vấn đề tiếp nhận thơ nôm hồ xuân hương - Pdf 23

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1. Lý do chọn đề tài
Thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một hiện tượng văn học độc
đáo, mang một số nét đặc thù, cá biệt luôn thách thức các giới hạn
tiếp nhận văn học trong lịch sử. Vì vậy, nghiên cứu tiếp nhận
hiện tượng thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một cách trở về với
kinh nghiệm lịch sử của quá khứ để tìm hướng tiếp cận
những hiện tượng này; đồng thời góp phần hướng đến một
góc nhìn đánh giá cởi mở, hợp lý hơn đối với các hiện tượng
văn học đương đại khác.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích sự chuyển
tiếp có tính lịch sử và sự mở rộng của các bình diện nghĩa
của hiện tượng thơ Nôm Hồ Xuân Hương qua các khuynh
hướng phê bình.
2. Phạm vi đề tài và đối tượng nghiên cứu
2.1. Phạm vi đề tài
Luận án chỉ giới hạn phạm vi đề tài trong những khuynh
hướng phê bình có tác động nổi bật đến lịch sử tiếp nhận
hiện tượng văn học này. Cụ thể, luận án phân tích tiến trình
tiếp nhận của các khuynh hướng: phê bình đạo đức, phê bình
phân tâm học, phê bình của chủ nghĩa Marx.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lịch sử tiếp nhận thơ
Nôm Hồ Xuân Hương thể hiện qua các khuynh hướng phê
bình, với các công trình phê bình tiêu biểu của Ngô Tất Tố,
2
Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu, Hoài Thanh, Đỗ Lai Thúy,
Nguyễn Lộc, Trần Thanh Mại, Xuân Diệu…; và các ý kiến

tiến trình mở rộng ý nghĩa thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong
những chân trời tiếp nhận khác nhau theo tiến trình lịch sử.
Luận án vận dụng các thao tác phân tích, so sánh để phân
tích kết quả tiếp nhận trong mối quan hệ với bối cảnh xã hội,
lý giải mối quan hệ giữa quan điểm phê bình trong chân trời
tiếp nhận và kết quả phê bình trong văn bản phê bình.
5. Những đóng góp của luận án
Về mặt lý luận, luận án bước đầu khai triển và vận dụng
gợi ý của Jauss về mối liên hệ giữa các khái niệm: “chân
trời”, “trò chơi ngôn ngữ”, “logic của câu hỏi và câu trả lời”.
Về mặt nghiên cứu vận dụng, luận án phân tích, miêu tả
một số hướng tiếp nhận tiêu biểu về thơ Nôm Hồ Xuân
Hương tại Việt Nam trong giai đoạn hiện đại hóa đầu thế kỷ
XX, giai đoạn cách mạng hóa 1945 – 1975: phê bình đạo
đức, phê bình phân tâm học, phê bình Mác-xít.
6. Bố cục của luận án
Luận án có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần
kết luận. Phần nội dung có bốn chương. Chương 1: Lý thuyết
tiếp nhận hiện đại và vấn đề tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân
Hương. Chương 2: Vấn đề tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân
Hương: phê bình đạo đức. Chương 3: Vấn đề tiếp nhận thơ
Nôm Hồ Xuân Hương: phê bình phân tâm học. Chương 4:
Vấn đề tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương: phê bình văn
học của chủ nghĩa Marx.
4
CHƯƠNG I
LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN HIỆN ĐẠI VÀ
VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
1.1. Lý thuyết tiếp nhận hiện đại: Khái niệm và phương pháp
1.1.1. Chân trời nhận thức cuộc sống và chân trời hiểu

