THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG DƯỚI GÓC NHÌN VĂN BẢN - Pdf 18

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương - Từ góc nhìn văn bản học
GS.TS. Kiều Thu Hoạch
Viện Nghiên cứu Văn hóa
“Những kết luận thu được do kết quả nghiên cứu văn bản nhiều khi đã lật nhào những lập
luận thông minh nhất của các nhà nghiên cứu văn học” (Đ.X. Likhatsôp).

Quả có như vậy, bởi trong thực tiễn thì công tác nghiên cứu văn bản bao giờ cũng phải là
tiền đề của công tác nghiên cứu văn học. Lấy ngay việc nghiên cứu văn bản thơ Nôm Hồ
Xuân Hương mà nói; nếu người nghiên cứu không đọc được chữ Nôm, không am tường
lý thuyết văn bản học (textologie), thì làm sao có thể tuyển chọn được những bài thơ khả
dĩ coi là thơ Nôm Hồ Xuân Hương, trong bộn bề những bản viết tay (manuscrit) hoặc
những bản sao (facsimile) đang nằm tản mát trong kho sách Hán Nôm. Mà đâu chỉ giỏi
chữ Nôm, chỉ nắm vững lý thuyết văn bản học là đủ làm nghề nghiên cứu thơ văn Hán-
Nôm. Với một bài thơ Nôm Hồ Xuân Hương chẳng hạn, nếu không hiểu từ Việt cổ,
không nắm vững điển cố văn học Hán, không có tri thức văn hóa-lịch sử dân tộc sâu
rộng thì làm sao có thể chú thích, chú giải chính xác. Mà đã không phiên âm đúng,
không chú giải đúng thì nói gì đến việc bình giảng văn học đúng với cái hay cái đẹp của
bài thơ

Gần đây, xuất hiện công trình Hồ Xuân Hương, con người - tư tưởng - tác phẩm của
Hoàng Bích Ngọc (Nxb Văn hóa - Thông tin, H, 2003, 748 trang); được đánh giá “là
công trình nghiên cứu đồ sộ công phu trước Hoàng Bích Ngọc chưa ai làm được đầy
đủ, nghiêm túc như thế” (Hồ Sĩ Giàng). Vậy người viết xin lấy ngay công trình hoành
tráng này như một lệ chứng để tiện trao đổi về lĩnh vực văn bản học thơ Nôm Hồ Xuân
Hương.

Trước hết, xin nói ngay, trong bài viết này người viết chỉ bàn về vấn đề văn bản thơ Nôm
Hồ Xuân Hương, mà không bàn về các vấn đề khác như thơ chữ Hán, tiểu sử, v.v
Trong công trình của mình, Hoàng Bích Ngọc có nêu các tài liệu trích dẫn để tuyển chọn
thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương như sau:



Nếu chúng tôi không lầm, thì Hoàng Bích Ngọc chưa từng tiếp xúc trực tiếp với Bản
khắc 1921, mà chỉ lấy theo tư liệu của GS. Nhan Bảo (Những phát hiện mới về Hồ Xuân
Hương, NXB. KHXH, H, 2000). Khi photo, Hoàng Bích Ngọc đã che hoặc xóa chữ B ở
dưới cột chữ Hán Xuân Hương thi tập, nhưng với con mắt nhà nghề thì vẫn thấy được đó
là bản mà ông Nhan Bảo đem từ Pháp về, bởi ở Việt Nam hiện không có bản này. Lý do
đơn giản nữa là chỉ cần nhìn tự dạng là thấy khác nhau hẳn. Hơn nữa bản của sách Nhan
Bảo, lật tờ bìa trong có ghi rõ: Bảo Đại Canh Ngọ niên tân san. Còn bản của Viện
Nghiên cứu Hán Nôm, chữ “Xuân Hương thi tập” ở cột giữa, bên tả có cột chữ Phúc Văn
Đường tàng bản, bên hữu có cột chữ Phụ: Danh gia ca vịnh, và trên cùng trang giấy có
dòng chữ in ngang: Long phi Tân dậu Xuân tân san. Đó là những yếu tố văn bản mà
người nghiên cứu văn bản học không thể bỏ qua khi xem xét một văn bản cụ thể.

3- Quốc âm thi tuyển. Bản khắc ván năm 1914 (và 1909) (gọi tắt: Khắc ván 1914 và Khắc
ván 1909).

