Một số vấn đề đạo đức trong kinh tế của Nho gia Tiên Tần - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG KINH TẾ
CỦA NHO GIA TIÊN TẦN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. Nguyễn Tài Thư
HÀ NỘI - 2008

MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
PHẦN NỘI DUNG
10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NHO GIA TIÊN TẦN TRONG VIỆC GIẢI

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nho gia là một hệ thống tư tưởng lớn, có vị trí quan trọng trong văn
hoá truyền thống của Trung Quốc và các nước Đông Á, trong đó có Việt
Nam. Tuy phải trải qua nhiều thăm trầm nhưng về cơ bản, Nho gia đã chiếm
vị trí thống trị trong xã hội phong kiến trước đây, là công cụ để giai cấp thống
trị quản lý quốc gia. Trong xã hội hiện đại ngày nay, chúng ta cũng không thể
phủ định sự tồn tại và ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống tư tưởng này đối với
mọi mặt của đời sống. Do đó, việc nhận thức, nghiên cứu và chọn lọc tiếp thu
những tinh hoa tư tưởng để phục vụ cho con người, xã hội hiện đại là một vấn
đề rất cần thiết và có tính chiến lược lâu dài.
Về mặt lý luận, tư tưởng của Nho gia, đặc biệt là tư tưởng của Khổng
Tử đã và đang được quan tâm nghiên cứu rất sôi nổi. Trên thế giới hiện nay
đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền
thống và hiện đại này như: Nho gia và kết cấu nhân cách lý tưởng, Nho gia và
hình tượng người trí thức, Nho gia và vấn đề tu dưỡng cá nhân, Nho gia và
luân lý gia đình và Nho gia với quản lý hiện đại, Mục đích của những
nghiên cứu này là góp phần khai thác tinh hoa truyền thống, làm cho xã hội
trở nên tốt đẹp hơn và phát triển bền vững.
Hiện nay nhiều nước chịu ảnh hưởng của Nho gia đã nghiên cứu kết hợp
giữa tư tưởng kinh tế của Nho gia nói chung và Khổng Tử nói riêng với kinh tế
hiện đại, nhằm tạo ra phương cách quản lý phù hợp với hoàn cảnh văn hoá, xã
hội đặc thù của nước mình. Và Việt Nam hiện nay cũng đã bước đầu quan tâm,
đề cập đến đề tài này ở một số góc độ, trong đó có góc độ kinh tế.
Tư tưởng Nho gia Tiên Tần chứa đựng những lý luận kinh tế và nguyên
tắc quản lý kinh tế rất có giá trị, mặc dù họ chỉ xem kinh tế là một thuộc tính của
tư tưởng chính trị - đạo đức, là điều kiện để đạt đến mục tiêu chính trị. Nhà Nho

2

nhân văn đa tầng, đa diện có ý nghĩa đối với quá trình phát triển, hoàn thiện
các lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam ngày nay, trong đó có lĩnh vực
kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Các đề tài về sự chuyển biến mới của Nho gia trong xã hội hiện đại, sự
kết hợp giữa tư tưởng Nho gia với các lĩnh vực trong thực tiễn cuộc sống đã
được giới học thuật nghiên cứu, bàn luận rất sôi nổi trong một thời gian dài
gần đây. Tư tưởng Nho gia với kinh tế hiện đại cũng là một trong số những
vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm, chú ý.
Ở Trung Quốc quê hương của Khổng Tử và Nho gia, vấn đề cũng đã
được tích cực nghiên cứu với mục tiêu kết hợp giữa truyền thống và hiện đại,
trên cơ sở đó tìm ra phương hướng cho lý luận và phương thức quản lý kinh
tế mang đặc sắc Trung Quốc. Cho tới nay, các học giả Trung Quốc đã cho ra
đời rất nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu về tư tưởng Nho gia và kinh tế
hiện đại có giá trị.
Nho gia và sự phát triển kinh tế là vấn đề được rất nhiều người quan
tâm, chú ý đặc biệt là từ sau khi Nhật Bản, một nước có truyền thống Nho
giáo, có sự phát triển thần kỳ về kinh tế và nhất là từ khi xuất hiện bốn con
rồng kinh tế mới ở châu Á. Thực tế cho thấy Nhật Bản và bốn nước công
nghiệp phát triển trên - vốn là những nước tôn sùng Nho gia trong quá khứ và
hiện nay - có sự phát triển kinh tế nhanh chóng, trong khi các nước xã hội chủ
nghĩa ở châu Á - phê phán Nho gia - lại có nền kinh tế phát triển chậm. Chính
hiện tượng này đã dẫn đến hai quan điểm trái ngược nhau:
* Quan điểm thứ nhất phủ nhận vai trò tích cực của Nho gia đối với sự
phát triển kinh tế. Phần nhiều các học giả của Việt Nam nghiêng theo quan
điểm này. Nhiều công trình nghiên cứu gần đây cho rằng Nho gia từ Khổng
Tử trở đi ít bàn, ít quan tâm đến vấn đề kinh tế, đến lợi ích vật chất mà chỉ tập

