là hai vùng chủ lực sản xuất cà phê của cả nước với năng suất khá
cao (trên 1,6 tấn nhân /ha) chất lượng tốt, với diện tích 443.000 ha, chiếm 86%
diện tích cả nước. Cà phê chè lại thích hợp với các vùng núi trung du phía bắc,
7
tập trung ở Sơn La, Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An, quảng Trị và Thừa Thiên
Huế. Diện tích cà phê chè cả nước năm 2003 là 30.000 ha. Cà phê chè có chất
lượng hơn nhưng hay bị sâu bệnh và khả năng thích nghi kém hơn vì vậy năng
suất cũng thấp hơn khoảng 0,9-1,2tấn/ha.
Cà phê trồng ở nước ta bao gồm cà phê vối chiếm 89% diện tích, cà phê
chè 10% và cà phê mít 1%. Do cà phê vối có hàm lượng caffeine cao(2-4%) nên
hương vị không tinh khiết bằng cà phê chè (caffeine 1-2%) nên giá chỉ bằng một
nửa. Cây cà phê chè ưa sống ở vùng núi cao và thường được trồng ở độ cao từ
1000-1500m, nhiệt độ từ 16-25ºC, lượng mưa khoảng trên 1000mm. Cà phê vối
ưa sống ở vùng nhiệt đới , độ cao thích hợp dưới 1000m, nhiệt độ khoảng 24-
29ºC, lượng mưa khoảng trên 1000mm và cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so
với cây cà phê chè
1.1.5. Lợi thế trong sản xuất cà phê.
-Lợi thế về điều kiện tự nhiên.
Nước Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, trải dài theo
phương kinh tuyến từ 8º 30 đến 23º 30 vĩ độ bắc. Điều kiện khí hậu, địa lý và
đất đai thích hợp cho việc phát triển cà phê đã đem lại cho cà phê Việt Nam một

động khá đông đảo cho ngành cà phê.
Người dân Việt Nam có đức tính chịu khó cần cù, có tinh thần học hỏi tiếp
thu khoa học công nghệ để áp dụng vào trồng và chế biến cà phê xuất khẩu. Điều
này cũng là lợi thế trong việc tạo ra một nguồn hàng cho cà phê xuất khẩu.
- Cà phê Việt Nam có hương vị tự nhiên ngon. Cà phê Việt Nam được
trồng trên vùng cao nguyên, núi cao có khí hậu, đất đai phù hợp. Điều kiện này
tao cho cà phê Việt Nam có hương vị riêng, đặc biệt mà các quốc gia khác không
có được. Điều này là một lợi thế lớn của Việt Nam vì cà phê là thứ đồ uống dùng
để thưởng thức, đôi khi còn thể hiện đẳng cấp của con người trong xã hội vì vậy
hương vị cà phê luôn là một yếu tố lôi cuốn khách hàng, đặc biệt là khách hàng
khó tính.
- Một trong những lợi thế thuộc về chủ quan là do đường lối đổi mới kinh
tế của Đảng và Nhà Nước Việt Nam đã tạo môi trường thuận lợi để phát triển
sản xuất cây cà phê. Nghị uyết 09/2000/ NQ/ CP của chính phủ xác định quy
hoạch và định hướng phát triển cây cà phê nước ta đến năm 2010. Ngoài ra, Nhà
9
nước còn có chính sách hỗ trợ về giá khi giá cà phê của thị trường thế giới xuống
thấp.
1.2.Những lợi thế về xuất khẩu cà phê Việt Nam:
- Chiến lược của nhà nước: trong những năm 2003- 2010 nhà nước đã xây
dựng hoàn thiện các chiến lược mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam trong đó cà phê được xem xét là mặt hàng chủ lực số 1. Vị trí đó được xuất
phát từ lợi thế đất đai, khí hậu, kinh nghiệm sản xuất của nông dân. Lợi thế này
kết hợp với chế độ chính trị, xã hội ổn định, cơ chế chính sách thời kỳ đổi mới đã
được khẳng định trong đường lối kinh tế do Đại Hội IX của Đảng đề ra đã và
đang trở thành sức mạnh để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu
vực.
- Nhu cầu thế giới ngày càng tiêu dùng cà phê nhiều hơn và tăng lên nhanh
chóng. Cà phê là thứ đồ uống phổ biến trong mọi tầng lớp, hiện nay nhu cầu tiêu
dùng cà phê vượt xa hai loại đồ uống truyền thống là chè và ca cao. Điều này đã