1.1.3. Logic câu hỏi và câu trả lời của các trò chơi ngôn ngữ
Jauss kế thừa tư tưởng của Collingwood và Gadamer nhưng
khi phát triển một cách tổng hợp vấn đề “logic của câu hỏi và câu
trả lời” và vấn đề các tiền giả định, ông xem nó như là vấn đề
“biện chứng của câu hỏi và câu trả lời”, một vấn đề trụ cột của
thông diễn học văn học. Phê bình Gadamer về việc chú trọng đến
câu hỏi của văn bản trong lịch sử đặt ra cho người lý giải, Jauss
cho rằng văn bản trong lịch sử không thể tự nó xuyên qua các thời
đại đặt cho người lý giải nó câu hỏi, mà truyền thống văn học
tồn tại qua biện chứng của câu hỏi và câu trả lời được tiếp
nối từ “mối quan tâm hiện tại” của người lý giải.
1.1.4. Phương pháp trò chơi ngôn ngữ trong nghiên cứu
tiếp nhận văn học
Khi nỗ lực đi sâu vào tính chất phức tạp của khái niệm kinh
nghiệm thẩm mỹ, Jauss cũng bắt đầu cảm nhận được tính chất
phức tạp của vấn đề thưởng thức nghệ thuật, vốn vượt ra khỏi
phạm vi khái niệm chân trời chờ đợi mà ông đặt ra giai đoạn đầu.
Một liên hệ thoáng qua giữa khái niệm chân trời và khái niệm trò
chơi ngôn ngữ đã cho thấy điều đó. Và ông cũng chỉ dừng lại ở đó,
không khai triển và làm rõ thêm ý tưởng của mình.
Từ góc nhìn này của Jauss, có thể đề ra một phương pháp
nghiên cứu tiếp nhận: phân loại và phân tích những trường hợp
phê bình mà tất cả các văn bản phê bình xoay chung quanh hay bị
chi phối từ các quy tắc và quy ước cụ thể. Phân tích sự tạo lập các
quy tắc, quy ước tham gia chi phối các tiêu chí đánh giá của
trường hợp phê bình. Bên cạnh đó, để chỉ rõ và phân tích những
tác động của các quy tắc và quy ước này, cần phải đặt nó trong
6
các hình thức cuộc sống nhất định, cùng với việc chỉ ra các mục
đích của phát ngôn phê bình, khi chúng tuân theo hoặc bác bỏ các

nhau.
1.2.3. Ảnh hưởng thơ Hồ Xuân Hương trong sáng tác nghệ thuật
Thơ Hồ Xuân Hương từ lâu đã đi vào giai thoại dân gian,
được dân gian lưu giữ, sáng tác, mô phỏng Những giai thoại về
thơ Nôm của nữ sĩ do Hoàng Ngọc Phách, Vũ Ngọc Khánh, Kiều
Thu Hoạch sưu tầm cũng thể hiện lòng yêu mến của dân gian về
con người và tính cách của nhà thơ tài năng.
Trong thời hiện đại, đầu thế kỷ, hình tượng Hồ Xuân Hương
đã xuất hiện trong Giai nhân dị mặc-sự tích thơ từ Hồ Xuân
Hương (1917) của Nguyễn Hữu Tiến. Tiếp theo đó là những vở
diễn sân khấu chèo và tuồng (Tuồng hát Xuân Hương khóc cay
chàng Tổng Cóc, Chèo Hồ Xuân Hương ). Những tác phẩm
truyện ngắn của Ngô Văn Phú, Trần Khải Thanh Thuỷ, Nguyễn
Huy Thiệp, tiểu thuyết về Hồ Xuân Hương của Ngô Tất Tố, Bùi
Bội Tỉnh, phim truyện Hồ Xuân Hương xây dựng hình tượng Hồ
Xuân Hương đầy tính cách.
8
CHƯƠNG 2
VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG:
PHÊ BÌNH ĐẠO ĐỨC
2.1. Chân trời phê bình
1
2.1.1. Nho giáo và phê bình đạo đức
Tại Việt Nam, phê bình đạo đức có nguồn gốc chủ yếu trong
quan niệm đạo đức của Nho giáo. Trong văn học trung đại Việt
Nam, quan niệm văn chương như tấm gương đạo đức để giáo hóa
con người xuất hiện từ khi nho giáo trở thành học thuyết chính trị
xã hội chính thống, quan niệm này chi phối cả cách đánh giá,
thẩm bình tác phẩm.
Trong bối cảnh giao thời và có sự chuyển biến của quan niệm