4
trung vào vấn đề chính trị, đạo đức. Trong "Nho giáo xưa và nay", tác giả

Như vậy, nhìn chung các học giả của Việt Nam phủ nhận vai trò tích
cực của Nho gia đối với sự phát triển kinh tế.
* Quan điểm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu thế giới thì lại có quan
điểm khác. Nhà Đông phương học người Pháp, L.Vandermensch cho rằng
Nho gia đã làm cho kinh tế Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển nhanh, còn Việt
Nam sở dĩ kinh tế phát triển chậm vì Nho gia ở Việt Nam không phát triển
bằng hai nước trên [18, 84].
Một giáo sư trường Đại học Kim Sơn, Hàn Quốc, ông Kim Nhật Tân
nói: "Nho giáo là nền văn hoá quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế các nước
Đông Á phát triển" [18, 303].
Một giáo sư Viện Dân tộc Trung ương của Đài Loan, ông Ngưu Kim
Chung, cho rằng: "Nho giáo ít nhất không gây trở ngại cho việc hiện đại hoá
và thậm chí nó còn có tác dụng tích cực" [18, 304].
Nhà nghiên cứu Nhật Bản Michi Morishima, trong cuốn "Chủ nghĩa tư
bản và Nho giáo", cho rằng Nho gia nằm trong di sản văn hoá, nếu khinh rẻ
nó thì sẽ không có sự phát triển [18, 300].
Song nhiều người cho rằng Nho gia không phải là động lực trực tiếp
đối với kinh tế, nhưng theo họ, nó tác động một cách gián tiếp đến sự phát
triển kinh tế thông qua con người. Điều đó thể hiện ở chỗ nó góp phần bồi
dưỡng phẩm chất đạo đức của con người, nó góp phần xác lập mối quan hệ
giữa cá nhân và xã hội. Nho gia không đề cao chủ nghĩa cá nhân mà đề cao
tính cộng đồng, Nho gia không đề cao cuộc sống hưởng thụ mà đề cao tinh
thần tự lực, tự cường, ý chí cống hiến (Nghĩa) cho xã hội, chứ không phải ý
thức đòi hỏi hưởng thụ (Lợi). Thực tế phát triển kinh tế của Nhật Bản và bốn
con rồng châu Á, hoặc nhiều, hoặc ít đã chứng minh điều đó, và cho thấy đặc

6
điểm của hoạt động kinh tế theo kiểu phương Đông là kết hợp kinh tế thị
trường với đạo đức Nho gia.
Tóm lại, hai quan điểm trên mâu thuẫn với nhau và mỗi loại đều có lý

Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Triết học Mác -
Lênin về xã hội và con người.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp
biện chứng duy vật của Triết học Mác - Lênin kết hợp với một số phương
pháp khác như: phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học, phương pháp lôgíc
và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp đối chiếu và so
sánh, phương pháp liên ngành khoa học xã hội.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : một số quan niệm đạo đức trong tư tưởng
kinh tế của Nho gia Tiên Tần có ý nghĩa đối với sự vận hành kinh tế hiện đại.
Phạm vi nghiên cứu :
- Tài liệu nghiên cứu về các nhà Nho Tiên Tần, trong đó chủ yếu là
Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử.
- Tài liệu gốc có liên quan như sách Tứ thư, sách Tuân Tử.
- Luận văn chủ yếu tập trung khai thác một số phương diện đạo đức
tích cực, phù hợp với thời đại và có giá trị của tư tưởng kinh tế Nho gia Tiên
Tần, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý kinh tế.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn khẳng định và làm rõ một số phương diện đạo đức có giá trị
trong tư tưởng kinh tế của các nhà Nho Tiên Tần đối với quản lý kinh tế hiện
đại. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm
nghiên cứu về quản lý kinh tế và sự chuyển biến mới của Nho gia trong xã hội
hiện đại.

8
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 6 tiết.

9

trọng lẫn nhau giữa con người với con người. Về cơ chế quản lý, Khổng Tử
đề ra “đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ” với mong muốn khuyến khích, khiến cho
con người có thể tự giác tuân thủ theo các quy định, nguyên tắc quản lý và
chủ động, tích cực trong công việc. Khổng Tử còn đưa ra mục tiêu quản lý
của mình, đó là “an nhân”. Mục tiêu quản lý này đóng vai trò là một loại mục
tiêu quản lý trừu tượng, có tính phổ biến và tinh thần của nó phù hợp với hoạt
động quản lý của các thời đại khác nhau và trong các xã hội khác nhau. Đây
là những điểm nổi bật nhất trong lý luận quản lý “dĩ nhân vi bản” của Khổng
Tử và đó chính là cơ sở để giải quyết những vấn đề kinh tế của Nho gia Tiên
Tần.
1.1. Nhân tính luận trong Nho gia Tiên Tần
Lịch sử của hoạt động quản lý cũng lâu đời như nền văn minh của nhân
loại, mọi hoạt động của con người đều cần có sự quản lý. Quản lý suy cho
cùng đều là quản lý con người. Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của
hoạt động quản lý. Vì vậy, trong thực tiễn quản lý lâu dài của mình, loài
người đã nhận ra rằng: việc nghiên cứu con người, nhận thức con người là
một điều rất quan trọng để thực hiện mục tiêu quản lý, tiến hành quản lý,
khiến cho những người bị quản lý tự giác tuân thủ các quy định, phát huy tính
chủ động và năng động của mình. Những điều này đều có liên hệ rất mật thiết
với góc độ chính xác và sâu sắc của nhận thức nhân tính. Các nhà tư tưởng đã
phải tốn rất nhiều tâm sức vào việc nhận thức con người, tìm hiểu về nhân
tính và cũng đã đưa ra nhiều học thuyết về vấn đề này. Mặt khác, nhân tính
cũng là tiền đề tất yếu của lý luận quản lý. Trên thực tế, bất kỳ lý luận nào
cũng lấy một nhân tính luận nhất định làm tiền đề cơ bản của mình.
Các nhà tư tưởng Trung Quốc từ rất sớm đã đi sâu tìm hiểu và có được
một hệ thống quan niệm khá hoàn chỉnh về con người, về nhân tính và mối
quan hệ giữa con người và phương pháp quản lý con người. Trong số đó

