Thơ nôm hồ xuân hương nhìn từ góc độ giới tính - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________

Bùi Thị Thanh Vân

THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI TÍNH
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số
: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS – TS Lê Thu Yến, người đã trực
tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận
văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam,
ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, phòng Quản lí sau đại học – trường Đại học Sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn tự đáy lòng tới Ban giám hiệu trường THPT chuyên Lê
Quý Đôn – Thành phố Vũng Tàu – nơi tôi đang công tác, tới gia đình và những người bạn thân
thiết đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa học.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 1 năm 2009.

Hồ Xuân Hương với tài thơ độc đáo đã trở thành một “trung tâm” thu hút biết bao nhiêu
thế hệ nhà nghiên cứu và các độc giả yêu quý Xuân Hương cũng như thơ bà vào cuộc kiếm tìm,
vì vậy mà thân thế và thi tài của bà liên tục được định giá lại. Nghiên cứu về con người và thơ
Hồ Xuân Hương đã như một vấn đề thời sự văn học. Thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã được giới


nghiên cứu tiếp nhận ở nhiều góc độ như phê bình văn học, tiếp nhận văn học, nhiều khuynh
hướng như phân tâm học, văn bản học, xã hội học, văn hóa học… Qua các công trình nghiên
cứu về Hồ Xuân Hương, từ trước đến nay, chúng ta nhận thấy, việc đánh giá về thơ Hồ Xuân
Hương đã diễn ra rất phức tạp. Riêng việc tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ giới
tính thì chưa thật nhiều, các ý kiến chủ yếu xoay quanh vấn đề dâm, tục trong thơ bà.
Trước hết phải kể đến Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, đầu những năm hai mươi của thế kỉ
XX, phê bình “Thơ Hồ Xuân Hương thật tinh quái, những câu thơ hay đọc lên đến ghê người.
Người ta thường có câu: “Thi trung hữu hoạ”. Nghĩa là trong thơ có vẽ. Nhưng thơ Hồ Xuân
Hương thì lại là: “Thi trung hữu quỷ”. Nghĩa là trong thơ có ma! Song mà nhận ra thời tục”
[21, tr.2]. Như thế, Tản Đà đã khẳng định có yếu tố “tục” trong thơ Xuân Hương.
Đến Trương Tửu thấy trong thơ Hồ Xuân Hương chỉ có thuần tục và dâm, ngoài ra
không có gì khác. Trương Tửu còn gọi Xuân Hương là «thiên tài hiếu dâm ». Trương Tửu cho
rằng trong thơ Hồ Xuân Hương có những “khát vọng tiềm thức” và những “ám ảnh”, bệnh thần
kinh vì dục tình không được thoả mãn [102, tr.333].
Sau đó, Nguyễn Văn Hanh đã phát triển quan điểm của Trương Tửu dựa trên quan điểm
của học thuyết phân tâm học (Freud). Trong tác phẩm Hồ Xuân Hương, tác phẩm, thân thế và
văn tài, Nguyễn Văn Hanh viết: “Dục tình ngày càng tăng, càng nén lại càng bồng bột. Ngày
qua tháng qua, sức ép tình dục càng tăng vì sự cần kia càng khẩn cấp. Kết quả: Hồ Xuân
Hương khủng hoảng tình dục. Khủng hoảng nặng sẽ kết bệnh thần kinh” [30, tr.45]. Nguyễn
Văn Hanh đã thông qua thơ ca để tái hiện lại cuộc đời, con người Hồ Xuân Hương, từ đó ông
rút ra kết luận là Hồ Xuân Hương bị khủng hoảng tình dục. Nhà nghiên cứu này đã đi sâu, lí
giải cội nguồn hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương từ bên trong, qua sự uẩn ức tâm lý.
Tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương theo hướng này còn có Văn Tân, trong bài Ý nghĩa
và giá trị thơ Hồ Xuân Hương trích quyển: Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ, văn học và

