VẤN ĐỀTÍNH DỤC TRONG THƠNÔM HỒ XUÂN HƯƠNG DƯỚI GÓC ĐỘSO SÁNH - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Ngọc Châu
VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM HỒ
XUÂN HƯƠNG DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Tôi cũng xin cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, và gia đình đã động viên, ủng hộ tinh thần tôi
trong suốt thời gian qua.

TP. HCM, ngày 30/11/2010

DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Hoàng Trung Thông trong bài “ Hồ Xuân Hương – Người đó là ai” có những câu thơ khá hay
viết về Hồ Xuân Hương:
…Nàng Hương ơi
Người ta bình luận về dâm và tục trong thơ nàng
Nhưng tôi vẫn thấy mùi hương phảng phất
Mùi hương của thơ ca.
…………………………………………….
Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, người con gái họ Hồ quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An ấy đ
ã xuất
hiện trên thi đàn văn học như một cơn gió lạ, thổi tung lớp rêu phong cổ kính của chế độ phong kiến
già nua và rải khắp nhân gian mùi hương kì diệu: hương của đất, của nước, của gió, của trăng, của
đá, của rêu, của lạch, của khe, của những hội hè đình đám (đánh đu), của những sinh hoạt đời
thường (tát nước, dệ
t cửi), đến cả chiếc bánh trôi, con ốc nhồi, chiếc lá đa cũng dậy hương dưới bút
thơ của nàng. Đó là mùi hương của sự sống phập phồng, của xuân tình phơi phới, của khát khao
cháy bỏng, của nhựa sống tràn trề…Đó là tất cả những gì rạo rực, đắm say nhất, tự nhiên nhất và vì
thế mà cũng mang đậm tính người nhất.
Và từ ấy đế
n nay, Hồ Xuân Hương đã trở thành một hiện tượng độc đáo vượt chặng đường dài
của không gian, thời gian đến tận hôm nay vẫn hiện diện trong đời sống văn học của chúng ta.

Xuân Hương là vấn đề tính dục.
Từ trước đến nay, vấn đề này trong thơ Hồ Xuân Hương có nhiều cách đánh giá, lý giải khác
nhau. Trước kia, Trương Tửu, Nguyễn Văn Hanh giải thích vấn đề tính dục - mà hai ông gọi là yếu
tố tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương, dựa trên lý thuyết phân tâm Freud là kết quả của quá trình
thầ
n kinh nữ sĩ có những ẩn ức tình dục. Về sau một số nhà nghiên cứu hoặc dựa vào cơ sở xã hội
học hoặc lấy văn hóa học làm nền tảng, luận giải thơ Hồ Xuân Hương mượn yếu tố tục, dâm để
phản kháng lại những bất công thối nát của xã hội phong kiến; thậm chí có nhà nghiên cứu còn tôn
vinh Hồ Xuân Hương là nhà cách mạng có tư tưởng tiến b
ộ và thái độ dũng cảm. Gần đây nhất,
những nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy đặt lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương dưới góc
nhìn của tín ngưỡng phồn thực…. Do khả năng hạn hẹp, chúng tôi không có tham vọng đưa ra một
ý kiến, quan niệm hay cách lý giải mới nào về vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương, mà chỉ
muốn qua luận văn này bày tỏ một cách ngh
ĩ riêng.
Theo chúng tôi, thơ Nôm Hồ Xuân Hương có cách thể hiện thật dí dỏm, tinh nghịch, cách nhìn
và nghĩ thật hồn nhiên, đôi bài với cách nói nước đôi, ngôn ngữ đa nghĩa tài hoa đã khéo léo mở ra
trường nghĩa ngầm; lạ lùng, độc đáo hơn nét nghĩa nào cũng gợi người đọc tự nhiên liên tưởng đến
vấn đề tính dục: các bộ phận sinh dục nam nữ, những hoạt động tính giao….thậm chí từ cả
hình
sông thế núi hay tư thế lao động, những hoạt động vui chơi hội hè ….cũng gợi người đọc tự nhiên
nghĩ đến, hướng đến “cái ấy”, “chuyện ấy”. Nhưng nếu cứ cho là trong thơ Hồ Xuân Hương có sử
dụng yếu tố tính dục đi chăng nữa thì quan trọng là nữ sĩ sử dụng nó nhằm mục đích gì? Đâu phải
cứ sáng tác nghệ thuật nào có
đề cập đến chuyện ái ân trai gái, vấn đề tính dục thì đều bị coi là dâm
ô, gợi dục. Đó là quan niệm hẹp hòi và có phần phiến diện. Nên chăng khi xem xét, đánh giá một
vấn đề cần đặt nó trong cái nhìn tổng thể, toàn diện với nhiều mối quan hệ: hoàn cảnh lịch sử, mục
đích sáng tác, quan niệm thẩm mĩ của người sáng tác….
Bằng cách so sánh thơ Nôm của Hồ Xuân Hương với một số sáng tác tr
ữ tình có xuất hiện yếu tố

sư Lê Trí Viễn trong “Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương” c
ũng cho rằng thơ Nôm xác định tương đối
chính xác là của Xuân Hương thì có độ khoảng bốn mươi bài. Luận văn sẽ không xét những bài thơ
Nôm trong “ Lưu hương ký” vì có phong cách khác, không liên quan nhiều đến đề tài tìm hiểu của
luận văn.
Trong văn học dân gian, chúng tôi sẽ khảo sát một số câu ca dao, tục ngữ, câu đố có yếu tố tính
dục. Trong văn học trung đại, chúng tôi sẽ khảo sát một số câu thơ, đ
oạn thơ có yếu tố tính dục
trong các tác phẩm: Truyện Kiều – Nguyễn Du ; Cung oán ngâm khúc – Đặng Trần Côn, Chinh phụ
ngâm – Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn, bản dịch chữ Nôm: Đoàn Thị Điểm, Song Tinh Bất
Dạ của Nguyễn Hữu Hào.