11
không thể không nói đến tư tưởng Khổng Tử và những lý thuyết về nhân tính

Học thuyết của Nho gia Tiên Tần, tiêu biểu là học thuyết của Khổng Tử
có bao hàm tư tưởng kinh tế rất phong phú. chúng còn có giá trị rất lớn trong
thời kỳ hiện đại của Trung Quốc. Hơn nữa, nó còn ảnh hưởng rất lớn đến các
nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singgapo và Việt Nam. Tư
tưởng kinh tế Khổng Tử mang màu sắc nhân bản rõ nét, nó xuất phát từ việc
coi trọng con người, lấy nhân tính thiện làm nền tảng, lấy trật tự đạo đức làm
hạt nhân, lấy an dân, phú dân làm mục tiêu quản lý, từ đó xây dựng nên mô
thức quản lý đầy nhân tính. Việc nghiên cứu những tư tưởng của Nho gia
Tiên Tần về con người và nhân tính trong quản lý thật sự có ý nghĩa đối với
vấn đề kinh tế hiện nay.
Khổng Tử rất coi trọng vị trí và tác dụng của con người trong xã hội.
Trước tiên, ông luôn khẳng định giá trị của con người, thừa nhận nhân cách
độc lập của con người. Trong “Hiếu kinh - Chương Thánh trị” có dẫn câu nói
của Khổng Tử: “Thiên địa chi tính, nhân vi quý” (giữa các loài có tính trong
trời đất, con người là quý nhất). Có thể nói, tư tưởng “quý nhân” của Khổng
Tử trong câu nói này chính là quan niệm nền tảng của quan điểm kinh tế của
Khổng Tử và các nhà Nho Tiên Tần.
Khổng Tử luôn nhấn mạnh giá trị của con người. Con người quý hơn
đạo, “Tử viết: Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân” (Khổng Tử nói:
Người phát huy được đạo, chứ đạo không phát huy được người) [30, 487];
con người quý hơn quỷ thần: “Tử viết: Vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ” (
Khổng Tử nói: “Chưa biết thờ người, làm sao có thể thờ quỷ” [30, 393];
Trong sách Lễ ký - Lễ vận viết con người quý hơn cả trời đất: “Cố nhân giả,
thiên địa chi tâm dã, ngũ hành chi đoan đã, thực vị, biệt thanh, bị sắc nhi sinh
giả dã” (Con người là tâm của trời đất, đầu mối sinh ra ngũ hành, sinh ra biết

13
phân biệt mùi vị, âm thanh, màu sắc”. Tóm lại, theo Khổng Tử, con người là
quý giá nhất trên thế giới này, là linh hồn của vạn vật trong vũ trụ.
Thái độ khẳng định, đề cao giá trị con người này của Khổng Tử có ý

người được ban cho là lương thiện. Con người sinh ra đã có lòng trắc ẩn
(thương xót), tu ố (biết hổ thẹn), từ nhượng (từ chối không tiếp nhận) và thị
phi (biết phân biệt phải trái); khi đem mở rộng và phát triển chúng thì chúng
sẽ trở thành những bản tính lương thiện: nhân, nghĩa, lễ, trí. Do đó, theo
Mạnh Tử, con đường tạo dựng xây đắp nhân tính, dẫn dắt con người làm điều
thiện là ở chỗ “tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính” (Bảo tồn lương tâm mình, nuôi
dưỡng bản tính của mình) [30, 755]. Nổi bật lên ở đây là chữ “dưỡng”. Tồn
tâm dưỡng tính trước tiên phải bắt đầu từ người quản lý và nó cũng có quan
hệ rất lớn với người bị quản lý. Mạnh Tử chỉ ra: “Dĩ thiện phục nhân giả, vị
hữu năng phục nhân giả dã. Dĩ thiện dưỡng nhân, nhiên hậu năng thiên hạ.
Thiên hạ bất tâm phục nhi vượng giả, vị chi hữu dã” (Người quản lý dựa vào
điều thiện để khiến cho mọi người phải phục tùng thì chưa đủ, còn cần phải
dựa vào điều thiện đó để giáo dục, bồi dưỡng họ, sau đó mới có thể làm cho
họ phục tùng. Việc mọi người không tin phục người quản lý thì không thể tạo
ra được sự thịnh vượng) [30, 719], ý muốn đem cái thiện của nhân, nghĩa, lễ,
trí để đào luyện giáo dưỡng con người, như thế mới có thể làm cho người
trong thiên hạ thực sự quy phục. Vì vậy, “tồn tâm dưỡng tính” cho đến
“dưỡng nhân vi thiện” là con đường duy nhất để quản lý quốc gia.
Tuân Tử thì chủ trương “Tính ác luận”, cho rằng con người sinh ra vốn
đã có bản tính “cơ nhi dục bão, hàn nhi dục noãn, lao nhi dục tức, hiếu lợi nhi
ố hại” (Đói thì muốn ăn no, rét thì muốn ấm, mệt thì muốn nghỉ, thích lợi mà
ghét hại), nếu thuận theo tự nhiên, không tiến hành hạn chế thì sẽ dẫn đến
loạn. Vì vậy, con đường nhào nặn xây dựng nhân tính, dẫn dắt nhân dân làm
điều thiện chính là ở “hoá tính khởi nguỵ”, ở đây nổi bật là chữ “hoá”. Nội
dung của “hoá tính” ở đây bao gồm phương thức cử chỉ và phong tục tập

