Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHAM
TRẦN THỊ LỆ
THIÊN TÍNH NỮ TRONG THƠ NÔM TRUYỀN BẢN
CỦA HỒ XUÂN HƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Thái Nguyên - Năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Lã
Nhâm Thìn, người thầy nhiệt tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
Đồng thời tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Sau Đại học
- Khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, Trung tâm học liệu Đại
học Thái Nguyên, Trường THPT Lạng Giang số 3 - Bắc Giang đã chỉ bảo tận
tình, động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012
Tác giả
Trần Thị Lệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
phụ nữ 47
2.2.2. Hình tượng thiên nhiên mang vẻ đẹp phồn thực, đầy nữ tính. 54
Tiểu kết 64
Chƣơng 3. THIÊN TÍNH NỮ QUA NGHỆ THUẬT THƠ 65
3.1. Hệ thống từ ngữ thể hiện thiên tính nữ 65
3.1.1.Cách xưng hô 65
3.1.2.Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao 69
3.1.3. Chơi chữ 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
3.1.4. Nói lái, nói vòng 74
3.2. Giọng điệu mang thiên tính nữ 76
Tiểu kết 79
PHẦN KẾT LUẬN 80
1. Khái quát những vấn đề đã nghiên cứu 80
2. Hướng phát triển của đề tài: 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1. Về khoa học cơ bản
1.1.1. Giới tính là một vấn đề mang tính khoa học. Từ xưa đến nay, loài
người đã ý thức được giới tính và quan hệ giới tính có tính xã hội và cả tính
thẩm mỹ trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Giới tính và quan hệ giới tính là
hiện tượng tự nhiên. Gần như với tất cả mọi người, giới tính và quan hệ giới
Hương là một hướng tiếp cận mới, có thể chỉ ra những biểu hiện độc đáo cả về
nội dung và nghệ thuật của "Bà chúa thơ Nôm".
1.2. Về thực tiễn
1.2.1. Thơ Hồ Xuân Hương được giảng dạy trong nhà trường các cấp, từ
phổ thông đến đại học. Ở chương trình phổ thông, nhiều bài thơ của Hồ Xuân
Hương có liên quan tới vấn đề thiên tính nữ như Bánh trôi nước, Đề đền Sầm
Nghi Đống, Mời trầu, Tự tình Đề tài này giúp cho việc giảng dạy Ngữ văn
trong nhà trường được tốt hơn.
1.2.2. Đề tài còn mang ý nghĩa xã hội. Hiện nay vấn đề bình đẳng giới,
công bằng giới đang được xã hội rất quan tâm. Đề tài này, từ góc độ văn học đã
góp thêm một tiếng nói vào vào vấn đề vừa mang tính chất thời sự vừa có ý
nghĩa lâu dài đó của cả cộng đồng.
2. Lịch sử vấn đề
Hồ Xuân Hương với tài thơ độc đáo đã trở thành một “trung tâm” thu
hút biết bao nhiêu thế hệ nhà nghiên cứu và các độc giả yêu quý Xuân Hương
cũng như thơ bà vào cuộc kiếm tìm, vì vậy mà thân thế và thi tài của bà liên tục
được định giá lại. Nghiên cứu về con người và thơ Hồ Xuân Hương đã như một
vấn đề thời sự văn học. Thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã được giới nghiên cứu
tiếp nhận ở nhiều góc độ như phê bình văn học, tiếp nhận văn học, nhiều
khuynh hướng như phân tâm học, văn bản học, xã hội học, văn hóa học… Qua
các công trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, từ trước đến nay, chúng ta nhận
thấy, việc đánh giá về thơ Hồ Xuân Hương đã diễn ra rất phức tạp. Riêng việc
tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ thiên tính nữ thì chưa thật
nhiều, các ý kiến chủ yếu xoay quanh vấn đề dâm, tục trong thơ bà.