Về sau có công trình nghiên cứu thơ Nôm Hồ Xuân Hương theo phương pháp phê bình
văn hoá cũng có đề cập đến vấn đề giới tính là Hồ Xuân Hưong – Hoài niệm phồn thực của Đỗ
Lai Thuý. Ông vận dụng hai khái niệm chủ chốt của nhân học văn hoá là “biểu tượng phồn
thực” – âm vật và dương vật, “vô thức tập thể” để soi chiếu và giải mã hiện tượng thơ Hồ Xuân
Hương. Theo ông “tín ngưỡng phồn thực” là cơ sở chính tạo nên hiện tượng thơ Nôm Hồ Xuân
Hương. Ở công trình này, Đỗ Lai Thuý cũng đã lý giải hiện tượng tục dâm trong thơ Hồ Xuân
Hương bắt nguồn từ điểm nhìn văn hoá. Ý kiến này giải thích phần nào sức hấp dẫn của thơ Hồ
Xuân Hương trong đời sống dân gian.
Ngoài ra còn phải kể đến những nghiên cứu về Hồ Xuân Hương ở các trường đại học.
Năm 2005, Hoàng Phong Tuấn, học viên Cao học Khóa 13, Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ
Chí Minh cũng đã chọn Các hướng tiếp nhận thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hươmg làm đề tài
luận văn tốt nghiệp sau đại học cho mình. Trong đề tài này anh đã khái quát dường như tất cả


các hướng tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương, bao gồm cả những gì liên quan đến vấn đề giới
tính trong thơ bà.
Gần đây nhất, đầu năm 2008, tác phẩm Sức hấp dẫn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương của
PGS – TS Lê Thu Yến đã đem đến cho người tiếp nhận văn học những khám phá mới mẻ về
nội dung nghệ thuật của thơ Nôm Hồ Xuân Hương ở một góc nhìn trần thế của con người. Bằng
một giọng văn hóm hỉnh và giàu trí tuệ của một người yêu thơ Nôm Hồ Xuân Hương, tác giả
của công trình nghiên cứu trên cũng đưa ra vấn đề giới tính là một điểm nhấn để lí giải cho sức
hấp dẫn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương thu hút bao thế hệ. Đây là một công trình có giá trị đối
với những người yêu thơ Hồ Xuân Hương nói riêng và những người yêu văn chương nói chung.
Cùng với các bài viết đã được công bố rộng rãi trên sách báo mà những người yêu mến
Hồ Xuân Hương biết tới, còn một số lượng khá lớn các bài viết được đưa lên mạng internet rải
rác trong khoảng hơn chục năm gần đây. Thế Uyên (trong Tình dục trong ca dao và thơ Hồ
Xuân Hương – nguồn Talawas năm 2005) khẳng định “nhà văn nữ mà bàn tới tình dục trong
tác phẩm thành văn của mình, tính từ lúc Ngô Quyền lập quốc thế kỷ thứ 10 cho đến thế kỷ 19,
vẫn chỉ có nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương” [126]. Tác giả Trịnh Thanh Thủy có bài Sex - dưới mắt
nhìn của người viết nữ Việt Nam trên trang Evan cho rằng: “Trong kho tàng văn học Việt Nam

đa chiều hơn. Và, có lẽ để có những cơ sở khách quan và chính xác, chúng ta cần đi sâu tìm
hiểu những đặc trưng chủ yếu trong nội dung và nghệ thuật của nhà thơ tài năng này dưới góc
nhìn giới tính. Mặt khác, từ góc độ tiếp nhận văn học, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề
giới tính một cách hệ thống. Trên cơ sở đó, trong công trình này, chúng tôi cố gắng làm rõ
những điểm trên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng: luận văn của tôi thực hiện xung quanh vấn đề giới tính trong thơ Nôm
Hồ Xuân Hương, từ đó khái quát lên tư tưởng thời đại mới mẻ mà bà đề cập, khẳng định vai trò
giới nữ, những quan niệm về vẻ đẹp của hình thể con người, về tính dục trong thơ bà. Nội dung
được đặt trong sự so sánh với những quan niệm của một số văn sĩ khác trên thế giới có tư tưởng
như bà.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này có tên gọi: “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương nhìn từ góc độ giới tính”, chúng
tôi chọn mảng thơ Nôm được truyền tụng của Xuân Hương để khảo sát. Chúng ta đều biết, cho
đến nay sáng tác được coi là của Hồ Xuân Hương gồm hai bộ phận: thơ chữ Nôm và thơ chữ
Hán. Ở đây người viết chỉ tiếp cận những tác phẩm thơ Nôm của Hồ Xuân Hương. Chúng tôi
chọn bộ phận thơ Nôm truyền tụng trong cuốn “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương” do GS Nguyễn
Lộc biên soạn năm 1982, ngoài ra chúng tôi cũng tham khảo những tài liệu có tính khoa học
khác như cuốn “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương” của tác giả Kiều Thu Hoạch (xuất bản năm 2008).
Nói chung, thơ Nôm Hồ Xuân Hương về nội dung vẫn hết sức phức tạp. Theo các chuyên gia