đọc đến một câu hỏi khác, câu hỏi về giá trị đích thực của hiện
tượng thơ này: đây có phải là hiện tượng văn học có giá trị hay
không? Và đằng sau tất cả những câu hỏi đó là một câu hỏi nền
tảng hơn: văn học là gì, hay, thế nào là văn học? Tất cả những câu
hỏi này được cấu trúc hóa ngay trong văn bản thơ. Chính do vậy,
bằng hình thức cấu tạo ngôn ngữ đặc thù, hiện tượng thơ này luôn
từng bước phá vỡ những chân trời chờ đợi có trước của người
đọc, để đem đến những tác động thẩm mỹ và tác động đạo đức.
2.2.1. Song đề của nghệ thuật và đạo đức
Nhìn một cách tổng quát, câu trả lời của các nhà nho theo
quan điểm phê bình đạo đức là câu trả lời có tính chất song đề:
khen ngợi tài thơ, nhưng phê phán nội dung thơ. Trước hết, các
nhà phê bình theo quan điểm đạo đức nho giáo truyền thống luôn
phê phán nội dung thơ là “lả lơi”, “tục tĩu”, “bỉ ổi”. Nhưng mặt
khác, từ góc độ kinh nghiệm thẩm mỹ, họ không thể phủ nhận
những điểm độc đáo trong cách thức sử dụng ngôn từ của “bà
chúa thơ Nôm”.
Nhận xét sớm nhất và có ít nhiều thái độ đối với thơ ca và con
người nữ sĩ là lời nhận xét của một nhà biên chép vô danh trong
2
Peter Childs, Roger Fowler (2006), The Routledge Dictionary of Literary Terms, Routledge,
London & NewYork, tr 75.
10
bản Hồ Xuân Hương nương thi được Kiều Thu Hoạch dẫn lại:
“Nàng người tỉnh Hà Nội, tục truyền là yêu tinh biến làm người,
đặc biệt giỏi làm thơ từ quốc âm”
1
. Thoạt nhìn qua, lời nhận xét
nêu trên về con người Hồ Xuân Hương mang màu sắc của truyện
truyền kỳ dân gian, nhưng chính nó đã bao hàm một trong những

ngược lại với quan niệm thẩm mỹ về văn chương “có ý nhị, có
văn hoa”, “lời óng chuốt”… mà ông đã nêu lên ở tiết I
1
. Do vậy,
những vần thơ đó “không có thể làm phép cho nhà thơ”, nghĩa là
không thể làm khuôn phép cho người đời sau bắt chước, học tập.
Quan niệm đánh giá của Vũ Trọng Phụng, một nhà văn tiêu
biểu của giai đoạn hiện đại hóa, cho thấy bản thân góc nhìn có
tính chất đạo đức trong phê bình văn học vẫn là một chiều kích
nội tại, mà những giới hạn của nó tùy thuộc vào bối cảnh văn hóa
xã hội và những khuynh hướng của ý thức thẩm mỹ trong văn
học. Một quan niệm như trên ít nhiều còn thể hiện trong giai đoạn
cách mạng hóa của phê bình văn học tại miền Bắc, khi nó đòi hỏi
mỗi nhà văn phải phê phán giai cấp thống trị, nói lên tiếng nói của
giai cấp lao động, để phục vụ cho nhiệm vụ góp phần xây dựng xã
hội tương lai.
1
Phan Kế Bính (1970), Việt Hán văn khảo, bản in lại, Mặc Lâm, Sài Gòn, tr 12.
12
CHƯƠNG 3
VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG:
PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC
3.1. Chân trời phê bình
3.1.1. Sự khám phá cái cá nhân
Sự tìm tòi khám phá cái cá nhân trong văn học, vốn gắn liền
với sự xuất hiện và ý thức về gía trị của cái cá nhân trong
lịch sử
1
. Sự tìm tòi khám phá này thể hiện qua tiếng nói của
cái tôi cá nhân trong văn học. Nhưng sự biểu hiện và sự ý

