TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
__________________
NGUYỄN THỊ THU YẾU TỐ DÂN GIAN TRONG THƠ NÔM
NGUYỄN KHUYẾN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. An Thị Thúy
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Yếu tố dân gian trong
thơ Nôm Nguyễn Khuyến” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và kết quả
này không trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả khác. Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Thu
2.2.3. Yếu tố dân gian qua ngôn ngữ nghệ thuật 42
2.2.3.1. Ngôn ngữ văn học dân gian 42
2.2.3.2. Ngôn ngữ đời sống 46
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Về khoa học
Nguyễn Khuyến là một trong những cây đại thụ của nền văn học Việt
Nam. Tuy bóng mát của cây đại thụ ấy không rợp bóng thời gian suốt bao thế
kỉ nhƣ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du nhƣng gốc rễ của nó đã ăn sâu vào đất Việt,
góp phần tạo nên tâm hồn dân Việt.
Nguyễn Khuyến để lại một sự nghiệp thơ ca khá phong phú, có nhiều
tác phẩm đạt giá trị nghệ thuật cũng nhƣ nội dung góp phần làm nên diện mạo
của kho tàng thơ ca Việt Nam. Ông sáng tác cả bằng chữ Hán và chữ Nôm.
Trong thời gian quay về gắn bó với làng quê, ngƣời dân, vui thú điền viên đã
làm sống dậy mạnh mẽ hồn thơ Nôm Yên Đổ. Mặc dù so với thơ chữ Hán thì
thơ chữ Nôm chỉ chiếm một số lƣợng nhất định (khoảng trên 80 bài) nhƣng
nó lại là những vần thơ mang nhiều giá trị, khẳng định tên tuổi của ông trên
văn đàn.
Trong các sáng tác bằng chữ Nôm, Nguyễn Khuyến đã cho thấy ông là
nhà thơ của làng quê điều đó đƣợc thể hiện qua các yếu tố dân gian mà ông đã
sử dụng để sáng tác. Dù là bậc túc nho nhƣng nhờ những chất liệu dân gian
Nguyễn Khuyến sử dụng thơ ông trở nên bình dị và dân dã hơn đồng thời thể
hiện đƣợc tài năng độc đáo của vị Tam nguyên Yên Đổ.
Về thực tiễn
và sáng tạo độc đáo riêng của nhà thơ trong quá trình tiếp thu và phát triển các
yếu tố dân gian.
Trong Thi hào Nguyễn Khuyến, đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi với bài Sự
đa dạng và thống nhất trên quá trình chuyển động của một phong cách và
dấu hiệu chuyển mình của tư duy thơ dân tộc đã khẳng định: “Nguyễn Khuyến
lại đưa ngôn ngữ thông tục vào thơ với tất cả vẻ đẹp thanh tao, trang nhã với
3
những cảm xúc không căng mà dịu, nhưng dịu mà thấm vào người đọc rất
sâu”[1,36]. Nhận xét này của nhà nghiên cứu góp phần thừa nhận nghệ thuật
trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến thấm đẫm chất dân gian. Điều này thể hiện ở
cách dùng từ, ở hệ thống ngôn ngữ thông tục mà ông vận dụng hết sức tự
nhiên và sáng tạo.
Nguyễn Phƣơng Chi trong bài viết: Ngòi bút tả thực đột xuất khẳng định:
“Ông có ý thức đưa lời ăn tiếng nói hằng ngày, đưa ca dao, tục ngữ vào thơ,
làm cho một số bài thơ trở nên gần gũi, có một sức sống mới”[13,325].