nghiên cứu văn học, khi tiếp cận thơ Nôm của Hồ Xuân Hương cần có sự chọn lọc, phân loại
thận trọng vì một số bài thơ có nhiều dị bản, khó tìm được cơ sở vững chắc, chính xác. Xét trên
những tập thơ Hồ Xuân Hương được xuất bản từ trước đến nay, chúng tôi thấy về số lượng và
phong cách không có sự thống nhất. Cho đến tận thời điểm này, khi khảo sát về con người và
văn chương Hồ Xuân Hương, chúng tôi chưa tìm thấy bất cứ một tài liệu nào đưa ra một số liệu
cụ thể, cũng như khẳng định chắc chắn về con người Hồ Xuân Hương và thơ Nôm của bà.
Chúng tôi nghĩ khi khảo sát thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương cần dựa trên những tài
liệu tham chiếu đáng tin cậy. Tuy vậy trong quá trình khảo sát, chúng tôi chọn 48 bài (có phụ

cùng biết. Do đó từ trước đến giờ người ta vẫn có thái độ phủ nhận bản chất tự nhiên của nó và
coi đó là một thứ “cấm kị”, tránh nói đến, nhất là ở các nước phương Đông như Việt Nam. Có
lẽ cần phải đưa ra rất nhiều ý kiến, quan điểm để chứng minh cho ý nghĩa của vấn đề giới tính
trong cuộc sống. Nhưng có lẽ bằng chứng thuyết phục nhất đó chính là thực tế cuộc sống. Hãy
nhìn vào thực tế cuộc sống và những cuộc đấu tranh vì quyền lợi con người để tôn vinh vị trí và
giá trị của con người, để thấy được ý nghĩa và bản chất đích thực của vấn đề giới tính.
Vấn đề giới tính luôn được dư luận xã hội để ý, quan tâm, nhất là hiện nay tính “sex”
trong văn chương đang là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Các cuộc tranh luận thường diễn ra
gay gắt và phức tạp, thường là sự đụng độ giữa những quan điểm và thái độ cực đoan trái
ngược nhau – giữa những nhà tư tưởng đạo đức với những nghệ sĩ. Xét đến cùng của những
tranh luận ấy là những ý kiến không đồng tình giữa nhân tố tự nhiên và nhân tố văn hóa trong
quá trình hình thành nhân cách con người cũng như quá trình hoàn thiện bản tính loài người.
Như đã nói ở những phần trên, thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã được nghiên cứu ở nhiều
góc độ. Riêng vấn đề giới tính được các nhà nghiên cứu nhìn như là yếu tố “tục, dâm” trong thơ
Xuân Hương. Trước đây tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương ở góc nhìn này đã có, giới nghiên
cứu thường quan tâm nhiều đến các vấn đề như: “tục, dâm” của Trương Tửu, Đỗ Lai Thuý lại
viết rất xuất sắc về “hoài niệm phồn thực”… Việc đề cập đến giới tính trong thơ Hồ Xuân
Hương thiết nghĩ vẫn còn là một lĩnh vực còn nhiều điều để suy ngẫm. Thật sự vấn đề giới tính
chưa được gọi tên đúng với bản chất hiện tượng như trong thơ Xuân Hương. Nhưng dường như
bất cứ ai khi tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương cũng thấy vấn đề giới tính là điểm mạnh, khía cạnh
độc đáo nhất, nổi bật nhất trong các vấn đề bà đề cập. Đặt vấn đề nghiên cứu thơ Nôm Hồ Xuân
Hương dưới góc nhìn giới tính chắc hẳn người viết sẽ tìm được những điều mới mẻ, thú vị, bổ
ích. Ở đề tài này, cùng với những người nghiên cứu đi trước, người viết hy vọng sẽ góp thêm ý
kiến nhỏ làm rõ hơn diện mạo vấn đề giới tính trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
6. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm có 146 trang, ngoài phần mở đầu (12) trang, kết luận