hệ với các văn bản khác, như các chấn thương tâm lý có
trước (previous traumas), các hình ảnh mẫu gốc (archetypal
images), và các tự sự có quan hệ chặt chẽ với huyền thoại
1
.
Do mong muốn khoa học hóa phê bình văn học, phản ứng
lại với phê bình truyền thống, nên những công trình đầu tiên
của phê bình phân tâm học tại Việt Nam đã viện dẫn phương
pháp giải thích của khoa học tự nhiên để vận dụng vào phê
bình các hiện tượng văn học như thơ Nguyễn Công Trứ, Nôm
Hồ Xuân Hương và Truyện Kiều.
3.2. Câu hỏi và câu trả lời
Trong một chân trời khao khát hướng đến cái tôi cá nhân
thì thơ Nôm Hồ Xuân Hương trở thành những câu hỏi thôi
thúc được trả lời: ở mức độ nào thì cái cá nhân sâu thẳm nhất
trong thơ được phép tồn tại? Hay nói cách khác, cái cá nhân
thành thực và táo bạo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương có
phải là một giá trị? Những câu hỏi ấy được đặt ra cho chân
trời mới, nhưng trên cơ sở của những văn bản thơ.
Những văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương nói lên tiếng
nói của một cái cá nhân táo bạo và chân thành. Tiếng nói ấy
thể hiện trong cách tự biểu hiện chính con người trong thơ,
trong việc nhìn nhận tự nhiên và xã hội, thông qua những
hình ảnh. Ở chiều sâu xa, tiếng nói ấy khẳng định giá trị của
cái cá nhân trên những phương diện mới mẻ, độc đáo chưa
từng thấy trước đó: giá trị thân thể và những khao khát bản
năng.
3.2.1.Sự viện dẫn phương pháp khoa học
Câu hỏi “các văn bản thơ Nôm được cho là của Hồ Xuân
Hương có giá trị văn học hay không?” trong bối cảnh hiện

bệnh như cách lý giải của Nguyễn Văn Hanh, mà còn viện
dẫn đến hoàn cảnh xã hội, đấu tranh giai cấp. Đó cũng chính
là điểm khác trong góc nhìn của ông so với những công trình
phê bình phân tâm học cùng thời.
15
Đỗ Lai Thúy, theo lời ông, tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân
Hương trong sự phối hợp giữa tín ngưỡng phồn thực và phê
bình mẫu gốc của Karl Gustav Jung. Từ góc độ tín ngưỡng
phồn thực, ông “xây dựng cho mình một “hệ pháp” nghiên
cứu: thơ Hồ Xuân Hương -> văn hóa dâm tục - > tục thờ
cúng phồn thực -> tín ngưỡng phồn thực để đưa cái dâm cái
tục trong thơ nữ sĩ trở về với ngọn nguồn của nó, tín ngưỡng
phồn thực, thuở cái thiêng cái tục là một: tục là thiêng,
thiêng là tục”
1
. Nhưng trở về với tín ngưỡng phồn thực
không phải là để đặt hiện tượng thơ này trong bối cảnh của
“văn hóa thờ sự sinh đẻ” như Trương Tửu đã quan niệm, mà
qua đó, theo Đỗ Lai Thúy, để thấy được các biểu tượng phồn
thực, vốn đã bị đẩy lùi vào vô thức tập thể, “giáng lâm” trở
lại trong các sáng tạo văn hóa, sáng tạo nghệ thuật, cụ thể là
trong hiện tượng thơ này như thế nào.
3.2.2. Nỗi đau từ vô thức
Là một nhà phê bình thơ độc đáo, tài hoa, hoạt động phê
bình của Hoài Thanh bao trùm một phạm vi rộng lớn, và như
một tất yếu, ông đã không bỏ qua một tài thơ độc đáo vô
song như Hồ Xuân Hương.
Điều đáng chú ý ở đây là Hoài Thanh đã thấy được những
đau đớn, những tổn thương của tâm hồn đằng sau những hình
ảnh sống động của thiên nhiên. Đó là một phát hiện độc đáo,