Nhìn chung có ba hướng nghiên cứu chủ yếu có liên quan tới đề tài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
2.1. Nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương
Tìm hiểu thơ Hồ Xuân Hương nói chung, một số công trình nghiên cứu
ngưỡng phồn thực” là cơ sở chính tạo nên hiện tượng thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
Ở công trình này, Đỗ Lai Thuý cũng đã lý giải hiện tượng tục dâm trong thơ Hồ
Xuân Hương bắt nguồn từ điểm nhìn văn hoá. Ý kiến này giải thích phần nào sức
hấp dẫn của thơ Hồ Xuân Hương trong đời sống dân gian.
Cùng quan niệm trên phải kể đến Lê Hoài Nam viết về phần Hồ Xuân
Hương trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, thời kì I (Gs Lê Trí Viễn
chủ biên). Về vấn đề tục dâm ông cho rằng muốn nhận định một tác phẩm nghệ
thuật dâm hay không dâm, trước hết phải căn cứ vào thái độ, mục đích của tác
giả khi sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật, phải tìm bắt cho được cái nỗi niềm
kín, cái rung động sâu xa mà người nghệ sĩ muốn thổ lộ với người đời. Ông cho
rằng những đòi hỏi hạnh phúc ái ân trong thơ Hồ Xuân Hương là chính đáng
khi đặt nó trong hoàn cảnh xã hội nhất định, trong những điều kiện nhất định
của một cá nhân . Điều đáng chú ý là trong công trình này, ông là một trong
những người đầu tiên nhấn mạnh rằng thơ Hồ Xuân Hương thể hiện một khía
cạnh đầy cá tính, đó là ý thức về giá trị của mình.
Giáo sư Lê Trí Viễn trong bài Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương có một số
nhận xét về thơ Nôm Hồ Xuân Hương khi viết về người phụ nữ: “Nó chính là
sự sống gốc nguồn và cuộc sống trần tục. Nhìn thân thể người phụ nữ mà thành
“Đèo Ba Dội”, nhìn cái riêng của phụ nữ thành “cái quạt”, “cái giếng”,
“hang Cắc Cớ” thì đó là “vật chất xác thịt được khuyếch đại đến mức khổng
lồ” tựa thần thoại về nòi giống như Ông Đùng Bà Đà, Tứ Tượng, Nữ Oa mà
thôi, bởi đó là hình ảnh của tập thể nhân dân luôn luôn phát triển và luôn luôn
đổi mới”. [39, tr.31]
Trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn
thể loại, PGS – TS Lã Nhâm Thìn, có viết những lời nhận xét thật chân xác về
cuộc đời và thơ bà từ góc độ thiên tính nữ: “Cuộc đời Hồ Xuân Hương chưa đến
mức là một “tấm gương oan khổ” cho bi kịch của người phụ nữ trong xã hội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Trong Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam tập I (PSG.TS. Lã Nhâm
Thìn chủ biên) PGS.TS. Vũ Thanh có viết “Nhà văn đề cao những phẩm chất
tốt đẹp của người phụ nữ, thậm chí là những người phụ nữ có thân phận hèn
kém trong xã hội Túy Tiêu, một con hát, thực chất là nô lệ trong dinh thự một vị
quan nhà Trần trong Chuyện nàng Túy Tiêu, hay “ả kĩ nữ” tên Hàn Than trong
Chuyện nghiệp oan của Đào Thị…Họ là những người mang trong mình những
phẩm chất mẫu mực của người phụ nữ Việt Nam truyền thống, như nàng Vũ
Thị Thiết “thùy mị, nết na”, chung thủy chờ chồng, hiếu nghĩa nhất mực với mẹ
chồng (Chuyện người con gái Lam Xương), hoặc như nàng Nhị Khanh tiết
nghĩa, khuyên chồng chịu theo cha đến nhậm chức ở nơi “tử địa…lam chướng
nghìn trùng”, rồi ở nhà một mực thủ tiết chờ chồng, “quyết không mặc áo siêm
của chồng để đi làm đẹp với người khác” khi bị ép gả cho kẻ giầu có…nhưng
những con người với những đức tính cao đẹp đáng được ca ngợi và trân trọng
đó dường như không phải sinh ra để hưởng hạnh phúc mà để chịu đau khổ. Tất
cả họ đều rơi vào bi kịch không lối thoát và đều phải tìm đên cái chết đôi khi
đầy oan khốc dành cho những người như Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh…”. [31,
tr.214 - 215]. Nhận định trên đã ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người phụ
nữ trong Truyền kì mạn lục cũng như của người phụ nữ nói chung. Thế nhưng
sống trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ họ “dường như không phải sinh ra để
hưởng hạnh phúc mà để chịu đau khổ”.