tính đến tháng 3-2007, cà-phê xuất khẩu có nguồn gốc Việt Nam chiếm 88%
trong tổng số cà-phê xuất khẩu bị thải loại của thế giới. Cùng một loại sản phẩm,
nhưng giá cà-phê xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn các nước trong khu vực
từ 50 đến 70 USD/tấn, nhiều khi sự chênh lệch này còn lên đến 100 USD.
Nguyên nhân bởi từ trước đến nay, cà-phê xuất khẩu của nước ta được đánh giá
theo tiêu chuẩn cũ của năm 1993 (TCVN: 4193-93).
Theo tiêu chuẩn này, sản phẩm hầu hết được bán ở dạng "thô". Ðây là
tiêu chuẩn phổ biến mà nhiều doanh nghiệp áp dụng để xuất khẩu cà-phê
Robusta (R2), tức là cà-phê có độ ẩm 13%, tạp chất 1%, hạt đen vỡ 5% và hạt
trên sàn 13 đạt 90%. Và như vậy, vô hình chung chúng ta đã xuất khẩu cả một
lượng cà-phê xấu đáng lẽ phải được thải loại. Các nhà thu mua cà phê R2 đã tìm
cách ép giá, trừ hao hụt tạp chất, hạt đen vỡ khi ký hợp đồng nên kim ngạch xuất
khẩu cà-phê của chúng ta không tăng cao cho dù sản lượng tăng rất cao. Vì vậy,
cà-phê Việt Nam phải bán với giá thấp hơn rất nhiều so với thế giới.
11
Cà phê Việt Nam từ lâu được khẳng định, có chất lượng tự nhiên cao và
có hương vị đậm đà do được trồng ở độ cao nhất định so với mặt biển. Nhưng do
khâu thu hái, phơi sấy, chế biến không tốt đã ảnh hưởng đến chất lượng vốn có.
Cà phê Việt Nam đã có mặt trên toàn thế giới, nhưng dường như người tiêu dùng
trên thế giới vẫn chưa biết, họ hằng ngày vẫn đang dùng cà phê hiệu Nestle,
Maxell, Folger...
Theo tiêu chuẩn Hội đồng cà phê Quốc tế (ICO) quy định từ năm 2004
(Tiêu chuẩn ISO10470: 2004) thì hạt cà phê xuất khẩu được lựa chọn bằng cách
cân các hạt lỗi (hạt đen, hạt nâu và hạt vỡ) và chất lượng được quyết định bởi số
lượng hạt lỗi có trong cà phê. Cụ thể là cà-phê Arabica không được quá 86 lỗi
trong 1 mẫu 300g, cà phê Robusta không được quá 150 lỗi trên 1 mẫu 300g. Hai
loại cà phê này phải có hàm lượng ẩm không quá 8% và 12,5%. Tuy nhiên, đây
vẫn là tiêu chuẩn có tính chất tự nguyện nên tất yếu dẫn đến tình trạng cà phê
chúng ta vẫn áp dụng theo tiêu chuẩn cũ để xuất khẩu.
→Vấn đề đặt ra lớn nhất đặt ra trong xuất khẩu cà phê Việt Nam hiện nay