15
quán. Trong hoàn cảnh nhất định và tập quán hành vi nhất định, qua sự góp
nhặt, rèn luyện lâu ngày thì bản tính của con người có thể dần được cải biến.
Người quản lý hiểu đạo lý “hoá tính” nói trên thì cần đảm nhiệm trách nhiệm

lý, trước tiên cần phải đề cập đến tư tưởng “nhân giả ái nhân” của Nho gia
Tiên Tần.
Trong toàn bộ học thuyết của Khổng Tử, chữ “nhân” chính là tư tưởng
hạt nhân, đồng thời đó cũng chính là sợi dây xuyên suốt lý luận quản lý của
ông, “nhân” là đối tượng trong quản lý. Theo Nho gia, bản chất của quản lý là
“trị nhân” (trị người), tiền đề của quản lý là “nhân tính”. Tóm lại, tất cả đều
không thể xa rời “nhân”.
Trong sách “Luận ngữ” của Khổng Tử, chữ “nhân” được xuất hiện hơn
109 lần. “Thuyết văn” giải thích chữ “nhân” như sau: “Nhân, thân dã, tòng
nhân tòng nhị”- kết cấu chữ “nhân” bao gồm chữ “nhân” là người và chữ
“nhị” là hai, ý nghĩa chỉ mối quan hệ giữa hai con người, giữa con người với
con người, thể hiện là: thừa nhận cả ta và người đều là hai con người như
nhau, hai con người có nhân cách độc lập, thể hiện quan hệ giữa con người
với con người. Con người là sinh vật xã hội hoá, không phải là những cá thể
sống đơn độc mà luôn tồn tại trong mối quan hệ qua lại, liên hệ lẫn nhau. Vì
vậy, quan hệ xã hội giữa con người với con người là mối quan hệ cơ bản nhất
của con người, của xã hội. Không có sự quan hệ qua lại, hợp tác giữa con
người với con người thì sẽ không có xã hội, quy luật xã hội, Khổng Tử đã
sớm thấy được tầm quan trọng của các mối quan hệ này. Vì vậy ông đặt trọng
tâm nghiên cứu của mình vào “con người”, mối quan hệ giữa họ và đưa ra
khái niệm “nhân”, tạo ra nền tảng tinh thần cho toàn bộ nền văn hoá Trung
Hoa.
Nội hàm của “nhân” vô cùng phong phú, nhưng cơ bản nhất là “ái
nhân”. Như học trò Phàn Trì hỏi Khổng Tử “nhân” là gì, Khổng Tử đã trả lời:
“Ái nhân” [30, 418]. Ái nhân theo Khổng Tử, ông yêu cầu giữa con người với

17
người phải yêu thương nhau, tôn trọng nhau. Tư tưởng ái nhân này của Khổng
Tử trước tiên được thể hiện ở sự khẳng định giá trị con người trong xã hội.
Trong “thiên Hương đảng, sách Luận ngữ” có ghi câu chuyện như sau: Một