Nhƣ vậy, việc tìm hiểu đề tài yếu tố dân gian trong thơ Nôm Nguyễn
Khuyến chắc chắn không phải là một vấn đề mới mà là vấn đề đã đƣợc các
nhà nghiên cứu quan tâm, bàn đến. Tuy nhiên nhìn một cách khái quát thì
ngƣời viết nhận thấy các công trình nghiên cứu các bài viết mới chỉ dừng lại ở
việc tìm hiểu một vài khía cạnh nào đó của vấn đề hay chỉ dừng lại ở việc lấy
một bài thơ hay một vài bài thơ làm đối tƣợng…Chƣa có ai bàn đến một cách
tập trung. Trên cơ sở kế thừa những ngƣời đi trƣớc chúng tôi đi vào tìm hiểu
đề “Yếu tố dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến”. Hy vọng kết quả
nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp phần làm cho độc giả rõ hơn về tác giả
Nguyễn Khuyến và đặc sắc nghệ thuật trong thơ ông.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi hƣớng tới những mục đích sau:
- Thấy đƣợc yếu tố dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến
- Sự kế thừa và phát triển của Nguyễn Khuyến ở nghệ thuật trong thơ chữ
5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Tác giả và tác phẩm
1.1.1. Tác giả
1.1.1.1.Bối cảnh lịch sử
Năm 1858 thực dân Pháp lấy cớ triều đình Nguyễn ngăn cản việc
thông thƣơng và giết giáo sĩ, ngày 1 tháng 8 chúng đã nổ súng vào cửa biển
Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lƣợc chính thức ở nƣớc ta. Từ giai đoạn này nƣớc
ta đã xảy ra rất nhiều biến cố lịch sử đƣợc đánh dấu bằng các sự kiện thực dân
Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Kì rồi Bắc Kì và Trung Kì, đánh dấu các sự
kiện đó bằng các hiệp ƣớc mà triều đình Nguyễn đã kí với thực dân Pháp.
Trƣớc sự xâm lƣợc của thực dân Pháp, cả dân tộc ta với tinh thần yêu nƣớc đã
tiến hành một cuộc chiến đấu quyết liệt chống lại kẻ thù và cuộc chiến đấu
chống thực dân Pháp nửa cuối thế kỉ XIX là những trang rực rỡ về lòng yêu
nƣớc của nhân dân ta. Trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp giai đoạn
nửa cuối thế kỉ XIX giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối một phần nào
nhƣng dần dần về sau đã thỏa hiệp và từng bƣớc đầu hàng thực dân Pháp.
Trong triều bộ phận đầu não của nhà nƣớc phong kiến lúc đầu đã chia thành
hai phái, một phái với tƣ tƣởng chủ hòa và một phái với tƣ tƣởng chủ chiến.
Trong khi thực dân Pháp chƣa đánh chiếm Bắc Kì và Trung Kì thì giai
cấp phong kiến tăng cƣờng bóc lột nhân dân một cách thậm tệ. Nhiều cuộc
khởi nghĩa của nhân dân đã nổ ra. Lúc này triều đình đứng trƣớc hai mâu
thuẫn, một bên là với nhân dân, một bên là với thực dân Pháp và triều đình đã
quyết định thỏa hiệp với Pháp. Với điều này triều đình không còn vai trò
trong cuộc kháng chiến chống Pháp nữa. Nhƣng phải đến 1884 sự đầu hàng
của triều đình mới hoàn toàn đƣợc bộc lộ và từ đây triều đình thực sự là mục
làng Ngòi nay thuộc xã Yên Trung, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
7
Từ nhỏ Nguyễn Khuyến nổi tiếng hiếu học. Năm Nhâm Tí (1852) mới
17 tuổi Nguyễn Khuyến đã thi cùng khoa với cha, nhƣng bị hỏng, còn cha thi
lại một lần thứ ba, đỗ thêm cái tú tài.
Năm sau Nguyễn Khuyến lấy vợ, con một nhà nghèo, ngƣời họ Nguyễn
cùng làng. Đây chính là ngƣời vợ “tao khang” suốt đời của nhà thơ, tính nết
hiền hậu, suốt đời tần tảo làm ăn.