Theo giới thiệu của tác giả Hoàng Bích Ngọc thì bản này hiện có ở Thư viện Hán Nôm,
bản khắc có kèm theo phiên âm ra chữ Quốc ngữ, gồm 39 bài. Hoàng Bích Ngọc còn cho
biết ông Hoàng Xuân Hãn cũng có bản này, nhưng số trang ít hơn, gồm 27 bài Sau khi
miêu tả tờ bìa Bản khắc ván 1914, theo miêu tả của Hoàng Xuân Hãn, tác giả Hoàng Bích
Ngọc kết luận: “Như vậy, trang đầu của cuốn in khắc ván mà Hoàng Xuân Hãn có, giống
như trang đầu của Bản khắc ván 1914 có trong Thư viện Hán Nôm (bản chụp hình ở
trên); nội dung 29 bài đầu cũng giống hệt nhau (và giống Bản khắc ván 1909), và số
lượng bài của bản khắc ván mà Hoàng Xuân Hãn có ít hơn so với bản khắc ván trong Thư
viện Hán Nôm là 10 bài (10 bài cuối)” (Sđd, tr.249).

Đọc qua đoạn văn giới thiệu văn bản Bản khắc ván 1914 hiện đang được lưu trữ ở Thư
viện Hán Nôm, cùng với những thông tin về nội dung văn bản như: có kèm theo phiên
âm ra chữ Quốc ngữ gồm 39 bài, rồi cả bản chụp hình trang bìa, người đọc nói chung
chắc sẽ vô cùng tin tưởng vào sự nghiêm túc của quy trình khảo sát văn bản thơ Nôm Hồ

Cám sưu tầm ở Nghệ An.

- Contes Tjames (Truyện cổ tích Chăm) in tại Saigon, 1887

Nhưng việc Landes thuê chép thơ Nôm Hồ Xuân Hương thì chưa thấy có tài liệu nào cho
biết. Thiết nghĩ đây là việc của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp (École Française d’Extrême
- Orient) đâu phải việc của A. Landes. Không rõ ông Hoàng Xuân Hãn căn cứ vào tài liệu
nào mà cho biết như vậy? Bởi giả dụ A. Landes nếu có làm việc đó thực, thì Hoàng Xuân
Hãn (1908-1996) cũng không thể được chứng kiến, vì A. Landes đã chết đuối ở sông Sài
Gòn từ ngày 23/2/1893. Vậy thông tin của ông Hoàng Xuân Hãn về cái gọi là “Di cảo
Landes” thật khó tin. Mà đọc kỹ lại ý kiến của ông về Di cảo này thì toàn là ngôn từ giả
định: “Chắc là trong thời kỳ này y - tức Landes - thuê một người Việt tên Lê Quý góp thi
văn Nôm, rồi chép vào giấy lệnh ” (Sách của Hoàng Bích Ngọc, tr.251). Hoặc “Cũng có
thể, khi Landes chưa ra Bắc, y đã tổ chức sự sao chép này rồi” (Sđd, tr.251). Rõ ràng đó
chỉ là những lời phỏng đoán của Hoàng Xuân Hãn, làm sao có đủ chứng lý để tin được
cái gọi là “Di cảo Landes” như một nguồn văn bản được chép sớm nhất về thơ Nôm Hồ
Xuân Hương.

Ấy vậy mà tác giả Hoàng Bích Ngọc, vốn là một nhà khoa học tự nhiên, thích bàn về tính
khoa học, tính logic trong thơ Hồ Xuân Hương, lại có thể nhắm mắt tin theo không hề
băn khoăn gì về cái gọi là “Di cảo Landes”. Kể cũng lạ!

5- Giai nhân di mặc của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, 1916.

Theo Hoàng Bích Ngọc, đây là cuốn sách Quốc ngữ ra đời sau cuốn Xuân Lan 1913. Nội
dung đã dẫn giải, tiểu thuyết hóa và tuyển chọn được 47 bài thơ Hồ Xuân Hương. Cũng
theo tác giả thì đây là cuốn sách đã chi phối rất cơ bản việc nghiên cứu, tuyển chọn thơ
Hồ Xuân Hương trong suốt thế kỷ XX.