Viết về Truyện Kiều của Nguyễn Du trong bài Quan niệm của Nguyễn
Du về cuộc đời và thân phận con người, TS. Lê Thị Lan (Viện Triết học, Viện
KHXHVN) có viết: “Trong Truyện Kiều, ông đã gửi gắm tất cả niềm yêu
thương, xót xa và kỳ vọng vào người phụ nữ khi xây dựng hình tượng nàng
Kiều, một phụ nữ đa tài, đa sắc, lại thánh thiện và nhân ái. Trọn vẹn những lý
tưởng thẩm mỹ, đạo đức và con người lý tưởng của Nguyễn Du được ông gửi
gắm vào nàng Kiều. Đó là hình tượng người phụ nữ đẹp nhất mà văn học Việt
Nam thời phong kiến đã đạt được. Nhân vật “nàng Kiều” là sự hình tượng hoá
Trương Tửu cho rằng trong thơ Hồ Xuân Hương có những “khát vọng tiềm thức”
và những “ám ảnh”, bệnh thần kinh vì dục tình không được thoả mãn. [36]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Sau đó, Nguyễn Văn Hanh đã phát triển quan điểm của Trương Tửu dựa
trên quan điểm của học thuyết phân tâm học. Trong công trình Hồ Xuân
Hương, tác phẩm, thân thế và văn tài, Nguyễn Văn Hanh viết: “Dục tình ngày
càng tăng, càng nén lại càng bồng bột. Ngày qua tháng qua, sức ép tình dục
càng tăng vì sự cần kia càng khẩn cấp. Kết quả: Hồ Xuân Hương khủng hoảng
tình dục. Khủng hoảng nặng sẽ kết bệnh thần kinh”. [36]. Nguyễn Văn Hanh đã
thông qua thơ ca để tái hiện lại cuộc đời, con người Hồ Xuân Hương, từ đó ông
rút ra kết luận là Hồ Xuân Hương bị khủng hoảng tình dục. Nhà nghiên cứu
này đã đi sâu, lí giải cội nguồn hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương từ bên trong,
qua sự uẩn ức tâm lý.
Tiếp cận thơ Nôm Hồ Xuân Hương theo hướng này còn có Văn Tân,
trong bài Ý nghĩa và giá trị thơ Hồ Xuân Hương (trích quyển: Hồ Xuân Hương
với các giới phụ nữ, văn học và giáo dục đặt vấn đề tục dâm, nhưng khi phân
tích, ông lại bị lôi cuốn theo bởi ám ảnh của vấn đề thiếu thốn cái sinh lí: “Ở
Xuân Hương, dâm và tục gặp một khu đất màu mỡ thuận tiện cho sự phát triển:
sự khủng hoảng tính dục luôn luôn sôi sục và trầm trọng của con người rất
mực đa tình là Xuân Hương. Dâm và tục đã ăn sâu vào ý thức tư tưởng Xuân
Hương, chi phối hầu hết thi phẩm của Xuân Hương”.