(5 trang), phụ

lục và tài liệu tham khảo (18 trang), phần nội dung chính của luận văn (gồm có 111 trang) chia

người về quan hệ tính giao” [139, tr.94].
Tính dục (tiếng Anh gọi là: sexual intercourse): “Tính dục là: đòi hỏi sinh lí về quan hệ
tính giao, hay nói cách khác, tính dục là thú vui xác thịt giữa nam và nữ” [139, tr.95].
Bản năng giới tính (tiếng Anh gọi là: sexual instinct): được hiểu như “những khuynh
hướng tự nhiên, những cư xử theo một cách nào đó do bẩm sinh mà có, mà không phải từ
những lí luận hay sự giáo dục" [76, tr.82]. Tuy nhiên chúng ta vẫn biết rằng vấn đề bản năng
giới tính của con người luôn có những đặc điểm mang ý thức, thể hiện tính nhân văn khác hoàn
toàn với cái bản năng giới tính của con vật.
Khi tìm hiểu về giới tính, người viết bắt gặp các thuật ngữ như thân xác, vấn đề nhục
thể, chuyện xác thịt… tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng cũng nhằm nói đến vấn đề giới
tính và quan hệ giới tính. Nên người trình bày luận văn cũng mạnh dạn sử dụng những thuật
ngữ này như một sự kế thừa những công trình nghiên cứu của người đi trước trong vấn đề giới
tính.
Giới tính và quan hệ giới tính là quy luật tự nhiên, đồng thời cũng là hiện tượng hiển
nhiên trong xã hội loài người. Nếu nói “con người vừa là một sinh vật tự nhiên vừa là một sinh
vật xã hội” là nói đến giới tính. Còn tính dục chỉ là một mặt của giới tính - mặt sinh vật tự
nhiên của con người. Như thế, giới tính thuộc về thuộc tính vật chất tự nhiên cơ bản của cấu
trúc đời sống con người. Với cách hiểu trên, thiết nghĩ, đề cập đến giới tính là đề cập đến một
vấn đề mang tính khoa học. Hơn nữa, giới tính và quan hệ giới tính là một trong những vấn đề
quyết định sự sinh tồn của xã hội. Lịch sử nhân loại đã chứng minh vấn đề giới tính là vấn đề
tất yếu phải có trong cuộc sống. Kinh nghiệm sống của con người từ thế hệ này sang thế hệ
khác cũng thừa nhận giới tính và quan hệ giới tính là nhu cầu chung của toàn xã hội. Dù vậy, ở


bất cứ thời đại nào, vấn đề giới tính và quan hệ giới tính cũng bị ít nhiều người phủ nhận bản
chất tự nhiên của nó. Người ta thường công nhận con người sống và hưởng hạnh phúc trên cõi
đời này là nhờ nhu cầu giao hoà của tâm hồn nhưng ít ai quan tâm, hoặc không muốn khẳng
định nhu cầu hoà hợp thể xác, dù đây là một yếu tố không thể thiếu của đời sống tình cảm. Vì
giới tính được xem như là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống con người nên xét ở góc
độ nào dù là tâm hồn hay thể xác, con người cần được sống đúng với bản năng tự nhiên của