6- Văn đàn bảo giám 1932 (in lần thứ ba) kèm theo danh mục 51 bài Không thấy

tại sao Maurice Durand, một học giả Pháp làm việc tại Viện Viễn Đông bác cổ Pháp
(1947-57), mà trong công trình L’œuvre de la poétesse Vietnamienne Hồ Xuân Hương
(Paris, 1968) - Tác phẩm của nữ thi sĩ Việt Nam Hồ Xuân Hương, lại không hề biết gì
đến “Di cảo Landes”. M. Durand đọc chữ Nôm khá tốt (cũng có những chữ đọc chưa
chuẩn), ông đã dịch thơ Nôm Hồ Xuân Hương ra tiếng Pháp, có khảo dị, chú thích
nghiêm túc, nhưng chỉ lấy bản Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập (AB.398) làm
bản nền (texte de base), và tham chiếu thêm các dị bản (variantes) của các bản Quốc văn
tùng ký (AB.383), Liệt truyện thi ngâm (AB.147) theo đúng phương pháp biên khảo
văn bản học. Qua đây, chúng tôi càng thấy cái gọi là “Di cảo Landes” chỉ là sự phỏng
đoán thiếu chứng tích lịch sử, và do đó không đáng tin cậy. Chúng tôi cũng đã thấy tài
liệu Nam âm thi tập (trong đó chép thơ Nôm Hồ Xuân Hương), trang bìa có ghi “Lê Quý
phụng tả” (Lê Quý vâng mệnh chép), nhưng không ghi rõ là vâng mệnh ai, và cũng
không ghi năm tháng sao chép. Đây là tài liệu do GS. Nhan Bảo sao chụp từ Thư viện
Viện Viễn Đông bác cổ Pháp tại Paris (Sđd). Và cái tên Lê Quý cũng chính là tên người
Việt được ông Hoàng Xuân Hãn đoán là người đã chép thuê tài liệu cho A. Landes. Chỉ
đáng tiếc là ông Hoàng Xuân Hãn khi nói về chuyện sao chép này lại không sao chụp văn
bản Nôm kèm theo, nên rốt cuộc cái gọi là “Di cảo Landes” do ông đặt ra vẫn hoàn toàn
mơ hồ, không có cơ sở gì để chứng tỏ đó là tài liệu chép thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã có
từ năm 1892.

Tóm lại, cách tuyển chọn thơ Nôm Hồ Xuân Hương của Hoàng Bích Ngọc là cách làm
nửa vời. Thực tế, không khác gì cách làm của những tác giả đi trước, nghĩa là vẫn lấy
những văn bản chữ Quốc ngữ để tuyển chọn thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Có lẽ sức hấp
dẫn của Bà Chúa thơ Nôm đã làm lu mờ cái tư duy lý tính của nhiều người, nên họ đã
quên mất một điều sơ đẳng nhất, đó là Hồ Xuân Hương làm thơ bằng chữ Nôm được ghi
lại bằng văn bản Nôm chứ không phải làm thơ bằng chữ Quốc ngữ. Và như thế, người
thưởng thức, người nghiên cứu văn học có thể đọc qua bản “chuyển ngữ”, bản “phiên
âm”; nhưng người tuyển chọn văn bản thì nhất thiết phải biết chữ Nôm và phải khảo sát,
tìm tòi từ nguyên bản chữ Nôm.


trong sách Đăng khoa lục sưu giảng của Trần Tiến (ký hiệu A.224), chép lại vào niên
hiệu Tự Đức 14, Tân Dậu (1861), ở phần Phụ lục có ghi bài thơ Nôm cùng lời dẫn chữ
Hán như sau: “Hà Nội tỉnh, nữ tử Xuân Hương hành lộ thất túc, thường lộ, tự vịnh” (Cô
Xuân Hương ở tỉnh Hà Nội, đi đường sẩy chân ngã tốc váy, tự vịnh thơ).
Vén đám mây lên tỏ mặt trời
Lác coi từng đám rõ từng nơi
Giang sơn đâu đó nhô đầu dậy
Hoa cỏ quen hơi mỉm miệng cười
Ông Trần Thanh Mại rất thích thú bài này và nhận xét: “Bài thơ sinh động thật, ma quái
thật, Hồ Xuân Hương thật!” (Trần Thanh Mại: Tình hình nghiên cứu Hồ Xuân Hương và
vài ý kiến về việc đánh giá những thơ lâu nay được coi là của Bà - Báo cáo chuyên đề
trình bày tháng 9 năm 1961, tài liệu in ronéo của Viện Văn học). Tuy cùng là thơ chữa
thẹn khi bị ngã, nhưng bài Tức cảnh vũ hậu chỉ là cái bóng méo mó của bài chép trong
Đăng khoa lục sưu giảng. Một bài sang trọng và một bài quê mùa khác nhau hẳn. Có lẽ
chúng tôi khỏi phải bình luận gì thêm. Vả lại khuôn khổ bài viết cũng không cho phép
nói dài dòng.