Trong văn học hiện đại. chúng tôi sẽ khảo sát một số bài thơ có yếu tố tính dục trong các tác
phẩm của Xuân Diệu, Bích Khê và Vi Thuỳ Linh. Cụ thể như sau:
 Xuân Diệu: chỉ tìm hiểu những tác phẩm viết trước Cách mạng tháng Tám trong hai tập: Thơ thơ
(1938), Gửi hương cho gió (1945).
 Bích Khê: một số bài trong hai tập thơ: Tinh Huyết (1939), Tinh Hoa (1941).
 Vi Thùy Linh: một số bài thơ trong b
ốn tập thơ: Khát”( 1999), “Linh” (2000), “Đồng Tử”(
2005),“ Vili in love”( 2008).
Đồng thời chúng tôi mạn phép có tham khảo những công trình nghiên cứu từ trước tới nay có
liên quan đến vấn đề tính dục và thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương.
4. Lịch sử vấn đề
Hồ Xuân Hương là một nhà thơ lớn của dân tộc. Thế nhưng, cho đến nay, cuộc đời và sự
nghiệp sáng tác củ
a bà vẫn là “ cuộc tìm kiếm giữa màn sương huyền thoại”. Là một hiện tượng văn
học nên dù số lượng tác phẩm để lại không nhiều, trong đó có cả những tác phẩm vẫn còn hồ nghi
về gốc tích tác giả, nhưng qua nhiều thời đại, cuộc đời và sự nghiệp văn học của Hồ Xuân Hương
vẫn luôn tạo ra nhiều luồng đánh giá, nhận định khác nhau, thậ
m chí có cả những tranh luận, ý kiến

hãm. Trong Hồ Xuân Hương, Tác phẩm, Thân thế và văn tài, Nguyễn Văn Hanh viết: “ Xuân
Hương không bao giờ thoả thích dục vọng, nàng bị dồn ép luôn luôn. Nàng bệnh thầ
n kinh. Dục
tình chiếm cả đầu óc, ám ảnh nàng mãi. Nó nhuộm các tư tưởng của nàng. Bao nhiêu thơ của Xuân
Hương đều biểu lộ sự khao khát, sự bất mãn. Dục tính được biến chuyển qua mỹ thuật trong thơ”
[19:111]. Còn Trương Tửu trong Kinh thi Việt Nam lại cho rằng Hồ Xuân Hương có “căn tính
dâm”, là “thiên tài hiếu dâm đến cực điểm", “ cái nhãn quan độc nhất của Hồ Xuân Hương về sự
v
ật là một nhãn quan dâm” [76:104]. Cùng quan điểm với hai nhà phê bình trên, Văn Tân cũng chịu
ảnh hưởng của lý thuyết phân tâm học Freud khi cho rằng Hồ Xuân Hương do phải sống trong cảnh
thiếu thốn tình cảm, góa bụa cô đơn nên “ tất không khỏi bị những đòi hỏi về tính dục giày vò”. Mặt
khác, Vân Tân còn kết hợp so sánh với văn hóa dân gian để chỉ ra điểm kế thừa yếu tố tính dục
trong thơ Hồ
Xuân Hương là từ “cái tục, cái dâm ở ca dao tục ngữ và ở những câu đố tục giảng
thanh……đã hòa hợp với sự khủng hoảng tính dục trầm trọng ở con người Xuân Hương để tạo nên
một phần ý thức tư tưởng của Xuân Hương, rồi chi phối hầu hết thi phẩm của Xuân
Hương”[62:115].
Nhìn chung, các ý kiến trên có phần hơi phiến diện, cực đoan khi chỉ
đi sâu lý giải cội nguồn
của hiện tượng tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương ở góc độ những uẩn ức của đời sống tình cảm,
tâm lý, nghĩa là chỉ chú trọng con người sinh lý, tâm lý mà bỏ quên con người xã hội , con người
nhân văn… trong mối quan hệ hữu cơ của con người.
Khuynh hướng tán dương, ngợi ca có thể kể đến các công trình, bài nghiên cứu như Lê Dư trong
cuốn Nữ lưu vă
n học sử đã nhận xét: “ Văn Nôm của nàng thật có đặc tài đặc thú, đứng hẳn riêng là
một thi gia, cứ kể cho là vô song được, thơ nàng xưa nay ai cũng kêu là có ý thô tục, nhưng xét kỹ
tục mà thanh…”.
Giáo sư Trần Thanh Mại lại chia thơ Hồ Xuân Hương ra ba loại: một loại gồm những bài có tính
tư tưởng và nghệ thuật thanh nhã, một loại gồm những bài có yếu tố tục và loại thứ ba là nh
ững bài