Sau khi ông thân sinh mất gia cảnh càng thêm nghèo túng, tuy vậy
Nguyễn Khuyến vẫn cố theo đuổi việc sách đèn. Có lúc ông đã nản đƣờng
khoa cử định chuyển nghề dạy học để kiếm sống và nuôi gia đình, thì đƣợc
ngƣời bạn là Vũ Văn Báo nhận chu cấp lƣơng ăn và khuyên đến cùng học với
cha mình là Tiến sĩ Vũ Văn Lý ở xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xang (Lí Nhân
ngày nay). Bà mẹ ông cũng ân cần, nghiêm khắc khuyên con chớ thoái chí.
Do vậy khoa thi 1864 ông mới đỗ cử nhân đầu trƣờng Hà Nội. Tiếp theo ông
thi Hội các khoa 1865, 1868 đều bị trƣợt. Ông ở lại Huế, vào học Quốc Tử
Giám, khoa năm 1869 lại trƣợt. Cho đến khoa năm 1871 mới liên tiếp đỗ đầu
thi Hội, thi Đình, khi ông đã 37 tuổi. Dƣới triều Nguyễn, cho đến lúc đó mới
chỉ có hai ngƣời đỗ tam Nguyên (đỗ đầu cả 3 kì thi), thì Nguyễn Khuyến là
một. Nhƣng khác với Trần Bích San (quê ở Vị Xuyên, Nam Định), ông phải
lận đận gần 30 năm trời đèn sách, với chín khóa lều chõng đó là một cố gắng
phi thƣờng.
Sau khi thi đỗ ông đƣợc bổ làm Sử quan trong triều, năm 1873 ra làm
đốc học Thanh Hóa, rồi thăng nhanh lên Án sát tỉnh. Năm 1876, ông làm biện
lí Bộ Hộ. Năm 1877 lại ra làm quan ngoài, giữ chức Bố chánh Quảng Ngãi.
Rồi làm Toản tu ở Sử quán, từ 1879 đến 1883, vẫn sống trong cảnh thanh bần,
lại thêm đau yếu đã có tâm trạng chán ngán cảnh quan trƣờng.
Năm 1883, quân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai. Rồi Tự Đức chết,
triều Nguyễn phải kí hiệp ƣớc Harmand ngay 25 tháng 8 năm 1883. Nguyễn
tuổi của ông thì đó là bộ phận thơ chữ Nôm, Nguyễn Khuyến làm quan tất cả
9
hơn 10 năm rồi từ quan về nhà, phần lớn cuộc đời của Nguyễn Khuyến là ở
thôn quê, quê ông là một đồng chiêm trũng nghèo. Nguyễn Khuyễn sống ở
quê và quan hệ thân tình với mọi ngƣời và ông viết nhiều về con ngƣời, về
thiên nhiên, cảnh vật ở nông thôn. Trƣớc Nguyễn Khuyến, trong văn chƣơng
Việt Nam thi thoảng có những tác phẩm viết về nông thôn, nhƣng hình ảnh
nông thôn còn mờ nhạt. Có thể nói, với Nguyễn Khuyến lần đầu tiên nông
thôn Việt Nam mới đi vào văn học.
Thơ Nôm của Nguyễn Khuyến luôn để lại cho chúng ta ấn tƣợng chung
là lành và trong sáng. Ví nhƣ ba bài thơ nói về mùa Thu của Nguyễn Khuyến,
ba bài thơ này mang đƣợc hồn của cảnh vật mùa thu, cái thanh, cái trong, cái
nhẹ, cái cao, cái thần của mùa thu. Bài thơ hay là do thi sĩ có tài. Nhƣng thêm
một điều kiện nữa là nhà thơ ấy phải gắn bó, thâm nhập hòa tâm hồn mình
một cách sâu sắc, thấm thía với đất nƣớc Việt Nam. Khi sinh ra ông đã sống
giữa làng mạc, ruộng đồng.