Về bài Vịnh chơi chùa. Đây là bài thơ trong Bản khắc ván 1914. Đặc điểm chung của loại
văn bản này là ở trên in chữ Nôm, ở dưới in phần phiên âm Quốc ngữ. Nhưng do trình độ
của người phiên âm, nên thường có những chữ đọc sai, chưa kể nhiều chữ sai cả chính tả,
nên với những người không biết Hán Nôm thì khó tránh khỏi rơi vào những cái bẫy ngôn
ngữ nếu chỉ đọc phần Quốc ngữ. Với bài này, Hoàng Bích Ngọc cũng bình giảng dài cả
hai trang sách (tr.270-271). Chúng tôi miễn bàn luận với tác giả, mà chỉ muốn nói về một
chữ do phiên âm sai, lại không có chú giải, nên đã khiến Hoàng Bích Ngọc bị sập bẫy
ngôn từ. Đó là chữ tử trong câu cuối: “Nhà sư ướm hỏi nhà sư tử”. Chữ tử nghĩa là con,
nhưng âm Hán cũng đọc là tí (trong tí, sửu, dần, mão ). Ở đây, nhà thơ đã dụng ý chơi
chữ theo lối song quan ngữ (mot équivoque): “Nhà sư ướm hỏi nhà sư tí” - nghĩa là hỏi
một tí thôi, nhưng cũng còn hàm ý hỏi về con cái của nhà sư (theo nghĩa của chữ tử).
Hoàng Bích Ngọc do không hiểu chỗ lắt léo này, nên đã “tán” rằng: Những “nhà sư tử”
này là những kẻ lợi dụng chùa làm nơi sinh sống và làm những việc khác nữa (tr.271).

cục. Cuối cùng, không thể không nói, đó là xuất xứ của bài thơ. Đây vốn là một giai thoại
lịch sử-văn học, được chép trong sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề, soạn năm
Cảnh Hưng 16 (1755), nói về cậu học trò Lương Hữu Khánh thời Lê Trung Hưng, nhân
khi qua đò gặp đám sư đi cúng chay về, Khánh đói muốn ăn oản, có nhà sư già bảo họa
thơ “Nho tăng đồng chu” (Học trò và sư cùng qua đò) thì sẽ cho oản, Khánh bèn làm luôn
bài thơ bằng chữ Hán: Nang trung kinh sử kiệp Kim Cương/ Ngã nhĩ kim đồng phiếm
nhất hàng Văn đàn bảo giám có in bài thơ này, song chỉ có lời dịch thơ Quốc ngữ,
không dẫn xuất xứ, nhan đề Cùng sang chuyến đò, có lời dẫn về Lương Hữu Khánh. Khi
soạn cuốn Giai thoại văn học Việt Nam (NXB. Văn học, 1965) chúng tôi cũng có kể
chuyện về bài thơ này. Bộ Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (NXB. Thế giới, 1997)
cũng có in bài thơ này cùng với câu chuyện về Lương Hữu Khánh Như vậy, khi khảo
sát lịch sử văn bản thì phải đọc rộng, không thể chỉ đọc một số văn bản có ghi tên Hồ
Xuân Hương. Và đương nhiên, nếu có tri thức về văn học trung đại như vừa dẫn thì sẽ
biết ngay bản Xuân Lan đã lấy bừa một bản dịch thơ chữ Hán của Lương Hữu Khánh để
mạo nhận là thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Đồng thời cũng sẽ hiểu rõ thực chất của bản
Phúc Văn Đường 1930 so với bản Phúc Văn Đường 1921.

Sau đây chúng tôi muốn bàn thêm về một số lỗi văn bản học thể hiện ở hai mặt, hoặc là
đọc sai âm Nôm, hoặc là hiểu sai ngữ nghĩa văn bản.

Trường hợp bài Đề núi Lã Vọng II (tr.294-296). Câu 2 được ghi: Biếng đường danh lợi
chẳng bòn xu (Theo Xuân Lan 1914). Người viết bài này sẽ không bàn về lời tán dông
dài nào Xuân Hương là người có chí lớn, lấy lợi ích của non sông đất nước làm mục đích
sống (tr.295), nào Xuân Hương là người có kiến thức uyên bác (tr.296). Ở đây, chúng
tôi chỉ nói về một lỗi đọc sai của bản Xuân Lan, đó là hai chữ “bòn xu”. Đối chiếu với
nguyên văn Nôm ở bản Phúc Văn Đường 1930, thì hóa ra đó là hai chữ “bôn xu”, nghĩa
cũng như “bôn tẩu” mà nay ta thường nói: chạy đôn chạy đáo.