N.I. Niculin- giáo sư tiến sĩ ngữ văn người Nga, còn so sánh việc thể hiện nội dung tính dục
trong thơ Hồ Xuân Hương rất giống với cách thể hiện của Rabelais:
“ Trong sáng tác của bà, cũng như thường hay thấy ở các nhà thơ Việt Nam, thơ trữ tình phong
cảnh chiếm một vị trí quan trọng và điều này không có gì đáng lạ. Đ
áng lạ chăng chính là bản thân
những bức phác hoạ phong cảnh của Hồ Xuân Hương. Ở đây nhục tình đã xâm nhập vào cũng như
trong những bài thơ khác của bà. Con người, thân thể con người tựa hồ đã hoà lẫn với thiên nhiên.
Nhà nữ thi sĩ đã sáng tạo những bài thơ biểu tượng hai mặt trong đó hình ảnh kỳ dị của thân thể
con người lẫn với những chỗ l
ồi lõm trên mặt đất, một loại hình ảnh như của Rabelais, đã song
song xuất hiện với phong cảnh” ”[61:630].
Góp thêm một cách nhìn, một hướng tiếp nhận phong phú hơn về vấn đề tính dục trong thơ Nôm
Hồ Xuân Hương còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của những nhà phê bình theo khuynh
hướng văn hóa học. Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là Đỗ Lai Thúy với công trình nghiên

cứu Hồ Xuân Hương – hoài niệm phồn thực. Dựa trên cơ sở lý luận là lý thuyết phân tích văn hóa
của Bakhtin khi đặt sáng tác của Rabelais vào bối cảnh nền văn hóa phục hưng thời Trung cổ để rút
ra kết luận: hiện tượng Rabelais có cội nguồn sâu xa trong đời sống văn hóa và tinh thần con người,
từ đó Đỗ Lai Thúy đã có những lý giải hợp lý về vấn đề tính dục trong thơ Hồ
Xuân Hương: “Tiếp
cận từ tín ngưỡng phồn thực chẳng những tìm ra được nguồn tinh huyết của thơ Hồ Xuân Hương, ý
nghĩa dâm tục như là một hình thức thị phạm ma thuật để cầu phồn thực phồn sinh”[69:51].
Nhìn chung, các khuynh hướng nghiên cứu trên tuy có những xuất phát điểm khác nhau, cách
tiếp cận khác nhau và mặc dù còn nhiều quan điểm đánh giá khác nhau nhưng tất cả các nhà nghiên
cứu đề
u thống nhất: thơ Hồ Xuân Hương có một sức sống mãnh liệt và đậm đà sắc thái dân gian.
Ngay cả trong vấn đề tính dục còn nhiều tranh cãi người ta vẫn tìm thấy có sự tương đồng với
những sáng tác dân gian. Thế hệ chúng ta hôm nay nhờ độ lùi thời gian có thể nhìn vấn đề tính dục
trong thơ Hồ Xuân Hương một cách khoa học hơn, cởi mở hơn khi đặt nó trong dòng chảy văn học
Việt Nam nói riêng, v

cái nhìn đầy đủ, sâu sắc về đề tài này trong nền vă
n học dân tộc. Hạt nhân trọng tâm để so sánh, đối
chiếu là thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
Trên cơ sở so sánh, đối chiếu giữa thơ Nôm Hồ Xuân Hương với các sáng tác: thơ ca dân
gian, thơ trung đại, thơ hiện đại có xuất hiện yếu tố tính dục, chúng tôi sẽ thống kê, phân loại một số
nội dung thể hiện và hình thức nghệ thuật được sử dụng nhằm phục vụ cho mục
đích so sánh.
Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp chủ yếu, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh thơ
Nôm Hồ Xuân Hương viết về đề tài tính dục với các tác phẩm khác có yếu tố tính dục để tìm ra
những nét tương đồng, dị biệt ở một số khía cạnh như nội dung, nghệ thuật thể hiện vấn đề tính dục;
lý giải nguyên nhân có sự giống, khác đó. Từ đó, chúng ta có thể thấy rõ nhữ
ng ảnh hưởng qua lại
giữa các sáng tác cùng đề tài, có cái nhìn toàn diện, khái quát ở bình diện rộng và cái nhìn sâu ở
bình diện hẹp của những tác phẩm viết về đề tài tính dục trong văn học Việt Nam hầu tìm ra những
giá trị riêng của từng sáng tác, đóng góp riêng của từng tác giả. Trên hết, luận văn muốn đi đến kết
luận: khẳng định ý nghĩa đặc biệt của vấn đề tính dục là m
ột trong những yếu tố góp phần làm nên
giá trị và sức hấp dẫn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để thấy
được những nét tương đồng, dị biệt trong các sáng tác có đề cập đến vấn đề tính dục nhằm làm rõ sự
ảnh hưởng, kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc cùng sự sáng tạo độc đáo củ
a Hồ Xuân Hương.

6. Kết cấu luận văn
Luận văn có 162 trang chính văn. Ngoài phần mở đầu 10 trang, kết luận 6 trang, nội dung luận
văn 146 trang được triển khai trong ba chương:

Chương 1: TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
– NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Chương 2: SO SÁNH VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG THƠ NÔM