khoa học, phê bình phân tâm học có tham vọng tìm cơ sở
biện minh cho cho sự xuất hiện của khía cạnh giới tính, nhục
thể trong hiện tượng thơ này. Nó cho thấy đây là những biểu
hiện xuất phát từ thế giới nội tâm của con người cá nhân, và
vì vậy, rất cần có sự thông cảm, chia sẻ.
17
CHƯƠNG 4
VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG:
PHÊ BÌNH VĂN HỌC MÁC-XÍT
4.1. Chân trời phê bình
4.1.1. Ngôn ngữ chính trị trong phê bình văn học Mác-xít
Trong lịch sử Việt Nam, vấn đề mối quan hệ giữa văn học và
đời sống xã hội chính trị là một vấn đề hệ trọng, gắn bó tự bề sâu
trong ý thức văn hóa của đất nước Việt Nam, một đất nước luôn
phải thường trực chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược.
Do bối cảnh chính trị xã hội đặc thù, cùng với sự ảnh hưởng
của phong trào cách mạng và đấu tranh giai cấp lan rộng tại Châu
Âu, quan điểm phê bình văn học Mác-xít ở Việt Nam không chỉ
biểu hiện cho một bước chuyển biến hiện đại hóa của bản thân
văn hóa, mà nó còn biểu hiện cho một bước ngoặt của ý thức
chính trị xã hội. Một số nhà phê bình Mác-xít chủ chốt đã
quy chiếu nhiệm vụ của họ vào mục đích và nhiệm vụ chính
trị, đó là truyền bá chủ nghĩa Marx tại Việt Nam, như là hình
thức truyền bá tư tưởng chủ nghĩa xã hội, làm điểm tựa và vũ
khí để giải phóng dân tộc. Do đó, ngay từ đầu, phê bình văn
học Mác-xít, một cách mặc nhiên, đã đặt tiền đề trong một
trò chơi ngôn ngữ khác: viện dẫn ngôn ngữ chính trị vào phê
bình văn học.
4.1.2. Đặc điểm của phê bình văn học Mác-xít
Về mặt nguồn gốc, hệ thống quan niệm phê bình này bắt

bình Mác-xít đã tìm thấy cơ sở cho câu trả lời của nó trong
văn bản. Nó cũng tạo tiền đề cho góc nhìn mới hơn, gây
nhiều tranh luận, đôi khi trái ngược nhau, thể hiện tính chất
phức tạp của chân trời tiếp nhận mới.
1
Trần Đình Sử (2004), “Lý luận, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX”, Văn học Việt Nam thế
kỷ XX, Giáo dục, Hà Nội.
19
4.2.1. Vũ khí đấu tranh giai cấp
Là một nhà phê bình vận dụng và tiếp thu nhiều quan
điểm phê bình phương Tây, Trương Tửu đã kết hợp phê bình
phân tâm học và phê bình Mác-xít khi giải thích tiếng nói
chống phong kiến trong thơ Hồ Xuân Hương. Vì vậy, đối với
ông, tiếng nói chống phong kiến của thơ nữ sĩ “tiêu biểu rất
sâu sắc cái ý thức chống phong kiến ở địa hạt tình cảm và
sinh lý của bình dân Việt Nam của những tầng lớp nghèo cực
bị áp bức trong xã hội xưa”
1
. Dường như ở đây, ông đã đến
gần với những luận điểm của lý luận nghiên cứu văn hóa hiện
đại về vấn đề diễn ngôn tính dục ra đời như là hình thức
chống đối lại với quyền lực thể chế phong kiến. Tuy nhiên,
trong bối cảnh bấy giờ, cách giải thích của ông không kém
phần khiên cưỡng khi quy cho toàn bộ nội dung trữ tình của
tiếng nói giai cấp vào hình thức bộc lộ của tâm sinh lý cá
nhân.
Trong quyển sách gây nhiều tranh luận, Hồ Xuân Hương
– nhà thơ cách mạng, Hoa Bằng sử dụng phương pháp phân
tích đối chiếu để chỉ ra đối tượng của lời phê phán. Hầu như
ở mỗi chương phân tích biểu hiện của tinh thần chống phong

