ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––––––––––
ĐỖ THỊ HIÊN
VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM CỦA
HỒ XUÂN HƢƠNG DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI-2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––––––––––
ĐỖ THỊ HIÊN
VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM CỦA
HỒ XUÂN HƢƠNG DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyênngành: VănhọcViệt Nam
Mãsố: 60.22.01.21
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN NHO THÌN
HÀ NỘI-2016
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHQG
: Đại học Quốc gia
ĐHSP
: Đại học Sư phạm
ĐHKHXH&NV
: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
CTQG
: Chính trị Quốc gia
GD :
Giáo dục
H :
Hà Nội
KHXH
: Khoa học xã hội
tới những nhà nho cuối cùngnhư Trần Tế Xương, Tản Đà hầu hết đều là nam nhân.
Nếu có những tác giả hoặc tác phẩm của nữ giới cũng rất hiếm hoi, chỉ có thể đếm
trên đầu ngón tay như: bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm…
Nếu văn học đã chỉ đặt đứng trên một chân, và chỉ nhằm phục vụ cho một giới
(nam), thì chắc chắn vấn đề tính dục trong văn học- một vấn đề cấm kị ở thời đại
lấy tư tưởng Nho gia làm chính thống lại càng không dành cho nữ giới. Tuy nhiên,
bên cạnh những tên tuổi của các nam nhân nổi tiếng về chữ nghĩa đó lại xuất hiện
một nữ thi sĩ có phong cách nghệ thuật độc đáo, làm tốn khá nhiều bút mực của
giới nghiên cứu văn học đó là Hồ Xuân Hương. Tên tuổi của Hồ Xuân Hương hiện
nay được đặt cạnh đại thi hào Nguyễn Du và Nguyễn Trãi, qua đó cũng chứng
minh rằng nữ sĩ Hồ Xuân Hương có vị trí đặc biệt trong làng văn học nói riêng và
trong lòng mọi người dân Việt Nam nói chung.
Liệu có thật một bà Hồ Xuân Hương sống trong thời đại thanh giáo truyền
thống phương Đông, chịu sự kiềm toả chặt chẽ của các tư tưởng “tam tòng tứ đức”,
của các quy tắc ứng xử dành cho người con gái đã được dạy rõ ràng và chi tiết
trong các sách Huấn ca … mà dám mạnh bạo, chủ động trong tình yêu hôn nhân,
thậm chí còn có những phát ngôn tính dục cả gan và phóng túng như vậy hay
không? Hay đó là một hiện tượng văn học độc đáo nhằm giải toả ẩn ức, đối phó
với cấm kị bản năng? Từ những hoài nghi đó chúng tôi tìm hiểu, phân tích và đánh
giá về vấn đề tác quyền của các nhóm thơ thuộc mảng thơ Nôm truyền tụng.
Sự thú vị này càng thôi thúc chúng tôi đi sâu vào làm rõ thực hư có một
bà Hồ Xuân Hương với những bài thơ truyền tụng đậm và dày màu sắc tính dục,
hay đó là một hiện tượng văn học độc đáo đối phó với cấm kị bản năng trong bối
cảnh văn hoá, văn học đương thời?
Một lý do nữa khiến chúng tôi quyết định chọn đề tài Vấn đề tính dục
trong thơ Hồ Xuân Hương dưới góc nhìn văn hoá chính là việc thấy được vai trò
quan trọng của phương pháp nghiên cứu văn hoá học trong văn chương. Khi các
trường phái như Phê bình mới (New Criticism) hay Chủ nghĩa cấu trúc
ở những đề tài vượt ra ngoài tính quy phạm của văn chương nhà Nho, vi phạm
những cấm kỵ của chế độ chuyên chế sẽ mang lại những rắc rối, thậm chí thiếu an
toàn cho danh dự, tính mạng của người sáng tác. Điều này làm xuất hiện hiện
tượng thác lời, kí ngụ tâm sự. Hoặc có thể cho đó là cấm kị sẽ xuất hiện đối phó
với cấm kị- đó là quy luật của văn học. Ở thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân
Hương, mức độ vi phạm cấm kỵ đã vượt giới hạn có thể chấp nhận mà tác giả vẫn
không chịu hậu quả gì đáng kể, các tác phẩm thơ này vẫn tồn tại theo thời gian.