dục là những “đòi hỏi về quan hệ tính giao”[85:1593].
Tính dục xét về mặt hoạt động là khái niệm chỉ hoạt động tính giao, là thuộc tính của một
sinh thể sống, một nhu cầu thiết yếu, phổ biến của con người, một hành vi có tính bản năng. Nói
cách khác con người dưới góc nhìn khoa học vừa là một sinh vật tự nhiên vừa là một sinh vật xã hội
mà trong đó khái niệm tính dục được hiểu như
là mặt sinh vật tự nhiên thuộc về bản năng của con
người, là phần “con” trong con người. Trong Bốn bài giảng mỹ học, Lý Trạch Hậu đã khẳng định
con người song song tồn tại trong sự thống nhất tính động vật và tính xã hội và nhân tính chính là sự
thống nhất giữa cảm tính và lý tính, tự nhiên và xã hội. Khi con người “trở lại tính động vật, trở lại
với tính dục là trở về
với sự sống đích thực, bởi vì chỉ có như thế thì cái tôi có một lần mới có thể
tồn tại như một thực thể” [29].
Nhìn ở phương diện khác văn hoá chẳng hạn, tính dục là sự thăng hoa của những xúc cảm
thẩm mỹ, đầy nhân tính: tình yêu, khát vọng, cội nguồn của sự sống, hoạt động duy trì nòi giống của
muôn loài. Trong văn học, khái niệm tính d
ục được dùng chủ yếu để phản ánh hoạt động luyến ái
trong quan hệ nam nữ.
Tính dục thuộc về bản năng con người, đời sống tình dục, quan hệ ân ái là bản năng sinh lý
tự nhiên của loài người không thể cấm đoán hay phủ nhận. Xưa Mạnh Tử đã khẳng định: “ Thực
sắc, tính dã ” nghĩa là ham ăn uống, mê sắc dục là bản tính tự nhiên có sẵn củ
a con người.
Cùng trường nghĩa với khái niệm tính dục ta còn có những khái niệm khác như: tục, dâm,
giới tính, tình dục…
Giới tính: “Những đặc điểm của cấu tạo cơ thể và của tâm lý làm cho có chỗ khác nhau giữa nam
và nữ, giữa giống đực và giống cái”
Tục: “Tầm thường, không thanh cao”
Dâm: “Ham muốn thú vui nhục dục quá chừng độ hoặc không chính đáng”
Tình dục: “sự ham muốn thú vui nhục d
ục”
Như vậy, so với những khái niệm trên thì khái niệm “tính dục” phù hợp với đề tài chúng tôi

Mãi đến khi xã hội có giai cấp, cái thiêng và cái tục mới bắt đầu tách rời nhau, mờ dần những quan
hệ ban đầu, dần tách biệt và trở nên đối lập, nhất là trong ý thức chính thống của xã hội phong kiến.
Có lẽ vì thế mà trong ý thức dân gian những biểu tượng phồn thực không bị coi là dâm tục, mà chỉ
trong ý thức chính thống của xã hội phong kiến thì mới cho đó là t
ục dâm vì người ta đã tách rời
những biểu tượng này khỏi cái thiêng là cầu mong phồn thực, phồn sinh.
Thậm chí, người xưa còn nâng những biểu tượng phồn thực lên thành tín ngưỡng. Tín
ngưỡng phồn thực là một hiện tượng tôn giáo phổ biến trong đời sống nhân loại từ xa xưa. Biểu
hiện chủ yếu của tín ngưỡng phồn thực này là thờ sinh thực khí nam nữ. Dấu vết của tín ngưỡ
ng
được biểu hiện trong di sản văn hóa vật chất và tinh thần của người xưa còn lưu lại trong nếp phong
tục, lễ hội, nghệ thuật dân gian, trong vốn văn hóa dân tộc…Ở Châu Âu, tín ngưỡng phồn thực nhất
là tục thờ dương vật rất phổ biến. Ở Hy Lạp, La Mã trong các buổi lễ Tửu thần, người ta cúng

Phallus –sinh thực khí nam. Ở Châu Á, các nước lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, tín ngưỡng phồn
thực còn phát triển lên thành triết học, văn hóa tính dục….
Sau này, F.Ăng ghen trong cuốn “Nguồn gốc gia đình, tư hữu và nhà nước” đã viết rằng, có
hai hình thức sản xuất quan trọng nhất: “Một mặt, đó là sản xuất phương tiện sống - đồ ăn, đồ mặc,
nhà cửa, công cụ cầ
n thiết, mặt khác, đó là việc sản xuất bản thân con người, là sự kế tục giống
nòi”. Đây là cơ sở thực tiễn dẫn đến nhận thức khái quát làm cơ sở cho thuyết âm - dương, mặt khác
đó là ý thức tôn giáo của quần chúng liên quan đến việc thần thánh hóa các cơ quan sinh sản, các
sinh thực khí (sinh: đẻ, thực: nảy nở, khí: công cụ ).
Phương Đông cổ đại lấy lý thuyết âm dương và ng
ũ hành làm cơ sở để giải thích mọi hiện
tượng trong đời sống tính dục. Theo đó nam là dương, nữ là âm. Nếu âm dương không cân bằng,
không hoà hợp thì con người sẽ phát sinh bệnh tật và tổn thọ. Kinh Dịch được xây dựng trên quan
niệm âm dương, âm – dương là hai phạm trù đại biểu cho hai dạng sự vật phổ biến trong vũ trụ, một
dạng có dương tính (cứng cỏi, nồng nhiệt, tích cực), mộ
t dạng có âm tính (mềm yếu, lạnh lùng, tiêu