của các khuynh hướng bên trong con người. Con người sống bản năng ấy cũng là con người ưa
thể hiện quan niệm về vũ trụ và cuộc sống bằng huyền thoại. Huyền thoại nói lên cảm nghĩ,
kinh nghiệm và ước mơ của tổ tiên. Đây chính là cơ sở tạo nên những tầng vô thức sâu nhất của
con người chúng ta ngày nay. Như thế, muốn tìm hiểu sâu về bản chất và nguồn gốc của giới
tính, ta cần tìm về huyền thoại. Một trong những hình thức tư duy cổ xưa nhất của loài người là:
“tư duy lưỡng hợp” - Nó như chất men của sự vận động trong suốt quá trình phát triển của văn
minh nhân loại, mà những lớp trầm tích của nó vẫn còn lưu giữ qua những câu chuyện huyền
thoại kể về nguồn gốc con người. Hay chính là những quan niệm về giới tính trong huyền thoại
của triết học và tôn giáo. Trong Kinh thánh Do Thái giáo cũng có dấu vết của cùng một huyền
thoại, người đàn bà được sinh tạo từ chiếc xương sườn của người đàn ông. Người đàn bà Eva
được làm từ xương và thịt của Adam. Adam nói: “Người này là xương bởi xương tôi, thịt bởi
thịt tôi mà ra” [93, tr.15]. Vậy là ngay từ khởi đầu, có nam thì phải có nữ. Nam nữ kết hợp với
nhau thì mới tạo nên sự hài hòa thống nhất. Nhưng Chúa lại dạy người đàn bà phải tuân phục
đàn ông, bổn phận của người làm vợ phải phục tùng chồng mình. Với cách lí giải về nguồn gốc
của giới tính như thế, Chúa vô tình chăng? – Người đã trao quyền “thống trị đàn bà” cho đàn
ông.
Thần thoại Hy Lạp lại giải thích khác về nguồn gốc giới tính. Chỉ biết rằng, các vị Thần
trên đỉnh Ôlimpơ đã tạo ra giống đàn bà, một “loại độc hại” cho giống đàn ông mà đàn ông
không sao dứt ra được. Vì thần Dớt nghĩ rằng người đàn bà sẽ luôn là người bạn đường của đàn
ông, nhưng luôn gây ra bất hạnh cho họ [93, tr.17]. Cách giải thích về nguồn gốc giới tính này
thật đáng buồn cười nhưng may mắn thay đó chỉ là lối tư duy mang tính thần thoại.
Người Trung Hoa có một thần thoại nổi tiếng về Nữ Oa tạo dựng thế giới. Nữ Oa đã để
cho “đàn ông và đàn bà lấy nhau, tự tạo ra và duy trì giống nòi” [93, tr.18]. Sự khác biệt về
giới tính này đã được triết học cổ đại Trung Hoa nâng lên một bình diện khái quát, đó là sự
thống nhất và đối lập giữa âm và dương. Tức là người ta dựa trên nguyên lí âm dương để phân
cực giới tính. Qua lăng kính của nguyên lí này, tính dục càng trở nên huyền ảo hơn. Người
Trung Hoa cho rằng nam – dương, nữ - âm; mà vạn vật trong trời đất đều có sự giao hoà khiến
cho sinh hoá điều hoà làm nên cuộc sống, nên con người cũng phải tương thông với khí trời đất
ấy thì sức khoẻ mới tốt, nếu không, mất sự cân bằng âm dương thì cuộc sống không hài hoà.
Lấy chồng, lấy vợ là công việc đứng đắn nhất trong trời đất. Âm dương kết hợp là căn nguyên

vụ cho ý đồ sáng tác của mình. Với nhận thức và tài năng như thế, sự xuất hiện vấn đề giới tính
trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một điều tất yếu.
Trở lại với thị hiếu thẩm mĩ thời hiện đại, vấn đề giới tính được nhìn nhận một cách hết
sức tích cực. Trong xã hội hiện đại, tranh khoả thân, tượng khoả thân được dùng như những