của quá trình đào luyện, uốn nắn nhân tính, xây dựng nên mô thức quản lý
nhân tính. Theo Khổng Tử và các nhà Nho Tiên Tần, một người mà đến cha
mẹ mình còn không có hiếu thì anh ta không thể có được tấm lòng nhân ái.
Vì vậy, việc yêu người phải bắt đầu từ những người thân thiết của mình trong
gia đình, gia tộc, sau đó mở rộng ra khắp mọi người và vạn vật xung quanh.
Tình cảm thương yêu con người cũng có thể khiến cho xã hội trở nên cân
bằng, yêu vạn vật sẽ tạo ra sự cân bằng trong sinh thái tự nhiên. Cân bằng xã
hội và trong sinh thái tự nhiên chính là điều kiện quan trọng để thực hiện mục
tiêu quản lý.
Trong học thuyết của Khổng Tử, “nhân” là nấc thang đạo đức cao nhất
của con người, của đời người. Muốn đạt được đến điều “nhân”, làm được đến
“ái nhân” không phải là chuyện dễ dàng. Trong “chương Ung Dã, sách Luận
ngữ” có viết: Có lần Tử Cống hỏi Khổng Tử: “Nếu một người có thể đem ân
huệ đến cho mọi người, tạo cho mọi người cuộc sống ấm no đầy đủ thì có thể
coi là người nhân không?” Khổng Tử tra lời: “Người đó không chỉ là người
nhân mà đã là thánh nhân rồi! Đến đức Nghiêu Tuấn cũng khó mà làm được
như vậy. Người có nhân là người bản thân muốn lập mà lập cho người khác,
bản thân muốn thông đạt mà làm cho người khác cũng được thông đạt. Xuất
phát từ mong muốn bản thân mình mà thúc đẩy người khác. Đó có thể coi là
phương pháp để đạt đến điều nhân” [30, 314].
Còn trong “chương Nhan Uyên, sách Luận ngữ”, viết: Trọng Cung hỏi
làm thế nào để thực hành đạo nhân, Khổng Tử trả lời: “Lúc ra cửa phải trang
trọng, nghiêm chỉnh giống như sẽ gặp khách quý, sai khiến dân chúng phải
cẩn thận, trang nghiêm giống như hành đại lễ. Những gì mình không thích thì
không được áp dụng cho người khác. Như vậy, trong nước mới không có ai

19
oán hận ngươi, trong nhà không có ai oán hận ngươi” [30, 412] và để thưch
hành đạo nhân, Khổng Tử còn nói: “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi
đạt nhân” (bản thân muốn lập mà lập cho người khác, bản thân muốn thông

Qua đây, ta có thể thấy sự khác biệt giữa “trung” và “thứ”. “Trung” là thái độ
chân thành đối với con người và vạn vật xuất phát từ nội tâm, lấy thái độ đó
để làm việc, mưu sự cho người khác. “Thứ” là dựa vào tấm lòng nhân ái của
mình để đoán định lòng người khác, từ đó xử lý được tốt đẹp, chính xác các
mối quan hệ xã hội và biết thông cảm, lượng giải cho những điều chưa được
chu toàn và không thoả đáng của người khác.
Đạo trung thứ của Khổng Tử có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với hậu thế.
Có người còn cho rằng: Người bình thường nếu nắm được đạo trung thứ thì sẽ
có thể trở thành người “nhân”, còn người quản lý mà nắm được đạo trung thứ
thì sẽ có khả năng quản lý tốt khắp cả thiên hạ.
Trong xã hội loài người, trong tổ chức doanh nghiệp từ xưa đến nay,
tình cảm yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương ái vẫn luôn được
khẳng định và hướng tới. Hiện nay, trong quản lý kinh tế hiện đại cũng cần
phải thực thi ái nhân bên cạnh việc áp dụng các chế độ kỷ luật nghiêm khắc.
Tóm lại, một doanh nghiệp nếu tạo ra được môi trường hợp tác tương
thân tương ái, tôn trọng, yêu thương lẫn nhau giữa các cán bộ quản lý, giữa
các nhân viên, cán bộ quản lý với nhân viên, giữa doanh nghiệp và người tiêu
dùng, xã hội thì doanh nghiệp này nhất định sẽ có được sức mạnh nội tại rất
lớn, khả năng cạnh tranh mạnh, và tất nhiên theo đó sẽ là những lợi ích kinh
tế lớn.
1.3. “Đạo chi dĩ đức” - Quan điểm về cơ chế điều hành quản lý của
Nho gia Tiên Tần
Trong thời đại của Khổng Tử có hai loại phương thức quản lý: một là
“đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ”, coi trọng sự dẫn dắt, chỉ dạy, giáo hoá; còn một
loại là “đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình”, nặng về cưỡng chế, trừng phạt.