đề tính dục màu sắc thiêng liêng, đậm tín ngưỡng dân gian, ngoài chức năng sáng tạo con người,
tính dục còn là nguồn cội sáng tạo anh hùng, văn hoá, thi ca, triết học, tôn giáo, sáng tạo ra thế
giới
con người từ vật chất đến tinh thần ( mỗi nhân vật sinh ra từ những cuộc hôn phối ấy đều ẩn dụ biểu
tượng cho một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống ).
Ở phương Đông, cùng với hai nền văn minh rực rỡ của Ấn Độ và Trung Quốc, hai bộ sách
tính dục Kamasutra và Tố nữ kinh xứng đáng được xem là những tác phẩm cổ
điển đề cập một cách
sâu sắc đến lạc thú gối chăn trên bình diện khoa học.
Kamasutra được xem là một trong những“tính dục kinh” cổ điển của nhân loại, do
Vatsyayana một nhà hiền triết nghiên cứu về tôn giáo sống ở Ấn Độ viết bằng tiếng Phạn, trong
khoảng năm 200 đến 300. Tác phẩm gồm 1.250 khổ thơ chia làm 36 chương và 64 đoạn, trong tiếng
Phạn: Kama là khóai l
ạc, sutra là kinh nên Kamasutra có nghĩa là “Dục lạc kinh” . Bộ sách dạy con
người biết cách tận hưởng những lạc thú của cuộc đời nhất là thú vui ái tình. Theo tín ngưỡng Hindu
giáo, của cải vật chất trên trần thế, tính dục và sự cứu rỗi của linh hồn đều có tầm quan trọng như
nhau. Nếu thiếu vắng một trong những yếu tố trên thì cuộc sống con người sẽ không hoàn hảo.
Không có tính dụ
c, xã hội loài người sẽ biến mất, điều đó lý giải vì sao mỹ thuật tính dục lại chiếm
vị trí vừa quan trọng vừa thiêng liêng trong kinh cổ của người Hindu.
Ở Trung Quốc, Tố nữ kinh được coi là sách kinh điển về tính dục học suốt thời kì phong
kiến, chủ yếu ghi lại những câu hỏi của nhà vua và lời giải đáp của Tố nữ quanh chuyện ái ân, qua
đ
ó cho người đời những hiểu biết sâu xa và lý thú về cuộc sống phong the, những kinh nghiệm ái
ân.
Ngoài ra Kinh Dịch được xem là bộ bách khoa toàn thư của Trung Quốc, thể hiện cách nhìn
thế giới qua lăng kính tình dục của người xưa: các trạng thái vận động của vũ trụ được miêu tả bằng
các hành vi tính dục như “nam nữ cấu tinh, vạn vật hoá sinh”, “thiên điạ bất giao như vạn vật bấ
t
hưng”…những tiếng “mây”, “mưa”, “giao”, “cảm”, nam “động thì thẳng”, nữ “động thì

n sống chính đáng về
cả mặt vật chất lẫn tinh thần, tâm hồn lẫn thể xác. Chủ nghĩa nhân văn lên án tất cả những gì kìm
hãm tự do của con người, đấu tranh cho con người được hưởng quyền sống chính đáng và hạnh
phúc tự nhiên ngay trên thế gian này. Chủ nghĩa nhân văn xem con người là “ sản phẩm của tự
nhiên” với những nhu cầu tự nhiên về vật chất cũng nh
ư tinh thần, nó chống lại tất cả những gì trái
tự nhiên như chủ nghĩa khổ hạnh, chủ nghĩa cấm dục. Đỉnh cao của chủ nghĩa nhân văn vào thế kỉ
XVIII- “thế kỉ ánh sáng” là những kiệt tác của Ruxô: July hay nàng Hêlôiđơ mới, Môngtexkiơ với
Những bức thư Ba Tư…lên án sự phân biệt đẳng cấp, ca ngợi tình yêu tự do, lãng mạn, say đắm.
Giai đoạn này,
ở phương Đông vấn đề giải phóng con người cá nhân cũng trở nên cấp thiết.
Cùng với trào lưu chủ nghĩa nhân văn đang phát triển ở phương Tây, văn học ở các nước phương
Đông cũng đồng hành với con người trong hành trình đấu tranh với rào cản hệ tư tưởng và những
thế lực phong kiến để khẳng định giá trị đích thực của con người cá nhân trong tự nhiên và đờ
i sống
xã hội. Ở Ấn Độ, hàng loạt tác phẩm văn học lấy tình yêu đôi lứa làm cảm hứng ngợi ca, cũng như
Êrôx của Hi lạp, Cupidong của La Mã, Kama được tôn là thần tình yêu của Ấn Độ. Theo cách giải
thích của người Ấn Độ: “sự sinh sôi nảy nở trong trời đất là do sự phối hợp giữa giống đực
(Purusha) và giống cái (Prakriti). Hai giống ấy có khắp nơi luôn luôn tìm gặp nhau theo ý muố
n tự
nhiên, nghĩa của Kama là như vậy” [80: 36]. Kama – thần tình yêu trở thành biểu tượng của khát

vọng hạnh phúc trần thế mà con người muốn đạt đến: “ Hỡi Kama ! Thần có chiếc tên nhằm trúng
đích. Cánh tên là sầu muộn, lòng tên là mong mỏi, mũi tên là dục tình, mong thần đến xuyên qua
trái tim con người”[80: 37]. Còn trong tiểu thuyết Genji monogatari, cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất
của văn học Nhật Bản thường được so sánh với tác phẩm Decameron
( Mười ngày ) của Boccaccio – tác phẩm tràn ngập những yếu tố
nhục thể, thì nhân vật Genji lại
được xem là một “Don Juan Japonais ”[4:122].
Trong xã hội Việt Nam thời phong kiến, con người vừa bị trói buộc bởi những quan niệm

chí thành một trào lưu, xu hướng sáng tác ở nhiều quốc gia phương Đông (Trung Quốc, Nhật, Vi
ệt
Nam…), đặc biệt hình thành cả một khuynh hướng văn học sex phát triển mạnh, phổ biến rộng nhờ