Như vậy có thể thấy, mặc dù không trực tiếp đề cập tới vấn đề giới
nhưng khi các nhà nghiên cứu bàn về vấn đề tính dục, vấn đề dâm và tục trong
thơ của nữ sĩ họ Hồ thì cũng đã ít nhiều có sự nhìn nhận từ góc độ giới.
Kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu trước, luận văn của
chúng tôi trực tiếp nghiên cứu thơ Nôm truyền bản của Hồ Xuân Hương từ góc
độ thiên tính nữ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc tác phẩm, tìm ra nguyên tắc chi phối
sự hình thành của chúng. Đặt các tác phẩm trong toàn bộ hệ thống thơ Hồ Xuân
Hương để tìm hiểu vấn đề
4.4. Phương pháp liên ngành:
Vấn đề thiên tính nữ có liên quan tới vấn đề giới, vì vậy đề tài sử dụng
phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học - xã hội học, văn học – tâm lí học…
Ngoài ra trong quá trình làm luận văn, người viết còn sử dụng kết hợp các
phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Thiên tính nữ qua chủ đề người phụ nữ
Chương 2: Thiên tính nữ qua thơ thiên nhiên
Chương 3: Thiên tính nữ qua nghệ thuật thơ
6. Đóng góp của luận văn
Kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu trứơc, luận văn của chúng tôi
nghiên cứu thơ Nôm Hồ Xuân Hương từ góc độ thiên tính nữ. Qua luận văn
này đóng góp cho việc giảng dạy thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong nhà trường
từ THCS đến THPT. Đồng thời luận văn còn mang ý nghĩa về vấn đề bình đẳng
giới trong xã hộ hiện nay. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Chƣơng 1
THIÊN TÍNH NỮ QUA CHỦ ĐỀ NGƢỜI PHỤ NỮ
1.1. Khái niệm tính nữ và thiên tính nữ
về tính nữ ("thiên" với nghĩa là nghiêng về) và những thiên bẩm riêng, thiên
chức riêng của nữ.
Người phụ nữ được thiên nhiên ban phát cho thiên chức tự nhiên trong
mỗi con người là làm vợ, làm mẹ, là người chuyển dịch suối nguồn yêu thương
vào trong nguồn sống. Thiên chức làm vợ, làm mẹ là chức năng thiên bẩm của
tạo hóa ban cho người phụ nữ vượt qua mọi không gian, thời gian, quan niệm và
hoàn cảnh sống. Bởi vậy cho nên trong việc duy trì nòi giống và đảm bảo cho sự
sinh tồn của loài người phụ nữ có một vai trò quan trọng không gì có thể thay thế
được. Người ta vẫn nói “Một nửa thế gới là phụ nữ”. Nhà văn Macxim Goocki
đã nói: “Không có mặt trời thì hoa không nở/ Không có mẹ hiền, anh hùng, thi sĩ
hỏi còn đâu?”nên người phụ nữ có quyền tự hào về những gì tạo hóa ban cho họ
mà chỉ có ở giới nữ.
Thiên tính nữ bao gồm những nét rất riêng của nữ giới, qua đó mà người
phụ nữ biểu hiện giới tính của mình một cách trọn vẹn và đẹp đẽ nhất. Quan
niệm về thiên tính nữ cũng có nhiều thay đổi qua các thời đại. Trong xã hội
phong kiến, vẻ đẹp nữ tính của người phụ nữ bị giới hạn bởi khuôn phép của lễ
giáo, với những cấm đoán khe khắt xâm phạm đến nhân cách của nữ giới. Ngày
nay, nữ giới bước ra ngoài phạm vi gia đình và công việc nội trợ, tham gia vào
các họat động xã hội và bình quyền với nam giới trên mọi lĩnh vực. Từ
đó, những tính cách mới của người phụ nữ được hình thành trong xã hội hiện
đại.Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là “giới tính đang bị xóa nhòa” mà người
phụ nữ luôn mang trong mình nét riêng thuộc về thiên tính nữ:
Sự dịu dàng thể hiện qua cách đi đứng nhẹ nhàng; lời ăn tiếng nói hòa
nhã; cách ăn mặc làm toát lên được những đường nét mềm mại, thanh tao mà
thiên nhiên đã phú cho nữ giới (nhưng vẫn kín đáo và đoan trang).
