BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________
Bùi Thị Thanh Vân THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI TÍNH
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÊ THU YẾN
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hồ Xuân Hương – một nữ sĩ tài năng và độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam, từng được
thi sĩ Xuân Diệu tôn vinh là “Bà Chúa thơ Nôm”. Thơ của Xuân Hương đã góp phần làm cho
đời sống văn học trở nên sôi nổi với hàng trăm bài viết, hàng trăm ý kiến khác nhau về thơ bà.
Ý kiến về thơ của bà, đặc biệt là mảng thơ Nôm, dù khen hay chê, tất thảy đều mạnh mẽ, quyết
liệt và thậm chí trái ngược nhau như nước với lửa. Thời gian trôi qua, những xúc cảm
nóng
bỏng và đầy tính nhân bản về những gì bà viết ở người đọc chuyển dần sang sự nghiền ngẫm kĩ
lưỡng. Và người đời cũng đã đánh giá tài năng văn chương của Xuân Hương một cách khách
quan hơn qua những trang viết thận trọng. Điều đó thật dễ hiểu khi tên tuổi của Hồ Xuân
Hương được đặt cạnh thi hào Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… hơn thế nữa, cái tên ấy đã vượt tầm
biên giới tổ quốc để sánh vai cùng các thi sĩ đại tài, nổi tiếng trên thế giới khi thơ của bà được
chọn dịch và giới thiệu ra nước ngoài. Nữ sĩ họ Hồ có được vị trí đặc biệt ấy trên văn đàn là bởi
những tư tưởng, những vấn đề mà bà đã đề cập được soi sáng ở mọi thời điểm
và vào lúc nào
vấn đề đó cũng mới, cũng lạ, cũng gây hứng thú vô cùng cho người đọc. Những điều đó không
nằm ngoài khát vọng của con người về hạnh phúc, về tình yêu… nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu
“tự nhiên”, rất “bản chất” của con người.
Giới tính là một trong những vấn đề luôn “nóng”, dường như trong mọi thời đại, dư luận
thường rất quan tâm đến vấn đề này. Giới tính được thể hiện ở nhiều mặt trong các loại hình
nghệ thuật, nhưng có lẽ không có loại hình nghệ thuật nào
thể hiện được vấn đề giới tính một
cách đầy đủ, trọn vẹn, có chiều sâu như trong văn chương; đặc biệt ta
bắt gặp trong thơ Hồ
Xuân Hương, giới tính là một nội dung được đề cập sắc nét, đồng thời giới tính như một
phương tiện nghệ thuật để Hồ Xuân Hương khẳng định quyền được sống đúng với bản năng
đích thực của con người.
hần kinh” [30, tr.45]. Nguyễn
Văn Hanh đã thông qua thơ ca để tái hiện lại cuộc đời, con người Hồ Xuân Hương, từ đó ông
rút ra kết luận là Hồ Xuân Hương bị khủng hoảng tình dục. Nhà nghiên cứu này đã đi sâu, lí
giải cội nguồn hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương từ bên trong, qua sự uẩn ức tâm lý.
Tiếp cận thơ Nô
m Hồ Xuân Hương theo hướng này còn có Văn Tân, trong bài Ý nghĩa
và giá trị thơ Hồ Xuân Hương trích quyển: Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ, văn học và
giáo dục, Văn Tân có đặt vấn đề tục dâm, nhưng khi phân tích, Văn Tân bị lôi cuốn theo cái ám
ảnh của vấn đề thiếu thốn cái sinh lí: “Ở Xuân Hương, dâm và tục gặp một khu đất màu mỡ
thuận tiện cho sự phát triển: sự khủng hoảng tí
nh dục luôn luôn sôi sục và trầm trọng của con
người rất mực đa tình là Xuân Hương. Dâm và tục đã ăn sâu vào ý thức tư tưởng Xuân Hương,
chi phối hầu hết thi phẩm của Xuân Hương” [87, tr.109].
Cùng quan niệm trên phải kể đến Lê Hoài Nam viết về phần Hồ Xuân Hương trong cuốn
Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, thời kì I (Gs Lê Tr
í Viễn chủ biên). Với vấn đề tục dâm ông
cho rằng muốn nhận định một tác phẩm nghệ thuật dâm hay không dâm, trước hết phải căn cứ
vào thái độ, mục đích của tác giả khi sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật, phải tìm bắt cho được
cái nỗi niềm kín, cái rung động sâu xa mà người nghệ sĩ muốn thổ lộ với người đời. Ông cho
rằng những đòi hỏi hạnh phúc ái ân trong thơ Hồ Xuân Hương là chính đáng khi đặt nó trong
hoàn cảnh xã hội nhất định, trong những điều kiện nhất định của một cá nhân [130, tr.3 - 4].
Điều đáng chú ý là trong công trình này, ông là một trong những người đầu tiên nhấn mạnh
rằng thơ Hồ Xuân Hương thể hiện một khía cạnh đầy cá tính, đó là ý thức về giá trị của mình.
