Gián án Tho Nôm Hồ Xuân Hương - Pdf 82

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương Từ góc nhìn văn bản học
GS.TS. Kiều Thu Hoạch
Viện Nghiên cứu Văn hóa
“Những kết luận thu được do kết quả nghiên cứu văn bản nhiều khi đã lật nhào những lập luận
thông minh nhất của các nhà nghiên cứu văn học” (Đ.X. Likhatsôp).

Quả có như vậy, bởi trong thực tiễn thì công tác nghiên cứu văn bản bao giờ cũng phải là tiền đề
của công tác nghiên cứu văn học. Lấy ngay việc nghiên cứu văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương
mà nói; nếu người nghiên cứu không đọc được chữ Nôm, không am tường lý thuyết văn bản
học (textologie), thì làm sao có thể tuyển chọn được những bài thơ khả dĩ coi là thơ Nôm Hồ
Xuân Hương, trong bộn bề những bản viết tay (manuscrit) hoặc những bản sao (facsimile) đang
nằm tản mát trong kho sách Hán Nôm. Mà đâu chỉ giỏi chữ Nôm, chỉ nắm vững lý thuyết văn
bản học là đủ làm nghề nghiên cứu thơ văn Hán-Nôm. Với một bài thơ Nôm Hồ Xuân Hương
chẳng hạn, nếu không hiểu từ Việt cổ, không nắm vững điển cố văn học Hán, không có tri thức
văn hóa-lịch sử dân tộc sâu rộng... thì làm sao có thể chú thích, chú giải chính xác. Mà đã không
phiên âm đúng, không chú giải đúng thì nói gì đến việc bình giảng văn học đúng với cái hay cái
đẹp của bài thơ...

Gần đây, xuất hiện công trình Hồ Xuân Hương, con người - tư tưởng - tác phẩm của Hoàng
Bích Ngọc (Nxb Văn hóa - Thông tin, H, 2003, 748 trang); được đánh giá “là công trình nghiên
cứu đồ sộ công phu... trước Hoàng Bích Ngọc chưa ai làm được đầy đủ, nghiêm túc như thế”
(Hồ Sĩ Giàng). Vậy người viết xin lấy ngay công trình hoành tráng này như một lệ chứng để
tiện trao đổi về lĩnh vực văn bản học thơ Nôm Hồ Xuân Hương.

Trước hết, xin nói ngay, trong bài viết này người viết chỉ bàn về vấn đề văn bản thơ Nôm Hồ
Xuân Hương, mà không bàn về các vấn đề khác như thơ chữ Hán, tiểu sử, v.v... Trong công
trình của mình, Hoàng Bích Ngọc có nêu các tài liệu trích dẫn để tuyển chọn thơ Nôm truyền
tụng của Hồ Xuân Hương như sau:

1- Hồ Xuân Hương thi tập. Nhà in Xuân Lan 1913 và 1914 (gọi tắt Xuân Lan 1913, Xuân Lan
1914).

Xuân Hương thi tập, nhưng với con mắt nhà nghề thì vẫn thấy được đó là bản mà ông Nhan Bảo
đem từ Pháp về, bởi ở Việt Nam hiện không có bản này. Lý do đơn giản nữa là chỉ cần nhìn tự
dạng là thấy khác nhau hẳn. Hơn nữa bản của sách Nhan Bảo, lật tờ bìa trong có ghi rõ: Bảo
Đại Canh Ngọ niên tân san. Còn bản của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chữ “Xuân Hương thi
tập” ở cột giữa, bên tả có cột chữ Phúc Văn Đường tàng bản, bên hữu có cột chữ Phụ: Danh
gia ca vịnh, và trên cùng trang giấy có dòng chữ in ngang: Long phi Tân dậu Xuân tân san. Đó
là những yếu tố văn bản mà người nghiên cứu văn bản học không thể bỏ qua khi xem xét một
văn bản cụ thể.

3- Quốc âm thi tuyển. Bản khắc ván năm 1914 (và 1909) (gọi tắt: Khắc ván 1914 và Khắc ván
1909).