Đức tính hy sinh, vị tha là một trong những đức tính truyền thống tiêu
biểu nhất của phụ nữ Việt Nam. Biểu hiện của phẩm chất này là biết quan tâm,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
14
riêng, thiên chức riêng của nữ. Ở luận văn này, chúng tôi dùng khái niệm "thiên
tính nữ" nghiêng về hàm nghĩa thứ nhất.
1.2. Thiên tính nữ qua đối tượng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương
Trong thơ mình, Xuân Hương không nói đến toàn bộ nổi khổ của phụ nữ.
Xuân Hương hình như chỉ muốn nói đến nỗi đau khổ riêng có tính chất giới tính
của mình. Viết về đề tài phụ nữ, nhà thơ thường xoáy sâu vào các ngóc ngách éo
le của cuộc đời để nêu lên những bi kịch riêng của người phụ nữ - bi kịch mang
thiên tính nữ.
Hồ Xuân Hương là nhà thơ phụ nữ, và nhà thơ của phụ nữ, bằng kinh
nghiệm của cuộc đời chung và kinh nghiệm của cuộc đời riêng chẳng ra gì của
mình, nhà thơ đứng về phía những người phụ nữ bị áp bức. Trong cuộc đời cũ,
đau khổ chẳng phải là phận riêng dành cho phụ nữ. Nhưng cái đau khổ của phụ
nữ bao giờ cũng có khía cạnh chua xót, tái tê riêng của nó. Phụ nữ cũng là người
làm lụng đầu tắt mặt tối, cũng đói cơm rách áo, cũng bị trăm nghìn thứ chà đạp
như bất cử một người bị áp bức nào khác. Nhưng xã hội phong kiến còn dành
cho họ nhiều sự bạc đãi.
Nghiên cứu, thống kê 45 bài thơ viết về phụ nữ trong tác phẩm Thơ Nôm
Hồ Xuân Hương của tác giả Kiều Thu Hoạch, cho thấy:
- Nói về bi kịch của người phụ nữ: 10 bài – Tỉ lệ 22,2%
- Miêu tả vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ: 15 bài – Tỷ lệ: 31,11%
- Cảnh sinh hoạt phòng the: 7 bài – Tỷ lệ: 15,55%
- Nỗi niềm khao khát bản năng: 20 bài – Tỷ lệ: 44,44%
Như vậy, qua thống kê trên cho thấy thơ Nôm Hồ Xuân Hương chiếm tỉ lệ
cao những bài thơ viết về người phụ nữ. Đối tượng người phụ nữ trong thơ Hồ
Xuân Hương: tình duyên muộn mằn, éo le, "cả nể" nên "dở dang"; hôn nhân gia
đình bi kịch: lấy chồng chung, chồng chết ; cuộc sống vất vả, phụ
thuộc nhưng họ luôn là những người phụ nữ tràn đầy khát vọng được sống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Giữa không gian mênh mông đêm tối nổi lên tiếng gà văng vẳng gáy
trêm bom từ xa vọng lại. Nhà thơ lấy động để tả tĩnh, mượn tiếng gà gáy trong
đêm để nói lên sự vắng lặng của đêm khuya thanh vắng.Qua đó làm nổi bật lên
tâm trạng của con người. Đó là hình ảnh một người đàn bà trong đêm khuya
một mình không ngủ, não nuột cái thân đơn côi lẻ bóng, thiếu thốn yêu thương.