Đến năm
1961, Trần Thanh Mại gợi lên trong: “Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ
Hồ Xuân Hương” khiến cho văn đàn bàn về thơ Hồ Xuân Hương lại có dịp trở nên sôi động.
Từ đó thêm nhiều ý kiến về góc nhìn này trong nội dung t
hơ Nôm Hồ Xuân Hương.
Tiêu biểu cho các tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương ở khía cạnh giới tính mà dưới tên
gọi vấn đề dâm tục là Nguyễn Lộc. Trong bài Lời giới thiệu in trong tập Thơ Nôm Hồ Xuân
nội dung nghệ thuật của thơ Nôm Hồ Xuân Hương ở một góc nhìn trần t
hế của con người. Bằng
một giọng văn hóm hỉnh và giàu trí tuệ của một người yêu thơ Nôm Hồ Xuân Hương, tác giả
của công trình nghiên cứu trên cũng đưa ra vấn đề giới tính là một điểm nhấn để lí giải cho sức
hấp dẫn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương thu hút bao thế hệ. Đây là một công trình có giá trị đối
với những người yêu thơ Hồ Xu
ân Hương nói riêng và những người yêu văn chương nói chung.
Cùng với các bài viết đã được công bố rộng rãi trên sách báo mà những người yêu mến
Hồ Xuân Hương biết tới, còn một số lượng khá lớn các bài viết được đưa lên mạng internet rải
rác trong khoảng hơn chục năm gần đây. Thế Uyên (trong Tình dục trong ca dao và thơ Hồ
Xuân Hương – nguồn Talawas năm 2005) khẳng định “nhà văn nữ mà bàn tới tình dục trong
tác phẩm t
hành văn của mình, tính từ lúc Ngô Quyền lập quốc thế kỷ thứ 10 cho đến thế kỷ 19,
vẫn chỉ có nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương” [126]. Tác giả Trịnh Thanh Thủy có bài Sex - dưới mắt
nhìn của người viết nữ Việt Nam trên trang Evan cho rằng: “Trong kho tàng văn học Việt Nam
thời xưa, người viết nữ đề cập đến tình dục nhiều nhất là nữ sĩ Hồ Xuân Hương” [103]
. Trong
đọc lại Thiếu nữ ngủ ngày của Xuân Hương của tác giả Mai Văn Hoan đăng trên trang Văn
nghệ quân đội cuối tuần ngày 18 – 04 - 2007 có đoạn: “Ở bức tranh "Thiếu nữ ngủ ngày”, Hồ
Xuân Hương đã bổ sung thêm hai "điểm nhấn" hết sức quan trọng, càng tôn thêm vẻ đẹp tuyệt
mỹ của thân thể người phụ nữ. Vì thiếu nữ "nằm chơi quá giấc nồng" giữa ban ngày ban mặt,
lại vô ý để cho chiếc yếm đào "trễ xuống dưới nương long"
nên mới lộ ra: đôi gò Bồng Đảo
sương còn ngậm/Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông"! Đúng là một vẻ đẹp thần tiên. Chỉ
cảnh tiên mới có Bồng Đảo, mới có Đào Nguyên. Gò Bồng Đảo đã đẹp rồi "sương còn ngậm"
lại càng đẹp hơn nữa. Lạch Đào Nguyên đã hấp dẫn rồi "suối chửa thông" lại càng hấp dẫn
hơn. Tất cả hãy còn trinh nguyên! Chỉ có
Hồ Xuân Hương mới bạo dạn đặc tả cái "lạch Đào
Nguyên" hết sức ấn tượng và tuyệt vời đến như vậy… nhằm tôn vinh cái đẹp trời cho của người
phụ nữ” [39]. Trong cách cảm nhận của Mai Văn Hoan, Hồ Xuân Hương m
giới nữ, những quan niệm về vẻ đẹp của hình thể con người, về tính dục trong thơ bà. Nội dung
được đặt trong sự so sánh với những quan niệm của một số văn sĩ khác trên thế giới có
tư tưởng
như bà.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này có tên gọi: “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương nhìn từ góc độ giới tính”, chúng
tôi chọn mảng thơ Nôm được truyền tụng của Xuân Hương để khảo sát. Chúng ta đều biết, cho
đến nay sáng tác được coi là của Hồ Xuân Hương gồm hai bộ phận: thơ chữ Nôm và thơ chữ
Hán. Ở đây người viết chỉ tiếp cận những tác phẩm t
hơ Nôm của Hồ Xuân Hương. Chúng tôi
chọn bộ phận thơ Nôm truyền tụng trong cuốn “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương” do GS Nguyễn
Lộc biên soạn năm 1982, ngoài ra chúng tôi cũng tham khảo những tài liệu có tính khoa học
khác như cuốn “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương” của tác giả Kiều Thu Hoạch (xuất bản năm 2008).