các phương tiện nghe nhìn và do tư tưởng dân chủ, tự do, cởi mở của thời đại. Trong thế giới phẳng,
văn hoá tính dục được mở rộng không giới hạn, phương Đông phương Tây có sự giao lưu và ảnh
hưởng trong mọi lĩnh vực trong đó có văn học. Vấn đề tính dục trong văn học phương Tây có xu
hướng tìm về phương Đông huyền bí, chú trọng đa dạng hoá thế
giới cảm xúc, ngược lại phương
Đông lại tiếp thu phương Tây tinh thần dân chủ đề cao tự do trong hôn nhân tình yêu và cả tình dục.
Tính dục xuất hiện không chỉ trong lĩnh vực nghệ thuật như văn học, hội hoạ, phim ảnh mà nó còn
được đưa vào học đường nhằm giáo dục giới tính cho giới trẻ.
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn trong một bài viết trên diễn đàn VietNamnet có khẳng định:
đối với những nhà v
ăn tài năng thì “ những trang liên quan tới sex là một phần làm nên giá trị văn
chương của họ và quả thật chỉ bằng cách đó mới biểu hiện được tư tưởng cao đẹp… và bởi tính dục
là một nhu cầu tự nhiên của con người thì việc quan tâm tới nó cũng là tự nhiên”. Tuy nhiên, ông
cũng lưu ý “việc phân biệt giữa tác phẩm khiêu dâm, vi phạm đạo đức nhân bản, và tác phẩm dùng
sex để biểu hi
ện khao khát nhận thức, khao khát tự do của con người, cái đó bao giờ cũng quá khó
và dễ bị giải thích sai lệch”[58]. Đó cũng là nỗi boăn khoăn chung của những người cầm bút chân
chính trong ý thức trách nhiệm với xã hội, với nghề khi viết về vấn đề khá nhạy cảm: tính dục.

1.1.2.2. Vấn đề tính dục trong hội họa, điêu khắc
Từ cổ xưa, nh
ững hình vẽ trong hang động, những tượng đá cổ sơ đào được ở miền Nam
nước Pháp, phía Bắc của Tây Ban Nha là những người đàn bà mặt mũi không rõ nét nhưng mông,
vú, âm vật thì rất to. Các nàng vệ nữ thời ấy được tôn sùng vì mắn đẻ. Ở Ấn Độ, Nê Pan, trong nghệ
thuật của họ và của các dân tộc chịu ảnh hưởng (nghệ thuật Chàm chẳng hạn) tục thờ Linga - Yoni
rấ

mô phỏng các hoạt động này mang ý nghĩa thị phạm ma thuật. Trên nắp thạp đồng Đào Thịnh có
hình các cặp trai gái trong tư thế giao hợp, người đàn ông nằm ch
ồng lên người đàn bà, tư thế mặt
đối mặt. Tranh dân gian ở làng Đông Mai, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh được mọi người biết đến
với cái tên tranh Đông Hồ có bức Hứng dừa vẻ cảnh các chàng trai mình trần đóng khố leo lên cây
hái dừa ném xuống, các cô gái đứng dưới hai tay kéo váy để hứng dừa ( trai trên gái dưới, trai hứng
gái cho, trái dừa có nước là tinh dịch) [69: 93].
Nghệ thuật điêu khắc đình làng cũ
ng mang đậm dấu ấn tính dục gắn với tín ngưỡng phồn
thực: đình Đệ Tứ ( Nam Định), đình Đông Viên (Hà Tây): khắc hình nam nữ đùa giỡn nhau khi tắm
hồ sen; đình Phù Lão (xây dựng năm 1688) chạm hình ảnh một người đàn bà khoả thân bụng lớn,
âm vật lộ rõ; Chùa Ông (Hưng Yên) chạm hình người đàn bà đầu đội mặt trời, hai tay mở sang hai
bên để lộ rõ ngực, bụng, bộ ph
ận sinh dục; bia chùa Phúc Hải và đình Hải Trung( phỏng đoán xây
dựng nửa đầu thế kỷ XVII ) có khắc hình người đàn bà khoả thân ngồi xổm, hai chân dạng ra hai
bên lộ bụng lớn, bộ phận sinh dục….1.1.2.3. Vấn đề tính dục trong lễ hội, tín ngưỡng
Ở phương Tây, thời Hi Lạp cổ đại, con người có tục rước sinh khí thực trong lễ cúng thần
Dyonisos, vị thần rượu nho dũng cảm, thần làm cho đất đai màu mỡ, đem lại cho con người niềm
vui sống và sự yêu đời. Và vì sinh thực khí được quan niệm là nguồn gốc sự sống nên trên thế giới
có 190 dân tộc thì có đến 13 dân tộc lấy b
ộ ngực nữ làm bái vật giáo tính dục. Người phương Tây
đặc biệt đề cao vai trò của bộ ngực như là biểu tượng của sự sống và sự dồi dào trong tính dục, đôi
vú nở nang đầy đặn của người đàn bà thu hút nam giới một cách kì lạ vì nó liên quan đến cơ năng
sinh sản của người đàn bà. Các dân tộc ở Châu Phi lại xem âm vật là biểu tượng của tính dục nữ nên
mới có hủ tục cắt bỏ âm vật như một sự kìm hãm dục tính. Người Trung Hoa thì mê đắm tôn thờ

những bàn chân của nữ giới. Chính sự khác biệt về văn hoá đã đưa ra những quan điểm thẩm mỹ dị

cho đôi vợ ch
ồng trẻ được đông con nhiều cháu. Từ thời Đông Sơn, ý nghĩa này từng được thể hiện
qua hình ảnh từng đôi nam nữ giã gạo, khắc trên các trống đồng. Cũng xuất phát từ ý nghĩa ấy mà
có tục hát giao duyên nam nữ kèm theo động tác giã cối chày tay [10:171,172].
Ngoài ra trong lễ hội còn kèm theo nhiều trò chơi dân gian như: tắt đèn, đánh đu, ném còn,
bắt vịt…Lễ hội rước sinh thực khí ở làng
Đông Kỵ (Từ Sơn- Bắc Ninh): rước hai lễ vật bằng gỗ có
hình thù như sinh thực khí âm - dương. Đám rước vừa đi vừa hát, đồng thời làm những động tác đưa
hai sinh thực khí vào nhau như hoạt động giao hợp gọi là vũ điệu âm – dương. Hoặc như trò múa
mo ở xã Sơn Đông, Hà Sơn Bình vào ngày mồng sáu tháng hai ta. Khi tế lễ xong, trai gái tụ họp tại

