Yếu tố dân gian trong thơ nôm hồ xuân hương - Pdf 35

1

LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của cô Vũ Thị Thịnh em đã thực hiện đề tài khóa luận:
Yếu tố dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô
Vũ Thị Thịnh đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết khóa luận tốt
nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Giáo dục Trung học
cơ sở trường Cao đẳng sư phạm Bắc Ninh đã tận tình truyền đạt kiến thức trong
những năm em học tập. Vốn kiến thức tiếp thu trong quá trình học không chỉ là
nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để
em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Em xin cảm ơn thây cô trong Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Sư phạm
Bắc Ninh đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em có thể viết và hoàn thành
khóa luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành khóa luận một cách hoàn
chỉnh nhất nhưng do còn hạn chế về kiến thức lẫn kinh nghiệm nên em không
thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Em rất
mong nhận được sự góp ý của quý thầy giáo, cô giáo để khóa luận được hoàn
chỉnh hơn.
Em xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp cao quý!
Bắc Ninh, ngày

tháng

năm 2016.

Sinh viên thực hiện



2.1. Đề tài dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.................................12
2.1.1. Đề tài người "có học"...................................................................................................................................12
2.1.2. Đề tài về nhà chùa.......................................................................................................................................15
2.1.3. Đề tài người phụ nữ.....................................................................................................................................17
2.1.4. Đề tài về phong tục, sinh hoạt dân gian.......................................................................................................23
2.2.1. Mô típ hình tượng từ văn học dân gian, văn hoá dân gian...........................................................................30
2.2.2. Mô típ hình tượng mang tính phồn thực.....................................................................................................37

2.3. Ngôn ngữ văn hóa dân gian trong thơ Nôms Hồ Xuân Hương............41
2.3.2. Ngôn ngữ đời sống......................................................................................................................................46
2.3.2.1. Cách nói lái..........................................................................................................................................46
2.3.2.2. Từ tục, tiếng chửi................................................................................................................................48
2.3.2.3. Khẩu ngữ............................................................................................................................................49

KẾT LUẬN..................................................................................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................................... 56


3

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hồ Xuân Hương là một tác giả lớn của nền văn học trung đại Việt Nam.
Sáng tác của bà đã góp hương sắc, làm phong phú cho vườn hoa văn học. Người
ta đã từng biết đến một Xuân Hương - "Bà Chúa thơ Nôm" với những vần thơ
như muốn đào xới, lật tung khuôn khổ của thơ ca cũng như của xã hội phong
kiến. Và người ta đã từng thừa nhận sức sống lâu bền trong các tác phẩm của bà
trong lòng công chúng không chỉ bởi do sách vở mà còn do nó sống trong đời
sống sinh hoạt hàng ngày. Từ những người trí thức đến những người bình dân đều

biểu tượng liên quan đến các bộ phận của cơ quan sinh sản, hành vi tính giao,
thân thể phụ nữ... Tác giả chứng minh sự gắn bó mật thiết giữa biểu tượng trong
thơ Hồ Xuân Hương với những biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực trong dân
gian. Sự trở về với những biểu tượng phồn thực cổ xưa và dân gian trong thơ Bà
Chúa thơ Nôm cho thấy: "Bà là người rất yêu sự sống". Bên cạnh những biểu
tượng gốc, Đỗ Lai Thuý phát hiện trong thơ Hồ Xuân Hương còn có những biểu
tượng phái sinh. Đó là sáng tạo riêng của nhà thơ, tạo nên phong cách độc đáo
của nữ sĩ.
Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về một số vấn đề trong thơ Hồ Xuân Hương,
giáo sư Lê Trí Viễn trong bài Đôi điều về thơ Hồ Xuân Hương đã đề cập đến cái
tục trong thơ bà và lí giải nó dưới nhãn quan văn hoá dân gian. Tác giả cho rằng:
"Hồ Xuân Hương đã tiếp nhận từ những sinh hoạt hội hè mang đậm nét dân gian
một ảnh hưởng thật sâu sắc. Thơ Hồ Xuân Hương phần đó (ý nói phần chứa
đựng yếu tố tục) là sự đột nhập của nền văn hoá dân gian Việt Nam thời trung cổ
không được thừa nhận vào lĩnh vực nghệ thuật thơ ca cao cấp. Như vậy thì
không có cái gì gọi là tục như ta quan niệm nữa. Nó chính là sự sống gốc nguồn
và cuộc sống trần tục. Nhìn thân thể người phụ nữ mà thành "đèo Ba Dội", nhìn