Nói chung, thơ Nôm Hồ Xuân Hương về nội dung vẫn hết sức phức tạp. Theo các chuyên gia
nghiên cứu văn học, khi tiếp cận thơ Nôm của Hồ Xuân Hương cần có sự chọn lọc, phân loại
thận trọng vì một số bài thơ có nhiều dị bản, khó tìm được cơ sở vững chắc, chính xác. Xét trên
những tập thơ Hồ Xuân Hương được xuất bản từ trước đến nay, chúng tôi thấy về số lượng và
phong cách không có sự thống nhất. Cho đến tận thời điểm này, khi khảo sát về con người và
văn chương Hồ Xu
ân Hương, chúng tôi chưa tìm thấy bất cứ một tài liệu nào đưa ra một số liệu
cụ thể, cũng như khẳng định chắc chắn về con người Hồ Xuân Hương và thơ Nôm của bà.
Chúng tôi nghĩ khi khảo sát thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương cần dựa trên những tài
liệu tham chiếu đáng tin cậy. Tuy vậy trong quá trình khảo sát, chúng tôi chọn 48 bài (có phụ
lục đính kèm
) - vẫn được coi là của Hồ Xuân Hương và rất có thể là những sáng tác của Hồ
Xuân Hương, vì những bài thơ này có cùng phong cách, giọng điệu và cách thức thể hiện khá
giống nhau. Tuy nhiên trong những bài mà chúng tôi chọn để khảo sát vẫn có một số bài đang
trong sự tranh luận các nhà nghiên cứu và kết quả vẫn chưa được xác định. Những tranh luận về
văn bản và những “nghi án” văn học này thiết nghĩ cũng rất thú vị nhưng xét
đến cùng thì
trong cuộc sống. Nhưng có lẽ bằng chứng thuyết phục nhất đó chính là thực tế cuộc sống. Hãy
nhìn vào t
hực tế cuộc sống và những cuộc đấu tranh vì quyền lợi con người để tôn vinh vị trí và
giá trị của con người, để thấy được ý nghĩa và bản chất đích thực của vấn đề giới tính.
Vấn đề giới tính luôn được dư luận xã hội để ý, quan tâm, nhất là hiện nay tính “sex”
trong văn chương đang là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Các cuộc tranh luận thường diễn ra
gay gắt và phức tạp, thường là sự đụng độ giữa những quan điểm v
à thái độ cực đoan trái
ngược nhau – giữa những nhà tư tưởng đạo đức với những nghệ sĩ. Xét đến cùng của những
tranh luận ấy là những ý kiến không đồng tình giữa nhân tố tự nhiên và nhân tố văn hóa trong
quá trình hình thành nhân cách con người cũng như quá trình hoàn thiện bản tính loài người.
Như đã nói ở những phần trên, thơ Nô
m Hồ Xuân Hương đã được nghiên cứu ở nhiều
góc độ. Riêng vấn đề giới tính được các nhà nghiên cứu nhìn như là yếu tố “tục, dâm” trong thơ
Xuân Hương. Trước đây tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương ở góc nhìn này đã có, giới nghiên
cứu thường quan tâm nhiều đến các vấn đề như: “tục, dâm” của Trương Tửu, Đỗ Lai Thuý lại
viết rất xuất sắc về “hoài niệm phồn thực”… Việc đề cập đến giới tính trong t
hơ Hồ Xuân
Hương thiết nghĩ vẫn còn là một lĩnh vực còn nhiều điều để suy ngẫm. Thật sự vấn đề giới tính
chưa được gọi tên đúng với bản chất hiện tượng như trong thơ Xuân Hương. Nhưng dường như
bất cứ ai k
hi tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương cũng thấy vấn đề giới tính là điểm mạnh, khía cạnh
độc đáo nhất, nổi bật nhất trong các vấn đề bà đề cập. Đặt vấn đề nghiên cứu thơ Nôm Hồ Xuân
Hương dưới góc nhìn giới tính chắc hẳn người viết sẽ tìm được những điều mới mẻ, thú vị, bổ
ích. Ở đề tài này, cùng với những người nghiên cứu đi trước, người viết hy vọng sẽ góp thêm ý
kiến nhỏ là
m rõ hơn diện mạo vấn đề giới tính trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
6. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm có 146 trang, ngoài phần mở đầu (12) trang, kết luận (5 trang), phụ
lục và tài liệu tham khảo (18 trang), phần nội dung chính của luận văn (gồm có 111 trang) chia
trùng với tình dục hay tính dục, tình dục hay tính dục vốn có hàm
nghĩa hẹp hơn.
Tình dục (tiếng Anh gọi là Sexual desire): “Tình dục hiểu là nhu cầu tự nhiên của con
người về quan hệ tính giao” [139, tr.94].
Tính dục (tiếng Anh gọi là: sexual intercourse): “Tính dục là: đòi hỏi sinh lí về quan hệ
tính giao, hay nói cách khác, tính dục là thú vui xác thịt giữa nam và nữ” [139, tr.95].