đình. Một người vừa múa, vừa hát trước bàn thờ, tay trái cầm khúc tre, biểu tượng của dương vật,
tay phải cầm mo cau, biểu tượng âm vật. Người múa dùng khúc tre đập vào mo cau gợi lên hành
động giao phối. Sau đó tung hai vật vào đám đông, trai gái tranh nhau giành lấy mong gặp được
may mắn trong hôn nhân. Tục tắt đèn được tổ chức ở nhiều nơi như ở làng Ngô Xá (Bắc Ninh), lễ
hội Chùa Hương…lễ hội ti
ến hành một lúc thì đèn đột nhiên tắt để trai gái sờ soạng đùa nghịch với
nhau, “tục lệ này cho phép con người trở lại với tính tự nhiên trong một thời gian ngắn dựa trên
một thần tích kỳ quặc”[36:172]. Đó là các sinh hoạt văn hóa đậm tín ngưỡng phồn thực mang màu
sắc thiêng liêng, cao quý cầu cho cuộc sống con người phồn thịnh, tốt đẹp.
1.2. Thơ Nôm Hồ Xuân Hương
1.2.1. Tác giả
1.2.1.1. Cuộc đời
Tài liệu nghiên cứu đầu tiên tương đối cụ thể về Hồ Xuân Hương là của Dương Quảng Hàm
( Việt văn giáo khoa thư, 1940) cho rằng Hồ Xuân Hương là con gái ông Hồ Phi Diễn người làng
Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu, xứ Nghệ An. Nhân ông Diễn ra dạy học ở Hải Dương lấy người
thiếp ở đây sinh ra bà. Thân thế của bà không có sách nào chép rõ. Bà ở về đời Lê mạ
t- Nguyễn sơ,
cha mất sớm, mẹ cho đi học. Học giỏi thường hay lấy văn thơ thử tài các văn nhân nho sĩ lúc bấy
giờ. Có lẽ, cũng vì sự thử thách, kén chọn ấy cho nên duyên phận long đong. Sau bà lấy lẽ một ông

- Có một Hồ Xuân Hương sinh khoảng năm 1770 từng là bạn tình của ông Nguyễn Du
(1766-1820), Tốn Phong Thị, Mai Sơn Phủ, Hiệp trấn Sơn Nam thượng họ Trần, Hiệp
trấn Sơn Nam hạ họ Trần, có thơ bỡn c
ợt với Chiêu Hổ- Phạm Đình Hổ và là vợ Tham
hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển ( ?- 1819).
- Có một Hồ Xuân Hương là vợ kế cử nhân Phạm Viết Đại (1802-1842). Ông này từng
làm quan ở các tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình, Sơn Tây và có làm Tri phủ Vĩnh Tường.
- Có một Hồ Xuân Hương qua đời khoảng năm 1822, hoặc năm 1833, trước khi Tùng
Thiện Vương Miên Thẩm làm thơ (1842) đã nhắc đến nấm mồ tài nữ Xuân H
ương.
…….
Tóm lại về tiểu sử Hồ Xuân Hương cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp, nhưng nổi
lên hai quan niệm được xem là chính thống: một giả thiết do một số nhà nghiên cứu hồi đầu thế kỉ
XX cho Hồ Xuân Hương là con của Hồ Phi Diễn, quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An là đáng tin cậy vì
được sự công nhận, đồng tình nhiều nhất của các nhà nghiên cứu từ
trước đến giờ và hiện nay ý kiến
này cũng trở thành tài liệu học tập chính thức cho học sinh trong nhà trường phổ thông; một quan
niệm khác gần đây của Trần Thanh Mại, Đào Thái Tôn trong những nghiên cứu của mình xác định
Hồ Xuân Hương lại là con của Hồ Sĩ Danh (1706-1783) và là em họ Hồ Sĩ Đống (1738-1786). Nhìn
chung, so với những ý kiến khác, hai ý kiến trên được đánh giá là có cơ sở khoa học hơn cả.
Ngay cả
năm sinh năm mất của Hồ Xuân Hương vẫn còn là mối hồ nghi. Trong bài viết “Trở
lại vấn đề Hồ Xuân Hương” (Tạp chí Văn học ngày 17/6/1964), Trần Thanh Mại dựa vào năm sinh
năm mất của Hồ Sĩ Danh (1906-1983) để phỏng đoán năm sinh Hồ Xuân Hương là vào khoảng
1755-1760 và năm mất có thể là trước năm 1842 do căn cứ vào tập thơ “ Thương Sơn” củ
a Tùng
Thiện Vương Miên Thẩm sáng tác năm 1842 khi hộ giá Thiệu Trị ra Bắc, khi đi ngang qua mộ
Xuân Hương có viết bài thơ “ Long Biên trúc chi từ thập tứ thủ” trong đó có hai câu nhắc đến Xuân
Hương:
Mạc hướng Xuân Hương phần thượng quá