5
cái riêng của phụ nữ thành "cái quạt", "cái giếng", "hang Cắc Cớ" thì đó là "vật
chất xác thịt được khuyếch đại đến mức khổng lồ" tựa thần thoại về nòi giống
như Ông Đùng Bà Đà, Tứ Tượng, Nữ Oa mà thôi, bởi đó là hình ảnh của tập thể
nhân dân luôn luôn phát triển và luôn luôn đổi mới." [5, tr.31].
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố dân gian in đậm
trong nội dung thơ Hồ Xuân Hương. Nhưng quan trọng hơn là họ đã phát hiện ra
sự kế thừa và sáng tạo độc đáo riêng của nữ sĩ trong quá trình tiếp thu và phát
triển. Chính điều này đã làm nên phong cách nghệ thuật của Bà Chúa thơ Nôm.
Nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương đã được rất nhiều nhà nghiên cứu dày
công tìm hiểu. Trong quá trình đó họ đều thừa nhận nghệ thuật thơ bà thấm đẫm


9

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Khái niệm yếu tố dân gian
1.1.1. Khái niệm văn hóa dân gian
Từ điển văn hóa dân gian đưa ra định nghĩa về văn hóa dân gian như sau:
"Theo đúng nghĩa văn hoá dân gian là nền văn hoá của dân chúng. Văn hoá này
bao gồm cả văn hoá về vật chất và văn hoá về tinh thần. Thuật ngữ quốc tế chính
xác nhất mang nghĩa văn hoá dân gian là “folklore”. Văn hoá dân gian là nền
tảng của văn hoá dân tộc.
Như vậy theo định nghĩa trên, văn hoá dân gian bao gồm cả văn hoá vật
thể và phi vật thể được quần chúng nhân dân sáng tác và lưu truyền.
1.1.2. Khái niệm văn học dân gian
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả định nghĩa: "Văn học
dân gian còn gọi là văn chương (hay văn học) bình dân, văn chương truyền
miệng hay truyền khẩu là toàn bộ những sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân
dân."
Văn học dân gian có nhiều đặc điểm và thuộc tính quan trọng, đáng chú ý
như tính truyền miệng, tính nguyên hợp, tính tập thể, tính vô danh... trong đó
tính truyền miệng được coi là thuộc tính quan trọng nhất, có quan hệ nhiều nhất
với các thuộc tính và đặc điểm khác của văn học dân gian.
Văn học dân gian cùng với văn học viết đã góp phần tạo thành nền văn
học của dân tộc. Có mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và
văn học viết.


10
1.2. Yếu tố dân gian về phương diện nội dung và hình thức

3. Dệt cửi
4. Đánh đu
- Đề tài về nhà chùa:
1. Sư bị ong châm
2. Cái kiếp tu hành
3. Sư hổ mang
4. Chùa Quán Sứ
5. Đề đền Sầm Nghi Đống
- Đề tài về người "có học":
1. Lũ ngẩn ngơ
2. Phường lòi tói


12

CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT
ĐẬM CHẤT DÂN GIAN TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
2.1. Đề tài dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Đề tài là "yếu tố cơ bản của tác phẩm văn học" (Từ điển văn học), là một
phạm vi nhất định của cuộc sống được nghệ sĩ nhận thức và biểu hiện trong tác
phẩm của mình. Trong quá trình sáng tác mỗi nhà văn đều lựa chọn cho mình
những mảng, loại đề tài riêng, qua đó chúng ta có thể hiểu được phong cách, cá
tính sáng tạo của nhà văn.
Đề tài trong thơ Hồ Xuân Hương rất phong phú và đa dạng. Bà viết về
thiên nhiên, về con người, về hiện thực cuộc sống... với một niềm say mê, với
những phát hiện, tiếng nói mới mẻ. Đằng sau mỗi hiện tượng được bà lựa chọn
phản ánh luôn chứa đựng những bức tranh tâm trạng, những gửi gắm riêng tư
của nữ sĩ. Trong giới hạn của luận văn, tôi chỉ tìm hiểu những đề tài chứa đựng
yếu tố dân gian. Như trên đã thống kê, có bốn loại đề tài mà ở đó ta thấy có sự
tiếp nối mạch cảm hứng của văn học và văn hoá dân gian: Đề tài về người phụ