Bản năng giới tính (tiếng Anh gọi là: sexual instinct): được hiểu như “những khuynh
hướng tự nhiên, những cư xử theo một cách nào đó do bẩm sinh mà có, mà không phải từ
những lí luận hay sự giáo dục" [76, tr.82]
. Tuy nhiên chúng ta vẫn biết rằng vấn đề bản năng
giới tính của con người luôn có những đặc điểm mang ý thức, thể hiện tính nhân văn khác hoàn
toàn với cái bản năng giới tính của con vật.
Khi tìm hiểu về giới tính, người viết bắt gặp các thuật ngữ như thân xác, vấn đề nhục
thể, chu
yện xác thịt… tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng cũng nhằm nói đến vấn đề giới
tính và quan hệ giới tính. Nên người trình bày luận văn cũng mạnh dạn sử dụng những thuật
ngữ này như một sự kế thừa những công trình nghiên cứu của người đi trước trong vấn đề giới
tính.
Giới tính và quan hệ giới tính là quy luật tự nhiên, đồng thời cũng là hiện tượng hiển
nhiên trong xã hội loài người. Nếu nói “con người vừa là một sinh vật tự nhiên vừa là một sinh
vật xã hội” là nói đến giới tính. Còn tính dục chỉ là
một mặt của giới tính - mặt sinh vật tự
nhiên của con người. Như thế, giới tính thuộc về thuộc tính vật chất tự nhiên cơ bản của cấu
trúc đời sống con người. Với cách hiểu trên, thiết nghĩ, đề cập đến giới tính là đề cập đến một
vấn đề mang tính khoa học. Hơn nữa, giới tính và quan hệ giới tính là một trong những vấn đề
quyết định sự sinh tồn của xã hội. Lịch sử nhân
loại đã chứng minh vấn đề giới tính là vấn đề
tất yếu phải có trong cuộc sống. Kinh nghiệm sống của con người từ thế hệ này sang thế hệ
khác cũng thừa nhận giới tí
nh và quan hệ giới tính là nhu cầu chung của toàn xã hội. Dù vậy, ở
và trách nhiệm, lương tâm, tài năng của người nghệ sĩ.
Trước khi đi vào nội dung đề tài, chúng tôi khẳng định trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
có đề cập rất sâu sắc vấn đề giới tính cũng như yếu tố tính dục. Những yếu tố này xuất hiện
trong thơ Nô
m Hồ Xuân Hương cũng như trong rất nhiều tác phẩm văn học từ cổ chí kim, từ
Đông sang Tây, từ bình dân đến bác học. Vấn đề giới tính chính là một trong những điều đặc
biệt tạo nên sức hấp dẫn, sự lôi cuốn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
1.1.2. Nguồn gốc và bản chất của giới tính
Con người cổ xưa sống, gắn bó với tự nhiên, khi mà văn hoá, giáo dục chưa thể có khả
năng biến đổi con người thực của nó, cũng như chưa góp phần cản trở những bộc phát tự nhiên
của các khuynh hướng bên trong con người. Con người sống bản năng ấy cũng là con người ưa
thể hiện quan niệm về vũ trụ và cuộc sống bằng huyền thoại. Huyền thoại nói
lên cảm nghĩ,
kinh nghiệm và ước mơ của tổ tiên. Đây chính là cơ sở tạo nên những tầng vô thức sâu nhất của
con người chúng ta ngày nay. Như thế, muốn tìm hiểu sâu về bản chất và nguồn gốc của giới
tính, ta cần tìm về huyền thoại. Một trong những hình thức tư duy cổ xưa nhất của loài người là:
“tư duy lưỡng hợp” - Nó như chất men của sự vận động trong suốt quá
trình phát triển của văn
minh nhân loại, mà những lớp trầm tích của nó vẫn còn lưu giữ qua những câu chuyện huyền
thoại kể về nguồn gốc con người. Hay chính là những quan niệm về giới tính trong huyền thoại
của triết học và tôn giáo. Trong Kinh thánh Do Thái giáo cũng có dấu vết của cùng một huyền
thoại, người đàn bà được sinh tạo từ chiếc xương sườn của người đàn ông. Người đàn bà Eva
được làm từ xương và thịt của Adam. Adam nói: “Người này là xương bởi xương tôi, thịt bởi
thịt tôi mà ra” [93, tr.15]
. Vậy là ngay từ khởi đầu, có nam thì phải có nữ. Nam nữ kết hợp với
nhau thì mới tạo nên sự hài hòa thống nhất. Nhưng Chúa lại dạy người đàn bà phải tuân phục
đàn ông, bổn phận của người làm vợ phải phục tùng chồng mình. Với cách lí giải về nguồn gốc
của giới tính như thế, Chúa vô tình chăng? – Người đã trao quyền “thống trị đàn bà” cho đàn
ông.