1.3.4. Tổ chức quản lý, thu mua cà phê còn nhiều bất cập. Hiệp hội cà phê
chỉ quản lý được một phần các doanh nghiệp sản xuất cà phê, chủ yếu thuộc tổng
công ty cà phê Việt Nam, còn đại bộ phận cà phê hộ gia đình do tư thương chi
phối.
Do những nhược điểm trên nên sức cạnh tranh của cà phê trên thị
trường thế giới còn thấp về chất lượng, giá thành cao, chủng loại sản phẩm còn
đơn điệu. Đây là những thách thức lớn đối với việc xuất khẩu cà phê Việt Nam
trong giai đoạn hội nhập với thị trường thế giới.
II.Cơ hội xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê Việt Nam
13
Hiện nay, Cà phê Việt Nam đứng thứ hai thế giới về lượng xuất khẩu và
đang có mặt ở tất cả các châu lục. Việt Nam còn là thành viên quan trọng của Tổ
chức Cà phê thế giới (ICO), nhưng lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ
yếu là ở dạng nguyên liệu, chưa qua chế biến sâu. Vì vậy, mà người tiêu dùng
trên thế giới vẫn chưa biết nhiều đến sản phẩm cà phê qua chế biến của Việt
Nam.Do đó, trong thời gian tới các doanh nghiệp cần tập trung nâng cao hàm
lượng chế biến trong cà phê xuất khẩu nhằm tăng giá trị gia tăng đồng thời cũng
là hình thức khuyếch trương cho thương hiệu cà phê của Việt Nam.
Số liệu Thống kê Hải quan mới nhất cho thấy, mùa vụ xuất khẩu cà phê
của Việt Nam thường từ cuối quý IV năm trước đến quý I năm sau. Thế nhưng,
quý I năm nay, giá và lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạt mức thấp nhất
so với cùng kỳ ba năm trở lại đây (từ năm 2007).
Biểu đồ 1: Thống kê khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007
– tháng 3/2010
2.1.Cơ hội xuất khẩu theo thị trường:
Hiện nay Đức và Hoa Kỳ là hai thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của
Việt Nam
14
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), từ năm 2000
lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã vượt qua Côlômbia để vươn lên trở

phục vụ sản xuất cà phê lại tăng. Do đó, Chính phủ cũng như Hiệp hội Cà phê
Việt Nam và các doanh nghiệp cần có những biện pháp để khắc phục nghịch lý
này, tránh thiệt hại cho người nông dân trồng cà phê.
2.2.Cơ hội xuất khẩu theo ngành hàng:
Trong quý I/2010, cà phê là mặt hàng duy nhất trong các nhóm hàng nông
sản xuất khẩu chủ yếu có đơn giá xuất khẩu bình quân giảm so với cùng kỳ năm
2009
Các tính toán cho thấy trong khi hầu hết giá xuất khẩu bình quân của các
nhóm hàng nông sản quý I/2010 đều tăng thì chỉ có riêng giá xuất khẩu bình
quân mặt hàng cà phê lại giảm tới 7,4% so với cùng kỳ năm 2009, tương ứng
giảm 113 USD/tấn. Số liệu thống kê cập nhật mới nhất của Tổng cục Hải quan
cũng cho thấy, đơn giá xuất khẩu bình quân nhóm hàng này trong quý I/2010 đạt
mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua, chỉ tương đương với mức giá của quý
IV/2006. Cụ thể, mức giảm của đơn giá bình quân xuất khẩu cà phê 3 tháng đầu
16
năm 2010 so với cùng thời gian các năm 2007, 2008 và 2009, lần lượt tương ứng
là 3,2%; 30,1% và 7,5%.
Bảng số liệu trên của Tổng cục Hải quan cho thấy, đơn giá xuất khẩu bình
quân các nhóm hàng nông sản chủ lực khác của Việt Nam trong quý I/2010 đều
đạt tốc độ tăng trưởng dương so với quý I/2009. Điển hình như giá cao su tăng
92,6%; giá sắn & sản phẩm từ sắn: tăng 84,3%; giá hạt tiêu tăng: 24,6% và giá
gạo tăng 20,3%;... Như vậy, giá xuất khẩu tăng mạnh của nhiều nhóm hàng
chính là yếu tố hỗ trợ tăng kim ngạch xuất khẩu trong khi lượng xuất khẩu giảm
mạnh. Tính từ đầu năm đến hết tháng 3/2010, phần trị giá tăng thêm do giá của 6
nhóm hàng nông sản trong Bảng trên tăng là 416 triệu USD, trong đó đóng góp
nhiều nhất là mặt hàng cao su: 157 triệu USD và gạo: 134 triệu USD. Ngược lại,
phần trị giá giảm do lượng xuất khẩu của các nhóm hàng này giảm lên tới hơn
400 triệu USD, trong đó giảm mạnh nhất là gạo giảm 154 triệu USD, cà phê:
giảm 147 triệu USD và sắn & sản phẩm từ sắn: giảm 95 triệu USD.
Tính đến hết tháng 3/2010, lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt

quốc kiện EC gia hạn thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng giày mũ da Việt
Nam và Trung Quốc.
Đến nay EU đã chính thức có số liệu xuất nhập khẩu năm 2009, theo đó
xuất khẩu cả năm 2009 đạt giá trị 1.093,3 tỉ Euro, giảm 16% so với năm 2008 và
nhập khẩu đạt 1.199 tỉ Euro, giảm 23%.
19
Tuy nhiên, xu thế giảm cả xuất và nhập khẩu của EU trong những tháng
cuối năm có dấu hiệu giảm dần (bảng dưới):
Năm 2009 Xuất khẩu Nhập khẩu
Tháng
Kim ngạch
(triệu Euro)
So với cùng kỳ
năm 2008
Kim ngạch
(triệu Euro)
So với cùng
kỳ(năm2008)
Tháng 1 75,731.5 -25% 103,757.2 -22%
Tháng 2 85,625.0 -21% 96,624.5 -22%
Tháng 3 93,769.1 -11% 103,189.6 -17%
Tháng 4 88,593.6 -23% 96,778.1 -27%
Tháng 5 85,329.1 -20% 92,511.6 -29%
Tháng 6 93,592.2 -18% 97,607.2 -28%
Tháng 7 101,327.7 -17% 100,502.8 -31%
Tháng 8 79,569.9 -20% 92,100.7 -28%
Tháng 9 92,790.6 -19% 104,777.3 -25%
Tháng 10 99,589.0 -17% 104,241.2 -25%
Tháng 11 98,023.2 -3% 104,823.1 -16%
Tháng 12 99,445.1 0% 101,949.3 -8%

Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam vào EU giai đoạn 2009-2010
(Đơn vị tớnh: Kim ngạch: triệu USD; tăng %)
Nội dung Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 2009-2010
Trị giá Tăng Trị giá Tăng Trị giá Tăng Trị giá tăng
Tổng KN
XK vào EU
10.000 17,6 10.600 6,0 12.100 14,2 22.700 6,7
KNXK các
mặt hàng
chủ lực
6.990 17,6 7.430 6,3 8.300 11,7 15.730 6,0
Dệt May 1.750 20,7 1.850 5,7 2.100 13,5 3.950 6,4
Giày dép 2.600 21,3 2.750 5,8 3.000 9,1 5.750 5,0
Thuỷ sản 1.100 20,6 1.250 13,6 1.450 16,0 2.700 9,9
Cà phê 820 -2,4 800 -2,4 850 6,3 1.650 1,3
Sản phẩm
gỗ
720 20,0 780 8,3 900 15,4 2.400 7,9