t hình thái của sự quật khởi như vậy trong văn học dân gian”. Trong văn
học chính thống xuất hiện nhiều tác phẩm mang màu sắc tính dục, thơ Nôm Hồ Xuân Hương là ví
dụ.
Từ nội dung tìm hiểu trên, ta có thể rút ra vài điểm chính trong cuộc đời và thời đại đã có ảnh
hưởng đến sáng tác của Hồ Xuân Hương: xuất thân trong gia đình nho học, cha mất sớm, mẹ là
thiếp, cuộc đời riêng l
ại lận đận tình duyên nên bà cũng nhiều nếm trải, thấu hiểu những vui buồn
của cuộc đời, nhất là mối đồng cảm sâu sắc với người phụ nữ không có hạnh phúc trọn vẹn. Vì thế,
việc đấu tranh hay mưu cầu hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình dường như là nguồn cảm hứng
sáng tạo dồi dào nhất trong thơ bà. Dù viết về số phận c
ủa mình hay của người khác thì Hồ Xuân
Hương đều bộc lộ thái độ hết sức chân thành, tình cảm vô cùng tha thiết và một đòi hỏi quyết liệt.

Mặt khác Xuân Hương có tính tình phóng khoáng, cá tính mạnh mẽ, đi nhiều, biết rộng, kết thân
với nhiều bạn thơ trong đó có Nguyễn Du, Chiêu Hổ …lại sống gần gũi với nhân dân, hiểu rõ cuộc
sống nơi đất kinh kỳ lẫn chốn làng quê dân dã, bà dễ dàng hấp thụ lời ăn tiếng nói dân gian và tinh
thần Phục hưng của thời đại; nên thơ bà là tiếng nói mạnh mẽ nhất đại diện cho s
ự thức tỉnh của con
người cá nhân đòi quyền sống chính đáng, trong đó có quyền được hạnh phúc trong hôn nhân,
quyền tự do luyến ái. Với tiếng thơ độc đáo, táo bạo trong cách dùng từ ngữ hình ảnh, phá vỡ nhiều
quy phạm của thơ cổ điển, bà xứng đáng được tôn vinh là “ Bà Chúa thơ Nôm” ( Xuân Diệu) .
1.2.2. Sự nghiệp thơ ca
1.2.2.1. Tác phẩm
Về thơ văn của Hồ
Xuân Hương, trong tài liệu đã nêu trên, Nguyễn Hữu Sơn – Vũ Thanh có
thống kê những công trình văn bản học tiêu biểu nhất về thơ Xuân Hương như sau:
* Văn bản chữ Nôm và in kèm chữ quốc ngữ:
- Theo Đào Thái Tôn, hiện ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn 18 cuốn sách có chép thơ
Nôm Hồ Xuân Hương và 3 văn bản khắc ván chữ Nôm - có kèm phiên âm ra chữ quốc ngữ.
- Theo khảo tả của Hoàng Xuân Hãn, phần thơ Nôm truy

Nguyễn Lộc trong lựa chọn của một số nhà nghiên cứu về những bài thơ Nôm truyền tụng xác định
là của Hồ Xuân Hương. Cũng theo Hữu Sơn – Vũ Thanh thì đây là văn bản được phổ biến sâu rộng
nhất trong khoảng hai chục năm gần đây. Con số 40 bài thơ Nôm truyền tụng đó được lựa chọn
trong bài viết của mộ
t số nhà nghiên cứu như:
- Trong tập Hồ Xuân Hương - thơ và đời do Lữ Huy Nguyên viết lời giới thiệu năm 1996 xác định
thơ Nôm Hồ Xuân Hương có khoảng 40 bài.
- Giáo sư Lê Trí Viễn trong Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương thì dựa vào các tiêu chí như phong cách,
nội dung, tư tưởng để sàng lọc thơ Nôm Hồ Xuân Hương trước hiện tượng dân gian hoá. Dựa vào
đó, tác giả xác định : “ Tính như vậy có đượ
c 40 bài, kể cả những bài một nghĩa, những bài hai
nghĩa. Trong đó 24 bài ít hay nhiều đều có dính đến nghĩa thứ hai hoặc gợi liên tưởng đến sự chung
đụng nam nữ, nhưng đều mang tính tư tưởng tích cực, ít nhất là vô hại, nhiều nhất là đáng ca ngợi”
.[61: 517]
- Đào Thái Tôn trong bài viết Văn bản thơ Hồ Xuân Hương , điểm qua những công trình nghiên cứu
của Nguyễn Văn Hanh, Trương Tử
u, Hoa Bằng, Văn Tân…sau này thì “chưa mấy ai dám “phóng
tay” công bố được chừng 60 bài thơ. Tình hình chung là từ sau 1913, “Các sách Nôm có, quốc ngữ
có, in có, chép tay có, đều có chép thơ Xuân Hương, nhưng rất xô bồ, linh tinh. Tính những bài
được tất cả các sách ấy nhất trí cho là của Xuân Hương hoặc nhiều người công nhận là của Xuân
Hương thì có quãng bốn mươi bài” [61: 50]
- So sánh văn bản thơ Nôm được Đỗ Lai Thuý chọn trong Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, có
50 bài thì hết 40 bài trùng lặ
p với lựa chọn của Nguyễn Lộc.
- Gần đây nhất, trong quyển Thơ Nôm Hồ Xuân Hương của Kiều Thu Hoạch, trong số 84 bài ông
chọn thì cũng có 40 bài trùng với những lựa chọn của Nguyễn Lộc.
 Văn bản thơ chữ Hán: Tập “Lưu hương ký”:
Lưu hương ký mới được phát hiện từ năm 1964 do công của giáo sư Trần Thanh Mạ
i, bao
gồm thơ chữ Hán và chữ Nôm, được ghi là của Xuân Hương, người Nghệ An, sáng tác ở Cổ Nguyệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status