Một mảng sáng tác trong thơ Nguyễn Khuyến cũng rất có giá trị là mảng
thơ trào phúng, đả kích. Nguyễn Khuyến thấy khá rõ cái xấu của xã hội đƣơng
thời là một nhà Nho đã từng làm quan, ông chú ý trƣớc hết đến cái xấu của
đám nho sĩ, của bọn quan lại đi thi.
Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến ngoài chú ý đến cái xấu của xã hội
để đả kích, ông còn dành một số bài để chế giễu cái bất lực, cái bạc nhƣợc của
bản thân mình, trong những bài thơ này cái cƣời của ông thƣờng trở nên chua
chát, tội nghiệp.
1.2. Sơ lƣợc yếu tố dân gian trong văn học trung đại
1.2.1. Thế kỉ X – XIV
Trong tiến trình lịch sử văn học luôn diễn ra quá trình nối tiếp, kế thừa
và phát triển những thành tựu giữa các nền văn học, các giai đoạn các trào lƣu
văn học với nhau. Thậm chí kế thừa, tiếp nối và cách tân đó còn thể hiện
nhân đạo chủ nghĩa của văn hoc dân gian. Đó là những câu chuyện dân gian
11
đƣợc ghi chép lại, có truyện gắn với nguồn gốc dân tộc Việt nhƣ Truyện họ
Hồng Bàng, Truyện Ngư Tinh, Truyện Hồ Tinh, Truyện Mộc Tinh…Hoặc có
liên quan đến những phong tục tập quán lâu đời của dân tộc Việt nhƣ Truyện
bánh chưng, Truyện trầu cau…Hoặc có liên quan với những di tích văn hóa
cổ đại của dân tộc Việt nhƣ Truyện rùa vàng, Truyện hai thần Long Nhãn và
Như Nguyệt…Lĩnh Nam chích quái là tác phẩm văn xuôi có thể coi là mở màn
cho thể loại văn xuôi của văn học trung đại. Có vị thế mở đầu cho sự phát
triển của văn xuôi tự sự trung đại từ cội nguồn tự sự dân gian.
Nhƣ vậy, chúng ta có thể thấy văn học dân gian có ảnh hƣởng đến văn
học trung đại Việt Nam. Ở thế kỉ X-XIV sự ảnh hƣởng này mới chỉ ở mức độ
nhẹ, chỉ xuất hiện trong văn xuôi trung đại là các tác phẩm sƣu tập truyện dân
gian. Tuy vậy văn học dân gian cũng góp phần hình thành nên văn học thành
viết ở giai đoạn này. Nó là nguồn cảm hứng cho văn học viết phát triển ngày
càng mạnh ở các thời kì sau này.
1.2.2. Thế kỉ XV-XVII
Giai đoạn tiếp theo ảnh hƣởng của văn học dân gian đến văn học trung
đại ngày càng rõ hơn nữa. Các sáng tác dân gian phát triển cao độ với nhiều
thể loại mới, nhiều phong cách mới và thấm vào toàn bộ sinh hoạt tinh thần
của dân tộc. Một nền văn học viết bằng chữ Nôm, sản phẩm tất yếu của một
quá trình Việt hóa Hán tự, vừa có tính chất dân tộc, vừa có tính chất nhân dân
đang đƣợc xác lập trên cơ sở văn học dân gian, và có ảnh hƣởng trở lại ngày
càng nhiều đến nguồn văn học dân gian ấy.
Nhân dân bao gồm nhiều thành phần mới đã phát triển các sáng tác dân
gian, từ đây sản sinh ra dòng văn học bình dân và tạo ra những luồng giao lƣu
văn hóa rộng rãi, nhờ vậy một nguồn văn hóa bình dân bao gồm cả hai
phƣơng thức truyền miệng và ghi chép bằng chữ Nôm hình thành.