Đây là một điều rất lạ lùng.
Thứ hai, cũng như phần lý do chọn đề tài chúng tôi đã đề cập: Văn học
trung đại Việt Nam là nền văn học chịu tư tưởng của thanh giáo truyền thống, coi
thường vấn đề bản năng của con người- vậy nên vấn đề tính dục nhạy cảm, phạm
vào những cấm kị nghiêm trọng- liệu có người phụ nữ nào đã dám phát ngôn bằng
những sáng tác văn học hay không? Chắc chắn có một Hồ Xuân Hương bằng
xương, bằng thịt sáng tác thơ Nôm, nhưng liệu bà có dám phát ngôn những vấn đề
tính dục cấm kị trong bối cảnh truyền thống văn hoá- xã hội trọng nam khinh nữ,
trọng chữ khinh Nôm hay không? Chúng tôi mong muốn có thể phần nào làm sáng
tỏ được hiện tượng văn học thú vị này.
Chính vì vậy, với luận văn này, chúng tôi muốn từ những nghi hoặc của
những tiền bối đi trước; từ bối cảnh văn hoá, hệ tư tưởng; bối cảnh văn học; đặc
biệt là tiếp cận trên lý thuyết cái nhìn giới tính; tiếp tục luận giải để phần nào thấy
được những nghi ngờ đó hoàn toàn có căn cứ và nêu ra quan điểm của mình về một
quy luật văn học rất thú vị. Từ đó chúng tôi muốn phân loại ra xem đâu là thơ của
nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương và đâu là những sáng tác của nam nhân mượn giọng Hồ
Xuân Hương. Tại sao có hiện tượng đó? Và nó có ý nghĩa thế nào trong quy luật
văn học?
3.
Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
Ốc nhồi
Dỗ người đàn bà khóc chồng
Đồng tiền hoẻn
Bỡn bà lang khóc chồng
Cái quạt I
Cái nợ chồng con
Cái quạt II
Lấy chồng chung
Trống thủng
Khóc Tổng Cóc
Miếng trầu
Khóc ông Phủ Vĩnh Tường
Tát nước
Tự tình I
Dệt cửi
Chợ trời chùa Thầy
Hang Cắc Cớ
Hang Thánh Hoá
Kẽm Trống
Cảnh thu
Quán khánh
Trăng thu
Đèo Ba Dội
Hỏi trăng
Cảnh chùa ban đêm
Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận chung mà chúng tôi dự định sử dụng trong luận văn là phương pháp tiếp cận
văn hóa học. Do mỗi tác phẩm văn học đều được sinh thành trong một môi trường văn hóa nhất
định, nên việc gắn tác phẩm với thời đại văn hóa nó ra đời sẽ giúp ta tiệm cận gần hơn với chân
lý nghệ thuật. Trong nhiều chuyên luận của mình,phó giáo sư tiến sĩ Trần Nho Thìn đã đi sâu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Ngọc Côn (1963), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Nxb GD,
8.
Nguyễn Văn Dân (2011), Lý luận văn học so sánh, Nxb KHXH, H.
9.
David James (2011), Sự phát triển của lý thuyết điện ảnh ở phương Tây từ
H.
thập niên 1960 đến nay, Thuyết trình tại H.
https://watchingcafe.wordpress.com/2014/02/22/su-phat-trien-cua-ly-thuyet-dienanh-o-phuong-tay-tu-thap-nien-1960-den-nay-gs-david-james
10. Nguyễn Duy Diễn (1956), Luận về Hồ Xuân Hương, Nxb Thăng Long, Sài
Gòn.
11. Xuân Diệu (1982), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb VH, H.
12. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb
KHXH, H.
13. Nguyễn Đăng Điệp, Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn
học Việt Nam đương đại,
http://thuvien.hpu2.edu.vn:81/index.php?language=vi&nv=tapchi&op=Tap-chikhoa-hoc-so-1-Thang-9-2007/Van-de-phai-tinh-va-am-huong-nu-quyen-trong-vanhoc-Viet-Nam-duong-dai-8304, 2008.
14. Lương Văn Đang - Nguyễn Thạch Giang - Nguyễn Lộc (biên khảo – chú
giải) (1994), Những khúc ngâm chọn lọc, tập I, Nxb GD, H.