Thần thoại Hy Lạp lại giải thích khác về nguồn gốc giới tính. Chỉ biết rằng, các vị Thần
hiện rất rõ trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Theo giáo sư Đinh Gia Khánh trong cuốn Văn
hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh Văn Hoá Đông Nam, ở các lễ hội, người ta vẫn thực hiện
những nghi lễ tôn giáo qua hình thức phối hợp giống đực và giống cái. Đôi khi hình thức lễ
nghi này được thể hiện nhẹ nhàng bằng cách áp đôi hai con giống lại nhau, nhưng cũng có khi
chọn một đôi trai gái thanh tân cho giao hợp. Từ đó, trong lễ hội dân gian người Việt hình thành
tục “Bắt chạch trong chu
m”, tục “Tắt đèn” cũng đặc biệt hơn cả là lễ hội “Múa mo” [47, tr.72 –
247]. Ở Hà Tĩnh và nhiều địa phương có tục thờ cúng nõ nường (nõ là cái nêm, tượng trưng cho
sinh thực khí nam
; nường là nang, mo nang, tượng trưng cho sinh thực khí nữ). Ở hội làng
Đồng Kị (Hà Bắc) có tục rước sinh thực khí (làm bằng gỗ) vào ngày 6 tháng giêng; tan hội hai
sinh thực khí được đốt đi và tro được đem chia cho mọi người mang ra rắc ngoài ruộng - hành
động này có tác dụng như một ma thuật truyền sinh cho mùa màng. Theo các cụ thì năm nào bỏ
qua tục này, trong làng sẽ có nhiều chuyện không lành xảy ra. Nhiều địa phương ở Vĩnh Phú,
Hà Bắc, Hà Sơn B
ình, trước đây vào dịp hội làng, người ta rước tới 18 bộ sinh thực khí và khi
đám rước kết thúc, mọi người tranh cướp nhau những vật này vì tin rằng nó đern lại may mắn,
no đủ cho cả năm [94]. Thời Xuân Hương cách đây vài trăm năm, chắc chắn các lễ nghi mang
tính phồn thực hãy còn tồn tại. Con người tinh ý, thông minh đến sắc sảo tuyệt vời ấy chắc chắn
không bỏ qua những sinh hoạt dân gian này mà bà còn tìm
được trong đó những khía cạnh phục
vụ cho ý đồ sáng tác của mình. Với nhận thức và tài năng như thế, sự xuất hiện vấn đề giới tính
trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một điều tất yếu.
Trở lại với thị hiếu thẩm mĩ thời hiện đại, vấn đề giới tính được nhìn nhận một cách hết
sức tích cực. Trong xã hội hiện đại, tranh khoả thâ
n, tượng khoả thân được dùng như những
món quà lưu niệm mang tính nghệ thuật, thẩm mĩ cao; thậm chí những “nữ hoàng sắc đẹp” thời
hiện đại sẵn sàng chụp ảnh khỏa thân vì một mục đích cao cả nào đó như làm từ thiện chẳng
hạn.
Ngày trước, K.Mác từng phát biểu: “cái gì thuộc về con người không xa lạ với tôi”. Và
kẻ thù nguy hiểm nhất của tôn giáo. Phần lớn các nhà thần học, tôn giáo và những người theo
chủ nghĩa cấm dục đều coi: thân xác là địa ngục của linh hồn. Nhất là làm sao để những người
tu hành không làm những điều liên quan đến xác thịt cũng như khỏi nghĩ hay mơ tưởng đến
những điều đó. Nên họ phải chiến đấu không ngừng để xua đuổi mọi hình ảnh, những ước
muốn dục tình bằng đọc kinh cầu nguyện, bằng hãm mình ép xác như nằm giường gỗ cứng, ăn
uống kham khổ vì sợ rằng không làm như thế thì có ngày “con thú” trong mình trỗi dậy. Hoặc
quyết liệt hơn phải đánh đập thân xác - như thánh Đa Minh mỗi ngày lấy roi da quất vào người
mình ba trăm nghìn cái hay như thánh Bênađô nhảy xuống hồ giá lạnh cho khỏi bị ma quỷ cám
dỗ, mà nhất là sự cám dỗ từ đàn bà. Nói như thế, tôn giáo đã vô tình ngăn chặn sự phát triển tự
nhiên của thân xác. Và thực tế thì Ki tô giáo không chấp nhận tính dục. Quan hệ tình dục bị coi
là ô uế, bẩn thỉu… Quan niệm này đã được tôn giáo thánh hóa tính dục của con người qua tích
Jesus ra đời. Kinh thánh còn ghi lại sự ra
đời “khác thường” ấy. Chuyện kể rằng Đức mẹ Đồng
Trinh trong giấc mơ được thiên thần báo mộng là sẽ mang thai, sau đó sinh ra Chúa Hài Đồng
mà không cần có quan hệ giới tính [118, tr.7-13]
. Như thế, Đạo Thiên Chúa một mặt ca tụng
con gái đồng trinh mặt khác tìm cách xóa bỏ tính dục nữ, cũng như không thừa nhận có quan hệ
tính dục ở con người, không thừa nhận sự phát triển tự nhiên của vấn đề giới tính.