Từ thế XV đến thế kỷ XVII cùng với sự phát triển chữ Nôm thì sự ảnh
sức bình dị, mộc mạc: Ao rau muống, rãnh mồng tơi, bè núc nác. Ông viết:
13
Tả lòng thanh vị núc nác,
Vun đất ải luống mồng tơi
(Ngôn chí – số 9)
Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm thì hay dùng lối nói ẩn dụ, lối nói hình ảnh
của dân gian vào trong thơ mình làm cho câu thơ dễ hiểu, sinh động, gần với
lời ăn tiếng nói của nhân dân:
- Mâm thịt mỡ bùi ruồi muỗi đến
Bát bồ hòn đắng kiến bò chi.
(Thói đời li)
- Tóc đã thƣa răng đã mòn
Việc nhà đã phó mặc dâu con
(Chín mƣơi – bài 29)
- Giàu ba bữa khó hai niêu
Vô sự là hơn hết mọi điều
(Vô đề - 42)
Bên cạnh những sáng tác thơ ca mang hình thức văn học dân gian thì
trong bộ phận văn xuôi giai đoạn này cũng ảnh hƣởng rất rõ từ văn học dân
gian. Từ sƣu tầm, ghi chép truyện dân gian ở thế kỉ X-XIV, đến thế kỉ XV-
XVII, một số tác giả tiêu biểu là Lê Thánh Tông với tác phẩm Thánh Tông di
thảo, Nguyễn Dữ với tác phẩm Truyền kì mạn lục đã vƣơn tới việc dựa vào
những mô típ dân gian mà tạo ra những câu chuyện mới, mang ý nghĩa thời sự
- xã hội. Chẳng hạn từ mô típ “ngƣời lấy vợ (hoặc chồng) kì dị”, Lê Thánh
Tông và Nguyễn Dữ đã tạo dựng ra hàng loạt câu chuyện mang ý nghĩa xã hội
khác nhau, nhƣ truyện Chồng dê, Tinh chuột, Duyên lạ xứ Hoa, Chuyện lạ
nhà thuyền chài, Từ Thức lấy vợ tiên, Cây gạo, Yêu quái Xương Giang, Cuộc
kì ngộ ở trại Tây, Cuộc đối tụng ở Long cung…Đó là quá trình văn học hóa
truyện dân gian, chuyển từ sáng tác dân gian sang sáng tác văn học viết.
15
dao”, “ngứa ghẻ hờn ghen”, “tai vách mạch rừng”…(thành ngữ). Vốn văn
học dân gian đƣợc Nguyễn Du đƣa vào “Truyện Kiều” vô cùng phong phú và
có ý nghĩa rất lớn trong việc chuyển tải nội dung tƣ tƣởng của tác phẩm.
Hay trong sáng tác của Hồ Xuân Hƣơng bà cũng có sự vận dụng những
chất liệu dân gian vào trong thơ Nôm nhƣ:
Thân em nhƣ quả mít trên cây
Vỏ nó xù xì múi nó dày
(Quả mít)
Ở đây chúng ta có thể thấy Hồ Xuân Hƣơng đã vận dụng phƣơng thức
so sánh là một trong những phƣơng thức thể hiện đặc thù của ca dao, chúng ta
bắt gặp nhiều câu ca dao có
Ví dụ:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,
Nhƣ đứng đống lửa nhƣ ngồi đống than.
Dù ai nói ngả nói nghiêng,
Lòng ta vẫn vững nhƣ kiềng ba chân.
Ngoài việc vận dụng phƣơng thức so sánh nhƣ trên Hồ Xuân Hƣơng
còn mƣợn ý ca dao để thể hiện thái độ của bản thân.