cũng đòi hỏi nhà phê bình thực sự thấu hiểu tác phẩm như
một sản phẩm tinh thần viết cho và viết từ những thân phận
con người thời đại quá khứ.
Vì vậy, trong phạm vi này, phê bình văn học Mác-xít đã
thoát ra khỏi hình thức giải thích của khoa học tự nhiên mà
phê bình phân tâm học trước đó vẫn còn lệ thuộc để thực
hiện một cuộc trở về gặp gỡ những thế giới tâm hồn con
người trong quá khứ. Đồng thời, một cách kín đáo, nó cũng
gắn kết tự bề sâu với phê bình văn học thời trung đại, vốn
chủ yếu hướng đến sự đồng cảm, tri âm. Nhưng sâu hơn cả là
bản thân phương pháp và góc độ tiếp cận của nó cũng mang
tính nhân văn trong quan niệm về văn bản văn học. Văn bản
văn học không chỉ là một hệ thống ký hiệu, nó là một hệ
thống ký hiệu gởi đi một thông điệp tinh thần từ quá khứ, đòi
hỏi con người hiện tại không chỉ giải mã, lý giải với tư cách
21
nhà khoa học, mà còn thấu hiểu và đồng cảm với tư cách một
con người. Do những khía cạnh chính đáng đó, phê bình văn
học Mác-xít có sức thuyết phục, sức ảnh hưởng mạnh mẽ, và
cũng đạt được nhiều giá trị. Tuy nhiên, do về bản chất là sự
viện dẫn đại tự sự chính trị xã hội vào ngôn ngữ phê bình văn
học, nên phê bình văn học Mác-xít, ở mặt khác của nó, đã có
sự chồng chéo phức hợp giữa các quy tắc và quy ước của
ngôn ngữ chính trị xã hội với những quy tắc và quy ước của
ngôn ngữ phê bình văn học.
4.2.2. Sự viện dẫn đại tự sự
1

Một trong những dẫn chứng tiêu biểu cho sự viện dẫn đại
tự sự để khẳng định giá trị đồng thời bênh vực cho thơ Nôm

Đây là bài đầu tiên trong chuỗi những bài nghiên cứu phê
bình đầy ảnh hưởng của ông về thơ Nôm nữ sĩ.
Trong giai đoạn đầu, phê bình văn học Mác-xít đã vượt
qua phê bình văn học theo quan điểm phân tâm học của
Freud ở khía cạnh nó đặt câu hỏi mới, tìm kiếm những câu
trả lời mới hơn, phù hợp với sự chuyển biến lịch sử xã hội
của thời đại. Câu hỏi và câu trả lời trong phê bình văn học
Mác-xít không chỉ quan tâm đến hoàn cảnh xã hội mà còn đi
sâu vào đời sống nội tâm, với những cảm xúc, nỗi niềm thân
phận của người phụ nữ. Nó cũng đã vượt ra khỏi quan điểm
giải thích của khoa học tự nhiên, để hoàn toàn nằm trong
phạm vi của khoa học tinh thần, tuy đôi lúc còn khiên cưỡng.
Ở giai đoạn sau, do hoàn cảnh xã hội chính trị đặc thù của
đất nước, phê bình văn học Mác-xít - vốn đã tự thân, và giờ
ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn với đời sống chính trị - đã
viện dẫn các quy tắc và quy ước của chính trị vào phê bình
văn học. Vì vậy, câu hỏi và câu trả lời của nó trở nên không
còn hợp thức và vì vậy, đòi hỏi một cách đặt câu hỏi mới và
những câu trả lời khác trong bối cảnh đời sống xã hội chuyển
biến sang thời kỳ Đổi mới của thập niên 90 trong thế kỷ XX.
23
KẾT LUẬN
Phân tích hiện tượng tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương,
luận án làm rõ sự chuyển tiếp có tính lịch sử giữa những khuynh
hướng phê bình tiếp nhận từ góc độ logic của câu hỏi và câu trả
lời.
Từ chân trời chịu ảnh hưởng truyền thống nho giáo, phê bình
đạo đức đã đưa ra câu trả lời phủ định nội dung thơ, nhưng lại
khen ngợi tài thơ nữ sĩ. Bằng hình thức ngôn ngữ độc đáo, đa
nghĩa, thanh mà tục, hiện tượng thơ này đã cho thấy sự bất cập

đẩy tiến trình hiện đại hóa của phê bình văn học.
Trường hợp tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương cho thấy quá
trình hiện đại hóa, với sự tiếp thu các quan niệm văn học và phê
bình văn học phương Tây, đã tạo ra một sự chuyển đổi hệ hình
của phê bình văn học. Đó là, từ quan điểm phê bình đạo đức Nho
giáo có tính chất thưởng thức, bình điểm của phê bình truyền
thống, tiến đến quan điểm phê bình hiện đại, dân chủ, xem trọng
tiếng nói cá nhân và có tính hệ thống, tính khoa học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status