Chủ nghĩa Mác Lênin coi con người “không chỉ là một sinh thể tự nhiên có tính người,
tức là tồn tại cho chính nó” [130, tr.185]. Do đó, con người phải “phải biểu lộ và
được khẳng
định như là một sinh thể đặc chủng trong tồn tại của nó và trong tri thức của nó”. Trường
Chinh cũng viết: “Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản chủ nghĩa phấn đấu vì tự do, hạnh phúc của
con người, tin ở phẩm chất và lí trí của con người, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển
tự do và toàn diện, làm cho con người thật sự làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ tự
nhiên” [130, tr.185]
. Hiểu theo cách nói ấy, thì bất kì cái gì tôn trọng, tin tưởng, ca ngợi, đề cao,
bảo vệ, phát triển con người cái đó là nhân đạo, còn ngược lại là vô nhân đạo. Quan niệm và
cách hành xử của tôn giáo như trên có thể coi là thiếu nhân đạo với con người. Dĩ nhiên đối với
các nhà dòng và nữ tu thì sự cấm kị với những gì liên quan đến giới tính được lí giải là để giữ
vào những tội nặng.
Quan niệm, tư tưởng của tôn giáo và giai cấp phong kiến đặt ra những giáo lí khắt khe
như vậy nhưng một số kẻ đại diện cho giáo lí, đạo đức, tư tưởng phong kiến lại có lối sống giả
tạo, luôn rao giảng đạo đức, thanh sạch hòng che đậy những thèm khát nhục dục… đáng cười
hơn một số người còn ham
hố những chuyện trần tục đó hơn bất cứ người nào… điều này gây
phản ứng xã hội. Có lẽ cái nhìn về vấn đề giới tính trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương bắt nguồn
từ sự phản ứng này.
1.3.2. Mỹ thuật thể hiện về vấn đề giới tính
Ngược lại với quan niệm g
iới tính của triết học và tôn giáo, mỹ thuật loài người luôn ca
tụng, đề cao vẻ đẹp giới tính mà cụ thể chính là thân xác. Trong thế giới của mỹ thuật, ở đây
người viết chủ yếu đề cập đến hội hoạ và điêu khắc, các nghệ sĩ, nghệ nhân đã thể hiện sự sáng
tạo một cách phong phú về giới tính, vẻ đẹp giới tính trong các tác phẩm của họ. Vấn đề nhục
thể, vẻ đẹp giới tính con người vốn là đối tượng nghiên cứu của các họa sĩ. Lịch sử mỹ thuật thế
giới cũng đã khẳng định cơ thể con người, thân xác con người, nhất là cơ thể của người phụ nữ
là một đề tài có
tính chất vĩnh hằng: “Vẻ đẹp cơ thể người đàn bà là công trình của tạo hóa”
(William Blake) [136, tr.34]. Dường như bất kì thời đại nào, tác phẩm sáng tạo về vẻ đẹp của
thân xác mà cụ thể là tác phẩm khoả thân (tiếng Anh gọi là nude) cũng có sức hấp dẫn đặc biệt
đối với người sáng tạo. Do đó, bài học đầu tiên của các trường mỹ thuật bao giờ cũng hướng
dẫn cách vẽ nhân thể. Nhân thể trở thành nền tảng của hội hoạ. Các nhà nhiếp ảnh hiện đại thì
coi cơ thể con người là vật sáng tạo điển hình và biến hình ở đỉnh cao nhất từ vật chất lẫn hình
thể. Các nhà nghệ thuật đều đồng ý rằng: “đề tài của nghệ thuật luôn biến đổi nhưng một đề tài
gần nhưng vĩnh hằng đối với hội hoạ và điêu
khắc là nhân thể - thân xác con người” [77, tr.59].
Các nhà nghệ thuật thời kì Phục Hưng đã xây dựng nhiều bức tượng, bức hoạ khoả thân để ca
ngợi vẻ đẹp thánh thiện của con người và đó cũng được coi là đích đến, là khát vọng vươn tới
vẻ đẹp của cuộc sống. Khi hình thể, thân xác con người được khoác lên bộ cánh của siêu hình
con người thuộc về vấn đề của nghệ thuật thì người nghệ sĩ đề cập đến vấn đề thân xác cũng đã
và đang tôn vinh vẻ đẹp thuần khiết của tạo hoá nơi con người, rồi mang cái đẹp ấy dâng tặng
cho đời dù cuộc đời, người đời có thể chưa hiểu hết họ.
Mỹ thuật về vấn đề giới tính của phương Tây phong phú là vậy, phương Đông tuy không
nở rộ nhưng cũng không kém hương sắc, phải đến với một xứ sở mang
đậm dấu ấn của văn hoá
tính dục – Trung Hoa. Xuân cung họa là những bức vẽ miêu tả nam nữ sinh hoạt giới tính trong
đủ các tư thế, chúng thường được trình bày dưới hình thức tấm tranh cuộn hoặc đóng thành tập.