Theo giới thiệu của tác giả Hoàng Bích Ngọc thì bản này hiện có ở Thư viện Hán Nôm, bản
khắc có kèm theo phiên âm ra chữ Quốc ngữ, gồm 39 bài. Hoàng Bích Ngọc còn cho biết ông
Hoàng Xuân Hãn cũng có bản này, nhưng số trang ít hơn, gồm 27 bài... Sau khi miêu tả tờ bìa
Bản khắc ván 1914, theo miêu tả của Hoàng Xuân Hãn, tác giả Hoàng Bích Ngọc kết luận:
“Như vậy, trang đầu của cuốn in khắc ván mà Hoàng Xuân Hãn có, giống như trang đầu của
Bản khắc ván 1914 có trong Thư viện Hán Nôm (bản chụp hình ở trên); nội dung 29 bài đầu
cũng giống hệt nhau (và giống Bản khắc ván 1909), và số lượng bài của bản khắc ván mà
Hoàng Xuân Hãn có ít hơn so với bản khắc ván trong Thư viện Hán Nôm là 10 bài (10 bài
cuối)” (Sđd, tr.249).

Đọc qua đoạn văn giới thiệu văn bản Bản khắc ván 1914 hiện đang được lưu trữ ở Thư viện
Hán Nôm, cùng với những thông tin về nội dung văn bản như: có kèm theo phiên âm ra chữ
Quốc ngữ gồm 39 bài, rồi cả bản chụp hình trang bìa,... người đọc nói chung chắc sẽ vô cùng tin
tưởng vào sự nghiêm túc của quy trình khảo sát văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương của Hoàng
Bích Ngọc. Tuy nhiên, với chúng tôi thì lại không khỏi có những nghi vấn cần trao đổi với tác
giả. Trước hết, nếu đã biết Bản khắc ván 1909, thì tại sao tác giả không giới thiệu bản này mà
lại giới thiệu một bản có niên đại muộn hơn - tức bản 1914. Xem bức ảnh chụp trang bìa Quốc
âm thi tuyển thì cột bên trái ghi là Phụ: Danh gia ca vịnh, trong khi tác giả lại dẫn giải là Phụ:

đâu phải việc của A. Landes. Không rõ ông Hoàng Xuân Hãn căn cứ vào tài liệu nào mà cho
biết như vậy? Bởi giả dụ A. Landes nếu có làm việc đó thực, thì Hoàng Xuân Hãn (1908-1996)
cũng không thể được chứng kiến, vì A. Landes đã chết đuối ở sông Sài Gòn từ ngày 23/2/1893.
Vậy thông tin của ông Hoàng Xuân Hãn về cái gọi là “Di cảo Landes” thật khó tin. Mà đọc kỹ
lại ý kiến của ông về Di cảo này thì toàn là ngôn từ giả định: “Chắc là trong thời kỳ này y - tức
Landes - thuê một người Việt tên Lê Quý góp thi văn Nôm, rồi chép vào giấy lệnh...” (Sách của
Hoàng Bích Ngọc, tr.251). Hoặc “Cũng có thể, khi Landes chưa ra Bắc, y đã tổ chức sự sao
chép này rồi” (Sđd, tr.251). Rõ ràng đó chỉ là những lời phỏng đoán của Hoàng Xuân Hãn, làm
sao có đủ chứng lý để tin được cái gọi là “Di cảo Landes” như một nguồn văn bản được chép
sớm nhất về thơ Nôm Hồ Xuân Hương.

Ấy vậy mà tác giả Hoàng Bích Ngọc, vốn là một nhà khoa học tự nhiên, thích bàn về tính khoa
học, tính logic trong thơ Hồ Xuân Hương, lại có thể nhắm mắt tin theo không hề băn khoăn gì
về cái gọi là “Di cảo Landes”. Kể cũng lạ!

5- Giai nhân di mặc của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, 1916.

Theo Hoàng Bích Ngọc, đây là cuốn sách Quốc ngữ ra đời sau cuốn Xuân Lan 1913. Nội dung
đã dẫn giải, tiểu thuyết hóa và tuyển chọn được 47 bài thơ Hồ Xuân Hương. Cũng theo tác giả
thì đây là cuốn sách đã chi phối rất cơ bản việc nghiên cứu, tuyển chọn thơ Hồ Xuân Hương
trong suốt thế kỷ XX.