2.2.Kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty cà phê Việt Nam sang thị
trường EU trong những năm gần đây:
Tổng công ty cà phê Việt Nam là một doanh ngiệp nhà nước lớn,
đứng đầu trong ngành cà phê. Hàng năm Tổng công ty đã thực hiện sản xuất tạo
nguồn hàng, kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cà phê. Tổng công ty đã đạt được
những thành công lớn, hàng năm thu về một nguồn ngoại tệ khá lớn chiếm từ 20-
30% kim ngạch cả nước. Sản xuất hàng năm của Vinacafé tăng trưởng đạt 20 -
25%, trong đó xuất khẩu tăng 20 - 30%. Năm 2009, công ty đã đạt doanh số trên
1.000 tỷ đồng. 8 tháng đầu năm 2010, Vinacafé đạt doanh thu 797 tỷ đồng, tăng
26% (so với cùng kỳ năm ngoái); lợi nhuận sau thuế: 103 tỷ đồng, tăng 27%, và
nộp ngân sách: 63,8 tỷ đồng, tăng 23%.

S
L (tấn)
Trị gía
(USD)
L (tấn)
Trị gía
(USD)
L (tấn)
Trị giá
(USD)
Pháp 8.874 3.776.969 8.129 2.730.790 11012 7436291 12012 2930000
Đức 27.951 11.107.260 23.167 8.628.821 23.001 15.288.378 18.560 14.380.248
Italia 12.237 4831.202 14.763 6.829.782 18.484 12.282.253 19.434 13.479.210
Hà Lan 16..271 6.646.637 8.655 3.794.024 4.894 3.264.962 5.850 3.456.384
Anh 19.668 7.496.110 14.136 5.968.454 19.431 12.819.779 20.400 1.481.0250
Tây Ban Nha 10.665 4.773.708 15.819 5.953.910 15.155 10.005.207 15.250 10.215.400
Bồ Đào Nha 1.452 411.354 565 229.212 373 285.860 300 109.150
Đan Mạch 126 31.878 290 170.560 338 218.680 340 219.780
Hi Lạp 115 71.890 615 250.408 168 108.158 412 349.500
Hà Lan 1.164 350.393 722 241.306 84 53.560 96 72.439
Hungari 950 279.144 2.333 816.509 1.386 9.271.106 1.400 930.250
Ba Lan 3.378 1.026.852 10.184 4.276.182 6.248 4.241.966 6.540 4.630.879
Tổng công ty cà phê Việt Nam là một trong những đơn vị kinh doanh xuất
khẩu cà phê lớn nhất nước ta. Hàng năm thị phần của Vinacafe luôn luôn chiếm
từ 30- 45% thị phần xuất khẩu của cả nước. Riêng đối với thị trường EU thì
Vinacafe chiếm gần 90% lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên cà
phê Việt Nam chưa chiếm lĩnh thị trường EU nhiều. Ta còn kém nhiều so với
24
Brasin, Colombia,…Điều này là do Tổng công ty chưa có nhiều mẫu mã, chất
lượng chua cao, cơ cấu sản phẩm còn quá ít ỏi, các điều kiện an toàn chưa đảm

5,22 7 5,3 6,5 5,7 7,2 5,12 6,2
Sản lượng cà
phê tiêu thụ
của EU
74,68 76,4 80,2 82,5
( Nguồn của ICO)
Như vậy trong mấy năm trở lại đây Brasin là nước chiếm thị phần lớn về
cà phê xuất khẩu vào EU, thị phần của nước này chiếm từ 30-31 % thị phần EU.
Clombia là nước xuất khẩu đứng thứ 2 vào EU. Việt Nam luôn chiếm thị phần từ
13-18 % thị phần EU và đứng ở vị trí thứ 3 trong các nước xuất khẩu vào EU.
Việt Nam nói chung và Vinacafe nói riêng đều xuất khẩu 2 loại cà phê
chính đó là cà phê Robusta và cà phê Arabica.Trong đó cà phê Robusta là chủ
yếu, chiếm khoảng 80% trong tổng cà phê xuất khẩu.
25

Trích đoạn CHƯƠNG III:CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU CÀ PHấ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status