Loại tranh này xuất hiện trước tiên trong
cung điện của các hoàng đế nhà Hán, về sau chúng trở
thành công cụ để dạy về tình dục. Khi con gái đi lấy chồng, cha mẹ thường để vào đáy rương
quần áo về nhà chồng vài bức tranh, như một sự bổ sung kiến thức cho con gái trong đêm tân
hôn [77, tr.147]. Một điều thú vị khi nghiên cứu vấn đề giới tính trong mỹ thuật
Trung Hoa, chúng tôi nhận thấy mục đích của những tranh ảnh đậm màu sắc tính dục ấy mang
một ý nghĩa rất đáng trân trọng là dùng để thị phạm ma thuật. Người ta dùng những lời hay ý
đẹp để tô vẽ cho tranh gợi dục. Những bức tranh ấy được coi là có phép trừ tà, đuổi quỷ và
trừ
hỏa hoạn. Theo thần thoại, khi thần lửa trông thấy cảnh làm tình, thần sẽ bối rối mà quay đi và
tránh xa những chỗ nào có treo những tranh đó. Và thế là các nhà nho có thể “công khai” treo
các bức “Kỵ hỏa đồ” kia trong thư phòng của mình [77, tr.147].
Như phần trên của luận văn đã thể hiện, Người Việt ta ngay từ xa xưa, sự ý thức về vấn
đề giới tính đã được lưu giữ trong những t
ác phẩm dân gian cổ. Nếu nhìn vào những hình người
giao hoan được khắc, vẽ trong những hang đá, trên dụng cụ sinh hoạt của những bộ tộc thời cổ,
trên trống, trên thạp đồng… ta sẽ thấy đây là những minh chứng cho thời kì lên ngôi rực rỡ của
văn hoá phồn t
hực ở Việt Nam. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm trong “Tìm về
bản sắc văn hóa Việt Nam”: “Trên nắp thạp đồng tìm được ở Đào Thịnh (Yên Bái, niên đại 500
năm tr.CN), xung quanh hình mặt trời với các tia sáng là tượng bốn đôi nam nữ đang giao
hợp” [94].
1.3.3. Giới tính trong nghệ thuật ngôn từ
1.3.3.1. Giới tính trong văn học nước ngoài
Như trên đã nói, nhân loại từ lâu đã ý thức được tính tất yếu và cả tính thẩm mỹ của giới
tính và quan hệ giới tính trong cuộc đời cũng như trong nghệ thuật. Vì đối với mỗi con người,
giới tính và quan hệ giới tính là vấn đề cốt tử của sinh tồn và phát triển, từ đó có hạnh phúc hay
khổ đau.
Giới tính và quan hệ giới tính xuất hiện từ buổi bì
nh minh của nghệ thuật ngôn từ. Thần
thoại Hy Lạp, Ấn Độ miêu tả khá tỉ mỉ vẻ đẹp giới tính của người phụ nữ. Trong thế giới quan
thần thoại, những vị thần được phác hoạ những khía cạnh tính cách giống như con người với
những đam m
ê thế tục. Người ta biết đến thần gió Vayu với tính cách hùng mạnh, nhanh nhẹn,
sinh động, nhưng cũng biết đó là một vị thần đa tình, chuyên rủ rê và ăn nằm với các Apsara
(thiên thần vũ nữ). Thần yêu hàng trăm cô gái con vua Kusanabha, nhưng các cô từ chối. Đây là
những lời tán tỉnh đường mật của thần với vũ nữ thiên thần Anjana: “Đừng giận ta, thân hình
nàng vẫn trong trắng khi ta sờ nàng. Ta ôm nàng không phải bằng xác thịt mà bằng tình yêu
trong lòng ta; cử chỉ âu yếm thần tiên của ta sẽ cho nàng sinh một con trai khoẻ mạnh không
kém gì ta…” [134, tr.1025]
. Văn học nước ngoài từ xưa đến nay có vô vàn những tác phẩm để
lại dấu ấn mạnh mẽ về vấn đề giới tính. Người Ấn Độ, Ả Rập, Trung Hoa lớn lên trong một nền
văn hoá vốn đã từng tạo nên những tác phẩm như Kamasutra, Vườn thơm hay Nhục Bồ Hoàn,
Ngọc Phòng bí kíp, Tố Nữ kinh, Hồng lâu mộng…, phương T
ây với một nền văn hóa cởi mở
hơn có Mười ngày, Trà hoa nữ, Trăm năm cô đơn…, Nhật Bản có Đèn không hắt bóng, Rừng
Nauy… Vì đây là một phần nhằm đưa ra để so sánh thấy sự tương đồng cũng như khác biệt
trong những ngã rẽ sáng tạo của những người cầm bút về vấn đề giới tính. Nên ở phần này
người viết luận văn chỉ chọn và đưa r
a một vài ví dụ điển hình cho vấn đề này.