món quà lưu niệm mang tính nghệ thuật, thẩm mĩ cao; thậm chí những “nữ hoàng sắc đẹp” thời
hiện đại sẵn sàng chụp ảnh khỏa thân vì một mục đích cao cả nào đó như làm từ thiện chẳng
hạn.
Ngày trước, K.Mác từng phát biểu: “cái gì thuộc về con người không xa lạ với tôi”. Và
người ta vẫn kể cho nhau nghe về câu chuyện của nhà thơ Hainơ, trước khi về với cát bụi, ông
đã đến chiêm ngưỡng rất lâu trước bức tượng Vệ nữ (Venus) - gần như khoả thân trong bảo
tàng Luvơrơ ở Milô (Pháp), như một sự giã từ cái đẹp trước khi về cõi vĩnh hằng. Như thế, vấn
đề giới tính luôn được quan tâm trong xã hội, ở một góc độ nào đó, nó thật sự mang lại giá trị
cho cuộc sống, góp phần làm cho cuộc sống của con người thêm phần tốt đẹp. Có thể nói,
những vấn đề thuộc về bản năng, giới tính của con người từ khởi thuỷ được coi như một yếu tố
thiêng. Theo dòng lịch sử văn minh nhân loại, quan niệm ấy được bổ sung và tô điểm cho cuộc
đời với vẻ hấp dẫn và yếu tố này cũng đi vào nghệ thuật một cách tự nhiên thể hiện một trong
những khía cạnh độc đáo nhất trong nhân tính và tự do của loài người. Với cách hiểu này sẽ
giúp chúng ta nhận thức đúng đắn bản chất và tầm quan trọng của giới tính, quan hệ giới tính
trong đời sống của mỗi con người và sinh hoạt xã hội.
1.1.3. Phương Đông và phương Tây nhìn về giới tính
1.1.3.1. Trong tôn giáo và triết học
Dường như trong tất cả các nền văn minh, đặc biệt là trong tôn giáo, đều ít nhiều thấy sự
khinh miệt những gì là vật chất, xác thịt và đề cao những gì là tinh thần, tâm hồn. Nếu như tinh
thần như một lí tưởng để vươn tới hay bao gồm những giá trị đích thực của đời sống con người,
thì vật chất, thân xác bị coi như những chướng ngại vật ngăn cản người ta hướng thượng, vươn
tới đời sống tâm hồn. Do đó, tôn giáo thường răn dạy phải tiêu diệt vật chất, thân xác hoặc ít ra
cũng phải kìm hãm, hay trừng phạt nó. Thân xác là một phần thuộc về vấn đề giới tính, nên có
thể nói, tôn giáo cũng không mặn mà chút nào với phạm vi này. Những người tu hành theo chủ

cách hành xử của tôn giáo như trên có thể coi là thiếu nhân đạo với con người. Dĩ nhiên đối với
các nhà dòng và nữ tu thì sự cấm kị với những gì liên quan đến giới tính được lí giải là để giữ
gìn sự thánh thiện. Phải chăng thánh thiện là đòi hỏi phải phủ nhận con người thậm chí chà đạp
một phần con người. Sự miệt thị những gì liên quan đến giới tính kèm theo ý chí kiềm chế, tiêu
diệt thân xác không những có tính chất phi nhân đối với chính bản thân kẻ thực hiện mà điều
này còn làm cho người đó trở thành bất nhân, nghiêm khắc, không khoan dung với người khác.
Dường như các tôn giáo đều cực lực phản đối việc chiêm ngưỡng vẻ đẹp giới tính – vẻ
đẹp cơ thể, đặc biệt là thân thể của người phụ nữ. Phật giáo thì quan niệm cảm quan nhục thể là
căn nguyên nhất thiết của tội ác và đau khổ. Trong truyền thuyết của nhà Phật còn ghi lại những
điều Phật dạy tỳ khâu. Phật dạy rằng: “nước mắt của đàn bà, nụ cười của đàn bà nên coi như kẻ
thù! Dáng gục mặt của đàn bà, vẻ rũ tay của phụ nữ đều nên coi như những móc câu sắc thu
hồn, đoạt vía con người. Mái tóc mượt mà, nét mặt hóa trang của đàn bà coi như những đai


thép buộc chặt con người”