6- Văn đàn bảo giám 1932 (in lần thứ ba) kèm theo danh mục 51 bài... Không thấy Hoàng Bích
Ngọc bình luận gì về tài liệu này.

7- Đại Nam đối thi giống bản Landes 1893 - phần C có tên đề Hồ Xuân Hương thi tập. Sau đó
là phần liệt kê tên các bài thơ, gồm tất cả 49 bài... Không thấy tác giả bình luận gì, cũng không
cho biết xuất xứ của tài liệu.

8- Nam âm thi tập giống bản Landes 1893 - phần A có tên đề là “Phụ lục tạp ký Quốc âm thi

cái gọi là “Di cảo Landes” chỉ là sự phỏng đoán thiếu chứng tích lịch sử, và do đó không đáng
tin cậy. Chúng tôi cũng đã thấy tài liệu Nam âm thi tập (trong đó chép thơ Nôm Hồ Xuân
Hương), trang bìa có ghi “Lê Quý phụng tả” (Lê Quý vâng mệnh chép), nhưng không ghi rõ là
vâng mệnh ai, và cũng không ghi năm tháng sao chép. Đây là tài liệu do GS. Nhan Bảo sao chụp
từ Thư viện Viện Viễn Đông bác cổ Pháp tại Paris (Sđd). Và cái tên Lê Quý cũng chính là tên
người Việt được ông Hoàng Xuân Hãn đoán là người đã chép thuê tài liệu cho A. Landes. Chỉ
đáng tiếc là ông Hoàng Xuân Hãn khi nói về chuyện sao chép này lại không sao chụp văn bản
Nôm kèm theo, nên rốt cuộc cái gọi là “Di cảo Landes” do ông đặt ra vẫn hoàn toàn mơ hồ,
không có cơ sở gì để chứng tỏ đó là tài liệu chép thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã có từ năm 1892.

Tóm lại, cách tuyển chọn thơ Nôm Hồ Xuân Hương của Hoàng Bích Ngọc là cách làm nửa vời.
Thực tế, không khác gì cách làm của những tác giả đi trước, nghĩa là vẫn lấy những văn bản chữ
Quốc ngữ để tuyển chọn thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Có lẽ sức hấp dẫn của Bà Chúa thơ Nôm đã
làm lu mờ cái tư duy lý tính của nhiều người, nên họ đã quên mất một điều sơ đẳng nhất, đó là
Hồ Xuân Hương làm thơ bằng chữ Nôm được ghi lại bằng văn bản Nôm chứ không phải làm
thơ bằng chữ Quốc ngữ. Và như thế, người thưởng thức, người nghiên cứu văn học có thể đọc
qua bản “chuyển ngữ”, bản “phiên âm”; nhưng người tuyển chọn văn bản thì nhất thiết phải biết
chữ Nôm và phải khảo sát, tìm tòi từ nguyên bản chữ Nôm.

Sau đây, chúng tôi xin dẫn chứng ngay một số thí dụ trong công trình của Hoàng Bích Ngọc, để
thấy rằng tuyển chọn văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương mà không biết Hán-Nôm hoặc biết đại
khái, sẽ dẫn đến những sự hiểu lầm rất tai hại cho việc cảm thụ văn học.

Về bài Tức cảnh vũ hậu (Tức cảnh sau mưa). Bài thơ được ghi trong cuốn Họ Hồ trong cộng
đồng dân tộc Việt Nam của Hồ Sĩ Giàng, với lời dẫn kể chuyện Hồ Xuân Hương thời trẻ về quê,
có hôm ra giếng gánh nước bị trượt ngã, vỡ cả đôi nồi đình gánh nước, nước đổ tung tóe; đám
trai làng cười giễu, Hồ Xuân Hương ứng khẩu bài Tức cảnh vũ hậu như sau:
Vén bức màn mây thấy mặt trời
Xanh xanh từng đám trắng từng nơi
Núi non cũng muốn nhô đầu dậy

khuôn khổ bài viết cũng không cho phép nói dài dòng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status