Nhục Bồ Hoàn, Ngọc Phòng bí kíp, Tố Nữ kinh của Trung Hoa cũng như Kamasutra của
Ấn Độ là những tác phẩm cổ bàn về thuật phòng the. Trong những tác phẩm kể trên phải kể đến
dục của con người được các nhà tư tưởng nhân văn xem như luồng gió mát mà cuộc sống con
người cần phải có để xua tan đi những cơn nóng nực, bức bối, bực dọc do cuộc đời bụi bặm của
thời đại mang lại. Boccasio mạnh dạn đòi hỏi con người phải được hưởng những quyền sống
chính đáng ấy ở ngay cuộc đời trần thế như quyền được ăn, mặc, hưởng những thú vui vật chất,
kể cả thú vui xác thịt. Chống lại những đòi hỏi sinh lý bình thường ấy là phản tự nhiên, là
chống lại con người vì cái thú vui kia ai cũng m
uốn hưởng. Tất nhiên thú vui này phải dựa trên
tình yêu - thứ tình yêu xuất phát từ những tâm hồn lành mạnh, ngoài quan hệ thân xác nó luôn
đòi hỏi sự hoà hợp giữa những tâm hồn đồng điệu. Như thế mới tạo nên sức mạnh tình yêu.
Giữa vườn hoa thơm trái ngọt của văn học thế giới vẫn thường xuất hiện những tác phẩm
bàn về vấn đề giới tính con người và không ít những tác phẩm ấy đã trở thành kiệt tác của nhân
loại. Gần đây nhất là tác phẩm Rừng Nauy của một nhà văn Nhật H. Mu
rakami nổi lên như một
hiện tượng của thị trường xuất bản sách. Tác phẩm không chỉ được đón nhận nồng nhiệt ở trong
nước mà nó đã vượt biên giới đến với các nước trong khu vực và cả một số nước Châu Âu.
Trong tác phẩm này vấn đề giới tính và quan hệ giới tính được đề cập rất cụ thể. Vấn đề giới
tính của con người, cảm xúc của những lần đụng chạm d
a thịt cũng không ngại khai thác. Tuy
nhiên tác phẩm không rơi vào lối miêu tả dung tục: “… một lúc sau, nàng đưa tay lên và bắt
đầu cởi khuy bộ áo ngủ của mình… những ngón tay mảnh dẻ đáng yêu của nàng cởi dần từng
chiếc khuy từ trên xuống dưới… kh
i đã cởi hết chúng, Naoko kéo cho bộ áo trật khỏi vai rồi lôi
nó tuột hẳn xuống như một con côn trùng lột xác. Nàng không mặc gì dưới lần áo ngủ ấy…trần
truồng và vẫn quì cạnh giường, nàng nhìn tôi. Tắm trong ánh trăng dịu, thân thể của Naoko
ánh lên như da thịt sơ sinh khiến tôi thấy tan nát cả cõi lòng… khối tròn trịa căng phồng của
cặp vú, hai đầu vú nhỏ xíu, chỗ lõm vào ở phần rốn, cặp xương hông và đám lông mu, tất cả
đều tạo nên những bóng đỗ li ti lấm chấm mà hình dạng của chúng liên tục biến đổi như những
gợn sóng lăn tăn t
rải dài trên mặt hồ phẳng lặng… đường cong kiều diễm từ thắt lưng xuống
bóng gió, nôm
na, ý nhị:
- Quả đào tiên ruột mất vỏ còn
Buông lời hỏi bạn lối mòn ai đi?
- Có trầu mà chẳng có cau
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm
Hay bông đùa hóm hỉnh:
Càng già càng dẻo càng dai
Càng gãy chân chõng càng sai chân giường
Đến những cách nói lấp lửng về quan hệ giới tính:
Tầm phạch, tầm phạch, tầm phanh,
Khi vui, vui quá khi buồn buồn tênh.
Khi xưa nó đỏ như đào,
Bởi anh chơi ác nó đà thâm thâm
(Cái quạt)
Nhìn lại nền văn học truyền thống nước nhà, tình dục trong văn học Việt Nam dường như
luôn luôn là một phương thức giải thiêng. Nó thuộc phạm trù cái tục. Người Việt ta dễ dàng sử
dụng yếu tố tục này trong các câu đố ở dạng đố tục giảng thanh, hoặc đố thanh giảng tục. Và
loại câu đố này luôn luôn nói về những hành động t
ính giao, hoặc chỉ những nơi thuộc “hạ tầng
thân xác”:
- Lưng tròn vành vạnh đít bảnh bao,
Mân mân, mó mó đút ngay vào,
Thủy hỏa tương giao sôi sình sịch,
Âm dương nhị khí sướng làm sao.
(Hút thuốc lào)
- Dày như múi mít, đỏ tựa hạt hồng, giống cái lá vông
Trông như rễ ấu, xấu thì thật xấu, xem vẫn muốn xem
Nói đến thì thèm, bảo ăn lại giận.
(Sinh thực khí đàn bà)