15. Đặng Anh Đào (chủ biên) (2008), Văn học phương Tây, Nxb GD, H.
16. Lưu Nguyễn Đạt (2006), Nhãn quan, con người và xã
hội,http://www.vietbang.com, 2000
17. Cao Huy Ðỉnh (1976), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam,
29. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, Nxb GD, H.
30. Bùi Văn Huyên, Hà Minh Đức (1968), Thơ ca Việt Nam: Hình thức và thể
loại, Nxb KHXH, H.
31. Nguyễn Văn Huyên (1995), Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam (Tập
1), Nxb KHXH, H.
32. Nguyễn Văn Huyên (1996), Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam (Tập
2), Nxb KHXH, H.
33. Cù Hựu, Nguyễn Dữ (1999), Tiễn đăng tân thoại – Truyền kì mạn lục,
Nxb GD, H.
34. Đinh Gia Khánh (1993), Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn
hoá Đông Nam Á, Nxb KHXH, H.
35. Trần Thiện Khanh, Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học,
diễn ngôn thơ,
http://khoavanhocngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=art
icle&id=4153%3Abc-u-nhn-din-din-ngon-din-ngon-vn-hc-din-ngonth&catid=94%3Aly-lun-va-phe-binh-vn-hc&Itemid=135&lang=vi, 2013.
36. Phương Lựu (2002), Lý luận văn học, Nxb ĐH Sư phạm H, H.
37. Hoàng Ly, Tưởng Linh Tử (1950), Văn nghệ bình dân Việt Nam, Nxb
Thanh Hoá.
38. Lê Hồng Lý (2008), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín
ngưỡng, Nxb Văn hoá- Thông tin, H.
39. Laura Mulvey, Phân tâm học và chủ nghĩa duy dương vật trong điện ảnh,
https://filmcriticvn.wordpress.com/tag/laura-mulvey/, 2009.
40. Thanh Lãng (1967), Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Nxb Phong trào văn
hoá Sài Gòn, Sài Gòn.
41. Nguyễn Lộc (2001), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế
kỉ XIX, Nxb GD, H.
42. Nguyễn Hữu Lê, Tình dục trong văn học Việt dưới cách nhìn của đạo lý
hồn nhiên và của đạo lý học thuyết, http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tracuu/tinh_duc_trong_van_hoc_viet.html, 2013
thuật, Nxb Văn hoá- Thông tin, H.
58. Phan Việt Thuỷ, Phái tính trong ngôn ngữ và văn học,
http://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/14-6-13%20gttg%2006.htm,
2006.
59. Văn Tân (1955), Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ, văn học và giáo
dục, Nxb Sông Lô.
60. Thanh Thanh (2004), Truyện cười dân gian Việt Nam, trạng cười, Nxb
Thanh Niên.
61. Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu (2005), Phong tục làng xóm Việt Nam, Nxb
Phương Đông, Tp. HCM
62. Đàm Anh Thư, Hành trình tìm kiếm ‘‘ nhân sinh chi khoái lạc’’ và sự trỗi
dậy của khát sống trong phú Nôm thời trung đại,
http://www.hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=6765
%3Ahanh-trinh-tim-kim-nhan-sinh-chi-khoai-lc-va-s-tri-dy-ca-khat-vng-sng-trongphu-nom-thi-trung-i&catid=119%3Avan-hoc-vietnam&Itemid=7243&lang=zh&site=30, 2011.
63. Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân
Hương (2014), Giáo trình văn học dân gian, Nxb GD Việt Nam, Đà Nẵng.
64. Trần Ngọc Thêm (1998), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb GD, H.
65. Nguyễn Văn Trung (1998), Ca tụng thân xác, Nxb Văn Nghệ, H.
66. Đào Thái Tôn (1996), Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục,
NXB GD, H.
67. Trần Nho Thìn (2009), Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn
hóa, Nxb GD Việt Nam, Đà Nẵng.
68. Trần Nho Thìn (2012), Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX,
Nxb GD Việt Nam, Đà Nẵng.
69. Đỗ Lai Thúy (2010), Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, Nxb Văn học,
H.
70. Lê Thị Hoài Thu (2014), Tìm hiểu sắc thái dục tính trong Truyền Kì mạn
lục, Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Đại học KHXH và Nhân Văn, H.
82. Trần Quốc Vượng (2003), Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb
Văn Học, H.