Cũng đòi học nói, nói không nên
Ai về nhắn bảo phường lòi tói
Muốn sống đem vôi quét trả
Trong bức tranh này bọn chúng thật nhếch nhác. Người có học gì mà phải
dắt díu nhau, phải học nói, rồi muốn nói nhưng chẳng lên lời, cứ ấp a, ấp úng
giống như một đàn thằng ngọng đứng xem chuông. Dốt nát lại còn muốn khoe
chữ. Thật đáng nực cười! Xuân Hương đã lớn tiếng bảo với bọn chúng: Muốn
sống đem vôi quét trả đền.
Chỉ bằng hai bài thơ với những chân dung tiêu biểu, bộ mặt của những kẻ
tự xưng là kẻ sĩ, người có học đã hiện ra rõ nét. Ở đây cũng cần hiểu rằng Hồ
Xuân Hương không có ý định chê bai người học dốt mà bà chỉ giễu cợt những kẻ


14
đã dốt nát nhưng lại không chịu học hỏi, hay khoe mẽ mà thôi.
Chân dung của những học trò thì như thế, còn "hiền nhân quân tử" thì
sao? Bằng hai câu kết trong bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày bà đã chụp được cái
khoảnh khắc thể hiện rõ nét nhất bản chất của kẻ quân tử:
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong.
Quân tử là người học sách thánh hiền, tâm hồn và cốt cách thanh cao, vậy
mà trước sự hớ hênh của người con gái với đôi gò Bồng đảo, một lạch Đào
nguyên đã mất hết tư cách, lén lút như một kẻ ăn trộm. Dùng dằng nửa muốn đi
cho khỏi hổ thẹn với cái danh quân tử mà mình đang mang, nửa muốn ở lại vì
bức tranh thân thể quá đẹp và sống động. Đi thì tiếc mà ở thì ngại đâm ra luống
cuống, sợ sệt. Xuân Hương thật tài tình, với cái sự dùng dằng đó, bà đã phơi bày
rõ bộ mặt thật của quân tử, bôi nhọ vào cái danh hão ấy. Thực chất bà không phê
phán việc quân tử kia ngắm nhìn, chiêm ngưỡng cái đẹp (dù cho đó là thân thể
con người), bà chỉ cười cái hành vi lén lút, gợi cho ta nghĩ đến những chuyện xấu
xa của quân tử mà thôi.

chất của những kẻ tu hành này chẳng qua cũng chỉ là một lũ đạo đức giả. Họ
mặc áo cà sa, nhưng lại đi đêm, ăn thịt chó. Chính vì thế dù không ưa, không tán
thành việc xuất giá đi tu nhưng Xuân Hương cũng như các tác giả dân gian
không đả kích nhà chùa, sư tăng một cách chung chung, bà chỉ hướng mũi nhọn
châm biếm vào những kẻ buôn thần bán thánh, mượn danh sư để làm điều xằng
bậy. Thử điểm qua những bài thơ mà Xuân Hương viết về sư sãi, nhà chùa:
Nào nón tu lờ, nào mũ thâm
Đi đâu chẳng đội để ong châm
Đầu sư há phải gì bà cốt
Bá ngọ con ong bé cái nhầm.
(Sư bị ong châm)


16
Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo
Buồm từ cũng muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo.
(Cái kiếp tu hành)
Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta
Đầu thì trọc lốc, áo không tà
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm
Vãi nấp sau lưng sáu bẩy bà
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha
Tu lâu có lẽ lên sư cụ
Ngất nghểu toà sen nọ đó mà.
(Sư hổ mang)
Quán Sứ đâu mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?

Nhảy lên nhảy xuống con ong đốt đồ.
Dưới ống kính của tác giả dân gian những kẻ đội lốt thầy tu thật đáng lên
án. Xuân Hương đã "cảm cách cảm dân gian, nghĩ cách nghĩ dân gian" (ý của
nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na) để rồi từ đó dựng lên trong thơ mình những
hình tượng trào phúng đặc sắc, đem lại cho người đọc những tiếng cười hả hê.
Xuân Hương không chỉ viết về những đối tượng đáng cười với những thói
hư tật xấu của họ mà bà còn có những vần thơ sâu lắng về người phụ nữ - nhân
vật mà nhà thơ luôn yêu thương và bảo vệ.
2.1.3. Đề tài người phụ nữ
Thơ ca dân gian đã dành một vị trí quan trọng để viết về người phụ nữ.
Xuân Hương cũng vậy. Như trên đã thống kê, những bài thơ viết về đề tài này