Trước thời gian, không gian ấy làm cho cái sầu, cái thảm cứ ngùn ngụt dâng lên
trong lòng mặc dù không có duyên cớ nào “Mõ thảm không khua mà cũng cốc/
Chuông sầu không đánh cớ sao om”. Có lẽ sâu xa hơn của nỗi sầu, nỗi thảm
dường như là không duyên cớ kia là có nguyên nhân “duyên để mõn mòn”.
“Duyên để mõn mòn” là duyên đã già, người phụ nữ trong bài thơ đã qua lứa,
lỡ thì. Và ngay chính cuộc đời Hồ Xuân Hương cũng đầy những éo le, cay đắng
mà bà phải gánh chịu: tình duyên lỡ dở khi còn trẻ, đến khi già thì phận hẩm,
duyên ôi. Xuân Hương muộn màng mới lấy chồng nhưng cả hai lần lấy chồng
đều làm lẽ và cả hai lần đều trở thành góa bụa.
Nỗi niềm buồn tủi vì phận hẩm, duyên ôi một lần nữa được Hồ Xuân
Hương bộc lộ trong xót xa qua bài thơ Tự tình II:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
(…)
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
(Tự tình II)
Thơ Nôm Hồ Xuân Hương luôn ý thức về nữ tính, về tuổi trẻ, về tình yêu
và thường đi liền với cảm thức về thời gian. Bài thơ nêu lên một nghịch đối:
duyên phận muộn màng, lỡ dở của người phụ nữ trong khi thời gian cứ lạnh
lùng lặng lẽ trôi qua. Bởi thế cho nên người phụ nữ trong bài thơ mang một
yêu, và quyền đối với con cái của họ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
*Bi kịch người phụ nữ trong hoàn cảnh đa thê
Phụ nữ vốn là những người nhạy cảm. Chỉ riêng điều ấy thôi cũng đủ để
họ phải chịu nhiều bất hạnh hơn đàn ông. Mềm yếu, đa sầu, đa cảm và cả đa
đoan đã khiến người phụ nữ luôn rất nhạy cảm với những bất hạnh của mình dù
họ sống trong xã hội nào. Trong xã hội cũ, khi người đàn ông có quyền được
lấy “năm thê bảy thiếp”, thì những bất hạnh mà người phụ nữ phải gánh chịu
lại càng lớn hơn. Người phụ nữ phải sống trong cảnh “Chồng chung đâu dễ ai
nhường cho ai”, họ phải chịu những nỗi niềm cay đắng xót xa. Những khao
khát hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn luôn day dứt họ. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương -
người phụ nữ đầy bản lĩnh đã phải thốt lên đầy uất ức khi phải sống trong nỗi
tủi hờn ấy:
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Câu thơ được ngắt làm hai theo biện pháp đối ngẫu của thơ Ðường luật,
nhằm đối lập hai cảnh sống trái ngược nhau, một bên thì ấm áp, một bên thì
lạnh lẽo. Tiếp tục ý của câu phá đề, tác giả ném ngay cái bực bội, cái căm uất
của mình lên cảnh sống bất công đó bằng những lời, ý thơ rất mạnh bởi động từ
“chém” mang thanh trắc rất gọn, sắc:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Từ thái độ căm giận đó, Hồ Xuân Hương đã chuyển sang miêu tả mối
quan hệ vợ chồng của cảnh sống đa thê. Bà đã cho chúng ta thấy sự thiệt thòi
của người vợ "lấy chồng chung" một cách cụ thể mà chua xót biết nhường nào.
Quan hệ ái ân giữa người chồng và người vợ diễn ra trong tình trạng:
Năm thì mười họa hay chăng chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cảnh chồng chung, nhà thơ vạch ra làm lẽ chẳng qua chỉ là một thứ làm
mướn, thậm chí còn tệ hơn làm mướn nữa: đó là thứ làm mướn không công, Hồ
của họ.
Dưới chế độ phong kiến, người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, họ là
nạn nhân của một số tư tưởng phong kiến. Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” là