Trường hợp bài Thăng Long hoài cổ, cũng dẫn theo bản Xuân Lan 1913, có câu: Kinh
thành ngày trước tiếng bây giờ. Chúng tôi cũng không bàn về lời bình tán của Hoàng

tôi là bàn về vấn đề văn bản học chứ không nhằm phê bình cuốn sách của tác giả Hoàng
Bích Ngọc - công trình này do đó chỉ là cái cớ để chúng tôi bày tỏ quan điểm của mình
mà thôi.

Qua phần tuyển chọn thơ Nôm truyền tụng của công trình cho thấy, Hoàng Bích Ngọc
cũng vẫn chưa có gì vượt khỏi quỹ đạo của các tác giả đi trước về tuyển chọn thơ Nôm
Hồ Xuân Hương. Chúng ta đều biết, Hồ Xuân Hương là nhà thơ sáng tác bằng chữ Nôm,
do đó, không thể lấy thơ Quốc ngữ - những bản phiên âm không rõ xuất xứ, chưa kể đến
lỗi phiên âm sai, rồi không khảo dị, không chú thích như các bản Xuân Lan, Giai nhân
di mặc, Văn đàn bảo giám, v.v để tuyển chọn văn bản. Mà tuyển chọn rồi thì cũng
không khảo dị, không nghiên cứu lịch sử văn bản, không chú thích từ cổ, điển cố là
những khâu hết sức thiết yếu của công tác văn bản học. Theo Đào Thái Tôn trong Hồ
Xuân Hương, tiểu sử, văn bản, tiến trình huyền thoại dân gian hóa (NXB. Hội Nhà văn,
1999) cùng với sự tra cứu riêng của chúng tôi, thì cho đến hiện tại, dù đã mất mát ít
nhiều, văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong kho sách Hán Nôm cũng còn được 3 bản
khắc ván in và nhiều bản chép tay, tổng cộng khoảng trên dưới 20 văn bản Nôm có thể
làm cơ sở tư liệu cho việc tuyển chọn thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Nếu xét về niên đại thì
chúng ta vẫn còn bản 1909, thậm chí có khả năng đang còn cả bản Minh Mệnh (1820-
1840). Như vậy, so với bản Quốc ngữ Xuân Lan 1913 thì các văn bản Nôm vẫn là những
tài liệu gốc có giá trị để chúng ta khảo cứu lịch sử văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương.

Công trình của Hoàng Bích Ngọc không làm được việc tuyển chọn thơ Nôm Hồ Xuân
Hương từ các văn bản Nôm gốc do hạn chế về trình độ Hán-Nôm. Công trình của Đào
Thái Tôn cũng chưa làm được việc này, bởi thực chất sách của tác giả vốn chỉ là một luận
án PTS được chuyển hóa thành sách để xuất bản. Hơn nữa, trọng tâm của bản luận án ấy
là nhằm biện giải về “tiến trình huyền thoại dân gian hóa tiểu sử và thơ ca Hồ Xuân
Hương” (Sđd, tr.10) chứ không đặt trọng tâm vào việc khảo cứu văn bản thơ Nôm Hồ
Xuân Hương. Chính vì vậy mà phần tuyển chọn “Thơ Nôm truyền tụng” của tác giả cũng
để lộ những hạn chế nhất định về mặt văn bản học.


Xuân Hương theo đúng quy trình văn bản học chắc chắn sẽ giúp chúng ta nhận thức
chính xác hơn về cá tính sáng tạo của Bà Chúa thơ Nôm./.

______________

(1) Đ.X. Likhatsốp: Văn bản học giản lược, Nxb. Khoa học, Matxcơva - Lêningrad, 1964, Lê Xuân Vĩnh dịch, Tư liệu Viện Nghiên cứu Hán
Nôm.
(2) Nhàn Vân Đình biên tập: Hồ Xuân Hương khảo tài liệu, ký hiệu VHb.320, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(3) Một số văn bản Nôm khắc in và chép tay về thơ Nôm Hồ Xuân Hương, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. (Xem Di sản Hán Nôm
Việt Nam - Thư mục đề yếu, Nxb. KHXH, H, 1993).
(4) Trần Thanh Mại: Tình hình nghiên cứu Hồ Xuân Hương và vài ý kiến về việc đánh giá những thơ lâu nay được coi là của Bà. Tài liệu in
ronéo, tháng 9-1962, Viện Văn học.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status