18
chiếm một tỉ lệ khá cao: (8/48 bài chiếm gần 17%). Điều này đủ nói lên thái độ
và tình cảm mà Xuân Hương dành cho những nhân vật phụ nữ. Có khi Xuân
Hương viết về mình, cũng có khi viết về người nhưng bao giờ cũng toát lên một
tinh thần lạc quan, vui tươi, khoẻ khoắn. Bà tiếp thu đề tài này từ dân gian
nhưng cách bà nhìn nhận, đánh giá về những nhân vật của mình thì khác với các
tác giả dân gian. Ví như khi viết về những người phụ nữ phải chịu cảnh thiệt
thòi lấy chồng chung thơ ca dân gian thường lớn tiếng phê phán người vợ cả:
Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy đi cày chị chẳng kể công
Tối tối chị giữ mất chồng
Chị cho manh chiếu nằm không ngoài hè
Hay:
Người ta đi ở có công
Thân tôi làm lẽ càng trông càng buồn
Hoặc:
Thân em làm lẽ chẳng nề

không thể tìm được hạnh phúc trọn vẹn cho bản thân mình. Xuân Hương kể lại
những nỗi bất hạnh mà người chung chồng phải chịu: Nào là năm thì mười họa
được hay chớ, nào là một tháng chỉ được quan tâm đôi lần, nào là phải làm
mướn không công ... biết bao nhọc nhằn đè nặng lên vai, biết bao tủi hổ mang
nặng trong lòng. Họ chỉ còn biết than vãn và mơ ước:
Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong
Nói vậy nhưng người phụ nữ nào lại không mơ ước có một mái ấm gia
đình, một người chồng và những đứa con. Nên dù biết sẽ khổ, họ vẫn cam chịu và
chấp nhận. Nói lên sự thực nghịch lí này dụng ý của Xuân Hương muốn chĩa mũi
nhọn vào cái xã hội phong kiến cổ hủ và lạc hậu mà thôi.
Cảnh chồng chung đã khổ nhưng cảnh không chồng mà chửa còn tủi hổ
và đau đớn hơn bởi trong hoàn cảnh này người phụ nữ phải chịu những áp lực


20
và hình phạt nặng nề. Xuân Hương rất đồng cảm với những cô gái vì cả nể để
rồi bị rơi vào hoàn cảnh phải cắt tóc, cạo trọc đầu, bôi vôi... đó. Bà như một
người chị mở lòng ra chia sẻ, an ủi, đồng thời cũng như một trạng sư bào chữa
cho lỗi lầm của họ:
Cả nể cho nên sự dở dang
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?
Như vậy nguyên nhân đâu phải do người phụ nữ này lăng loàn, hư hỏng
mà chỉ là do cái tính cả nể mà thôi. Cả nể tức là quá yêu, quá thương. Và như
vậy thì có gì đáng trách lắm đâu? Có trách thì chỉ nên trách người quân tử mà lại
giống như Sở Khanh "rẽ dây cương lối nào". Đứng về phía người phụ nữ, cũng
là đứng về phía sự sống, Hồ Xuân Hương khẳng định:
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Không có, nhưng mà có mới ngoan
Hai câu thơ đã tiếp thu mặt tiến bộ, tiếp thu chủ nghĩa nhân đạo trong

-Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra luống cày.
...
Có cái gì đó thật tội nghiệp trong những câu ca về thân phận con người.
Người phụ nữ ở vị trí khiêm nhường như vậy là vì họ không thể tự quyết định
được số phận và hạnh phúc của mình. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào người
chồng của họ. Xuân Hương thì khác. Bản lĩnh và cá tính của Xuân Hương đã
giúp bà hiểu được vai trò, vị thế của người phụ nữ. Họ không để cho người ta
phải thương hại ngay cả khi rơi vào tình cảnh bi đát nhất là không chồng mà
chửa hay chồng chết... Trong thơ bà những nhân vật phụ nữ bộc lộ rõ cái tôi cá
nhân của mình. Điều này hoàn toàn mới mẻ so với ca dao. Ví như trong bài thơ
Mời trầu bà viết:
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Không phải là "em" hay "thiếp" mà là cách xưng tên riêng thật độc đáo.