[93, tr.25]. Dạy một tỳ khâu như vậy vì Phật Đà biết rõ

mọi người đàn ông sống trong thế gian này đều thích đàn bà, muốn ngắm nhìn họ và muốn
chiếm đoạt cả thân hình họ. Khi bị sắc dục chế ngự, mê hoặc, trí tuệ của họ sẽ đóng kín lại và
họ không thể hiểu nổi chân lí; sinh mệnh, sự nghiệp và danh dự của họ sẽ đổ xuống sông xuống
bể. Bởi vậy, người đàn ông cần tránh sắc dục và không được phép cho trái tim mình phóng túng.
Quan niệm của Nho giáo cũng không khác mấy, dương (nam) cường, âm (nữ) nhu. Nữ là
phái yếu, phải tuân theo “tam tòng, tứ đức”; “phu xướng phụ tùy”… nghĩa là người chồng phải
là người quyết định, người vợ chỉ việc nghe theo. Nho giáo cho người đàn ông có quyền hạn rất
lớn trong gia đình; có quyền được lấy nhiều vợ khi cần để duy trì nòi giống, có quyền được bỏ
vợ nếu vợ phạm phải một trong bảy điều: không con, dâm nhác, không thờ cha mẹ chồng, lắm
điều, trộm cắp, ghen tuông, có ác tật. Nho giáo đề cao nam giới “nhất nam viết hữu, thập nữ
viết vô” [82, tr.106], hơn nữa, người nữ phải phục tùng chồng mình hoàn toàn. Ngay cả Luật
Hồng Đức được coi là bộ luật tiến bộ nhất nước ta thời phong kiến thì vị thế người phụ nữ vẫn

sử mỹ học nhân loại cho đến nay vẫn còn những tác phẩm xuất sắc về hình thể con người.
Những cơ thể đã được Raphael, Michel Langelo, Leonard de Vince và những nghệ sĩ khác
chưng cất đến mức, chúng trở nên trần trụi, tinh khiết - không còn mảnh vải, bay liệng trên
những vòm cung nhà thờ tôn giáo, trở thành những tác phẩm nghệ thuật suốt đời người ta phải
ngưỡng vọng mà chẳng gợi lên bất kỳ ám ảnh nhục dục nào. Như thế, nghệ thuật khỏa thân
(nude art) phương Tây đã bước ra từ tranh ảnh, tượng, ra đường phố, quảng trường giữa thanh
thiên bạch nhật, “đàng hoàng” đến với cộng đồng người trong sự ngưỡng vọng về cái đẹp tinh
khiết và trần thế. Sự ra đời của Venus (1484-1486) – tác phẩm của danh hoạ Botticelli, bức
tranh thể hiện thân hình khỏa thân của nữ thần Vệ nữ (Venus). Bức tranh lụa này đã kết tinh
hình tượng Venus diễm lệ và u buồn, thể hiện khoái cảm nhục thể và truyền đạt cả tinh thần
đam mê tôn giáo [77, tr.38]:


Hình 1.1:
Sự ra đời của Venus (1484-1486) - Tranh của danh họa Botticelli
Hơn thế nữa, người ta còn nghĩ một cách phổ biến rằng bất kì hình thể nào được coi là
đẹp đều nhất thiết liên quan hoặc gợi nhớ tới thân thể con người. Chẳng hạn như nhìn bình hoa,
cái lọ có cái eo được công nhận đó là hình ảnh mô phỏng những đường cong mỹ miều, thon thả
của giới nữ. Nên những tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn và vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ
là những tác phẩm nghệ thuật mang tính nhân bản, tôn vinh vẻ đẹp của cuộc sống - mà nhân thể
con người là một hiện thân tuyệt vời. Tuy nhiên ta cần phân biệt vẻ đẹp ngoại hình, vẻ đẹp thân
xác là những gì tạo hoá đã ban tặng cho con người, nhất là người phụ nữ khác hoàn toàn với
những gì cố tình “phơi bày” dụng ý khiêu dâm, trần tục. Vậy, nếu coi vấn đề giới tính, thân xác
con người thuộc về vấn đề của nghệ thuật thì người nghệ sĩ đề cập đến vấn đề thân xác cũng đã
và đang tôn vinh vẻ đẹp thuần khiết của tạo hoá nơi con người, rồi mang cái đẹp ấy dâng tặng
cho đời dù cuộc đời, người đời có thể chưa hiểu hết họ.
Mỹ thuật về vấn đề giới tính của phương Tây phong phú là vậy, phương Đông tuy không
nở rộ nhưng cũng không kém hương sắc, phải đến với một xứ sở mang đậm dấu ấn của văn hoá
tính dục – Trung Hoa. Xuân cung họa là những bức vẽ miêu tả nam nữ sinh hoạt giới tính trong
đủ các tư thế, chúng thường được trình bày dưới hình thức tấm tranh cuộn hoặc đóng thành tập.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status