21
Khổng Tử chỉ ra: hiệu quả của hai phương thức này hoàn toàn khác nhau. Nếu
người quản lý dùng đạo đức để dẫn dắt, dùng lễ pháp để ước thúc thì sẽ có
được hiệu quả “hữu sỉ thả cách” - người bị quản lý sẽ có cảm giác xấu hổ,

làm gốc mà không nên nhấn mạnh một cách phiến diện các hình phạt, giết
chóc. Đây chính là cái gọi là “Thiện nhân vi bang bách niên, diệc khả dĩ thắng
tàn khử hát hĩ” (Nếu có những người lương thiện nối tiếp nhau làm việc nước
trong trăm năm, cũng có thể cảm hoá kẻ tàn bạo trở thành lương thiện) [30,
432]. Vì vậy, Khổng Tử mới nói rằng: “Thính tụng, ngô do dân dã, tất đã sử
vô tụng hồ” (Xử lý kiện tụng ta cũng giống như người khác. Nhưng theo ta thì
nhất định phải làm cho sự kiện tụng hoàn toàn bị mất đi thì mới tốt) [30, 415].
Có một lần, Quý Khang Tử xin thỉnh giáo Khổng Tử về việc cai trị: “Nếu như
giết hết những kẻ xấu mà gần gũi thân cận với người tốt thì thế nào?”, Khổng
Tử đáp: “Người xử lý việc chính trị, tại sao phải giết chóc? Người muốn làm
cho quốc gia trở nên tốt đẹp thì trăm họ sẽ tốt lên. Đức hạnh của người lãnh
đạo giống như gió, đức hạnh của nhân dân trăm họ giống như cỏ, gió thổi về
hướng nào thì cỏ ngả theo hướng đó” [30, 416]. Qua đây Khổng Tử đã khẳng
định làm việc chính sự là dùng đạo đức để dẫn dắt, quy thuận dân chúng.
Tuy nhiên, Khổng Tử cũng không hoàn toàn chủ trương không dùng
đến hình luật. Ông đã từng nói rằng: “Quân tử hoài hình, tiểu nhân hoài huệ”
(Người quân tử để tâm đến hình phạt, kẻ tiểu nhân để tâm đến ân huệ) [30,
272]. “Hoài hình” ở đây chính là chủ trương người thống trị phải quan tâm
đến hình pháp. Ông còn chỉ ra “Hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc”
(Hình phạt không đúng, không hợp lý thì dân không biết để tay chân vào đâu)
[30, 430]. Điều này chứng tỏ, Khổng Tử không phản đối “hình” mà chủ
trương hình phạt phải “trúng”, phải thích đáng, đúng mức. Mặt khác, theo
Khổng Tử, đạo đức so với hình pháp dễ được lòng dân hơn, từ đó có thể đạt
được hiệu quả quản lý cao hơn và lâu dài hơn. Phái Pháp gia và Hàn Phi Tử
đều cho rằng, quản lý bằng cách giáo hoá đạo đức không thể nhanh chóng

Trích đoạn “An nhân” Mục tiêu quản lý của Nho gia Tiên Tần CỦA NHO GIA TIÊN TẦN VỚI VIỆC QUẢN LÝ KINH TẾ HIỆN ĐẠ Các quan điểm cơ bản trong tư tưởng kinh tế của Khổng Tử Những vấn đề đạo đức có tính định hướng cho hoạt động kinh tế của Nho gia Tiên Tần và ý nghĩa của nó trong kinh tế hiện đạ Thành tín của Nho gia Một nguyên tắc để củng cố các mối quan hệ kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status