22
Có cái gì đó thật mạnh mẽ, táo bạo nhưng cũng thật tinh tế, dịu dàng trong hai
tiếng Xuân Hương. Người được mời chắc sẽ không thể không ấn tượng với cách
mời và sự tự tin đó. Dù cho miếng trầu của nàng chỉ là miếng trầu hôi với một
quả cau nho nhỏ. Không chỉ dũng cảm xưng tên mình, có khi Xuân Hương còn
xưng chị với lũ người "có học" :
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dậy làm thơ
(Lũ ngẩn ngơ)
Chỉ bằng một đại từ xưng hô chị đã cho thấy sự khác nhau về vị trí, trình
độ và thế đứng. Xuân Hương đứng trên cao mà nhìn xuống lũ học trò ngẩn ngơ.
Xưng hô như thế là ý thức hết được tài năng và bản lĩnh của mình. Bà gọi chúng
là lũ, là phường khiến cho chúng trở nên đáng khinh, đáng ghét hơn. Không chỉ

Bà nhìn thấy trong cảnh lao động hay vui chơi một sức sống căng tràn, một niềm
vui phơi phới. Cách nhìn này rất giống với cách nhìn của tác giả dân gian. Ví
như cảnh đánh đu ngày Tết được Xuân Hương khắc hoạ lại:
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Đôi hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không?
(Đánh đu)
Quả là một bức tranh sống động tuyệt mĩ. Nó gợi ra trước mắt người đọc
không khí hội hè với những trò chơi dân gian hết sức hấp dẫn của người dân
vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trên một bãi đất rộng người ta nô nức chơi đu và xem
đu. Sắc màu vui nhộn, trẻ trung từ những bộ trang phục rực rỡ của những nam


24
thanh nữ tú làm cho ngày xuân thêm tươi tắn. Không gian thật khoáng đạt. Đất
trời dào dạt sức xuân, lòng người phơi phới tình xuân. Trai thì du gối hạc, gái thì
uốn lưng ong cùng hoà nhịp vào nhau đẩy cho cây đu lên cao mãi. Xuân Hương
đã khắc hoạ một trò chơi dân gian sống động, với những con người độ tuổi
thanh xuân dạt dào sức trẻ. Ta như được trở về những lễ hội dân gian từ những
vần thơ của nữ sĩ.
Nhân dân Việt Nam ta từ xưa đã có tục ăn trầu. Miếng trầu đề cao tình
nghĩa anh em vợ chồng keo sơn, gắn bó. Đó chính là một nét văn hóa riêng biệt
và tiêu biều. Xuân Hương đã gợi lại nét văn hoá ấy trong bài thơ Mời trầu :
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi

thần lạc quan là điểm hấp dẫn trong thơ nữ sĩ.
Đề tài trong thơ Hồ Xuân Hương thật bình dị. Không phải là tùng, cúc,
trúc, mai hay những gì cao quý mà là những con người, cuộc sống quanh bà. Qua
đó Xuân Hương thể hiện thái độ khen, chê rõ rệt. Bà yêu thương, nâng niu những
con người bất hạnh, đặc biệt là người phụ nữ; bà chế giễu và căm ghét những kẻ
hiền nhân quân tử, sư sãi với thói đạo đức giả và sự ngu dốt. Bà vui say với những
sinh hoạt của người dân cũng như những trò chơi lễ hội vui nhộn của họ. Có sự
gặp gỡ giữa Hồ Xuân Hương với các tác giả dân gian trong cách nhìn, cách cảm,
cách đánh giá. Nhưng cũng có sự khác biệt đó là nơi cá tính và phong cách nhà
thơ được thể hiện rõ nhất.
* Nhận xét:
Qua việc tìm hiểu hệ thống đề tài mang đậm yếu tố dân gian trong thơ Hồ
Xuân Hương tôi rút ra được nhận xét sau:
Bà đã tiếp thu mạch đề tài của thơ ca dân gian, nhất là ở mảng đề tài trào
phúng. Đối tượng bà châm biếm đả kích là những kẻ đã vốn dĩ rất quen thuộc
trong thơ ca dân gian như: quan lại, kẻ sĩ và nhà chùa. Ở Xuân Hương đặc biệt
chế giễu lũ sư hổ mang. Tác giả đã có những cái nhìn và phát hiện mới mẻ về
những đối tượng mà mình phản ánh. Bà đứng về phía nhân dân nên cái nhìn và
lập trường của bà cũng mang tính nhân dân đậm nét. Bà viết về những gì mắt
thấy, tai nghe quanh mình bằng một cảm quan hồn nhiên, sinh động. Điều này
khác hẳn với các tác gia văn học trung đại cùng thời với họ. Nếu như những tác



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status