Cầm bằng làm mƣớn, mƣớn không công
(Lấy chồng chung)
Lấy ý từ câu ca dao:
Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy, đi cày, chị chẳng kể công
Yếu tố dân gian trong thơ Hồ Xuân Hƣơng không chỉ thể hiện ở mặt
ngôn ngữ mà còn thể hiện ở đề tài nhƣ đề tài về ngƣời phụ nữ, đề tài về nhà
chùa, đề tài về ngƣời có học hay đề tài phong tục, sinh hoạt dân gian.
16
gian tựa nhƣ một dòng chảy trong lành, tƣơi mát nuôi dƣỡng cho nền văn học
viết và trong quá trình tích luỹ, văn học viết tuyệt nhiên không đứng ở vị trí
học trò trong quan hệ với folklore. Vay mƣợn folklore những phƣơng tiện
diễn tả khác nhau, văn học viết không chỉ chuyển ngay chúng vào bình diện
sáng tác cá nhân mà bằng chính cách đó sáng tạo một truyền thống đích thực
văn học. 18
CHƢƠNG 2: YẾU TỐ DÂN GIAN
TRONG THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN
2.1. Thống kê, phân loại
Với đề tài này ngƣời viết khảo sát thơ Nôm của Nguyễn Khuyến trong
cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến Xuân Diệu giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội,
năm 1971 với 87 bài thơ. Qua khảo sát tôi thấy yếu tố dân gian trong thơ Nôm
Nguyễn Khuyến đƣợc thể hiện thông qua các yếu tố sau:
Tổng số
bài thơ
Yếu tố dân gian thể
hiện qua đề tài
Yếu tố dân gian thể
hiện qua hình tƣợng
nghệ thuật
Yếu tố dân gian thể
hiện qua ngôn ngữ
thiên nhiên thôn quê, về cuộc sống sinh hoạt của ngƣời dân quê. Không chỉ có
đề tài mà tính dân gian còn đƣợc thể hiện ở ngôn ngữ nghệ thuật và hình
tƣợng nghệ thuật. Chúng ta đi vào phân tích từng yếu tố để thấy một cách cụ
thể hơn về chất dân gian trong thơ Nôm của vị Tam nguyên Yên Đổ.
19
2.2. Sự thể hiện yếu tố dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến
2.2.1. Yếu tố dân gian qua đề tài
2.2.1.1. Phong cảnh thiên nhiên
Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm.
Trong thơ Nôm của ông chúng ta có thể thấy có sự tham gia của các yếu tố
dân gian làm cho thơ Nôm của ông trở nên chân thực, sinh động. Yếu tố dân
gian thể hiện trƣớc nhất là qua đề tài về phong cảnh thiên nhiên.
Nếu nhƣ các nhà thơ xƣa thƣờng tìm cảm hứng trong cảnh vật Trung
Hoa, nhƣ sông Xích Bích, hồ Động Đình, bến Tầm Dƣơng, sông Tiêu Tƣơng,
bến Phong Kiều…Thì trong các thi phẩm của Nguyễn Khuyến tuyệt nhiên
không thấy có các cảnh Trung Hoa, hay các cảnh xây dựng theo tƣởng tƣợng,
mà là những cảnh thƣờng ngày quen thuộc của nông thôn Việt Nam. Trong
các bài thơ Nôm vịnh thu phải kể đến 3 bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, ba
bài thơ mang đƣợc nét đặc sắc của khung cảnh nông thôn Việt Nam. Đƣợc
nhớ, thuộc và truyền tụng, vì là ba bài thơ hay và điển hình nhất cho mùa thu
của Việt Nam, ở miền Bắc nƣớc ta, chứ không ở nƣớc nào khác. Tiêu biểu
hơn cả là bài thơ : Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nƣớc trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trƣớc gió khẽ đƣa vèo
Tầng mây lơ lủng trời xanh biếc
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối ôm cần lâu chẳng đƣợc
Nƣớc biếc trông chừng nhƣ khói phủ
Song thƣa để mặc bóng trăng vào
Mấy chùm trƣớc giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nƣớc nào?