Vấn đề tiếp nhận thơ nôm hồ xuân hương - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG PHONG TUẤN

VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN
THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 62.22.32.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. Huỳnh Như Phương

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2014


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
CHƯƠNG I ............................................................................................... 13
LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN HIỆN ĐẠI VÀ VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN
THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
1.1. LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN HIỆN ĐẠI: KHÁI NIỆM VÀ
PHƯƠNG PHÁP ..................................................................................... 13
1.1.1. Chân trời nhận thức đời sống và chân trời hiểu văn bản............... 14
1.1.2. Hiểu văn bản trong trò chơi ngôn ngữ ......................................... 26
1.1.3. Logic của câu hỏi và câu trả lời của các trò chơi ngôn ngữ… . .…32
1.1.4. Phương pháp trò chơi ngôn ngữ trong nghiên cứu tiếp nhận văn học . .39

4.2. CÂU HỎI VÀ CÂU TRẢ LỜI……………………………………...141
4.2.1. Vũ khí đấu tranh giai cấp ........................................................... 144
4.2.2. Sự viện dẫn đại tự sự ................................................................. 160

PHẦN KẾT LUẬN ...…………………………………………………….176
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 180


1

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.1.

Lý do chọn đề tài

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một hiện tượng văn học độc đáo. Thứ
nhất, những bài thơ này tồn tại trong xã hội phong kiến nho giáo, nhưng thể
hiện cảm nhận thế giới với cái nhìn thấm đẫm tính dục và nhục thể. Nếu so
với các tác phẩm thơ của Hoàng Chân Y ở Triều Tiên, Hàn Ốc ở Trung
Quốc, Louise Labé ở Pháp thì thơ nữ sĩ thể hiện vẻ đẹp nữ tính ở góc độ
nhục thể một cách táo bạo nhất. Hơn nữa, góc độ này còn được hội tụ thành
một nhãn kiến, một cách nhìn thế giới và con người, một cách tự nhìn mình
và nhìn người khác. Thứ hai, nội dung trữ tình trong những bài thơ này thể
hiện một ý thức cá nhân mạnh mẽ. Đó là cá tính của tâm trạng trữ tình thể
hiện trong những khao khát rất con người, vượt ra ngoài phạm vi “ngôn chí”;
là cá tính trong cách nhìn nhận đánh giá cuộc sống, con người và thiên nhiên,
vượt ra ngoài quan niệm nho giáo. Nhưng tiêu biểu hơn cả là cá tính trong
nghệ thuật ngôn từ, qua sự sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật, và qua một quan

triển và gợi ý trong mỹ học tiếp nhận và thông diễn học văn học của Hans
Robert Jauss: ‘logic của câu hỏi và câu trả lời’, ‘chân trời’ và ‘trò chơi ngôn
ngữ’.
1.2.

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm phân tích trường hợp tiếp nhận
thơ Nôm Hồ Xuân Hương qua ba khuynh hướng phê bình phê bình đạo đức,
phê bình phân tâm học, phê bình văn học Mác-xít. Luận án vận dụng khái
niệm “logic của câu hỏi và câu trả lời” để phân tích sự chuyển hướng và tiến
triển giữa chúng. Trong mỗi hướng phê bình cụ thể, luận án phân tích làm rõ
mối quan hệ giữa chân trời tiếp nhận và ý nghĩa của văn bản thơ được tiếp


3

nhận trong chân trời đó. Luận án cũng phân tích những quy ước và quy tắc
của phê bình, tiếp nhận văn học trong một giai đoạn văn học, cụ thể là các
văn bản phê bình của Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu, Trần Thanh Mại và
Xuân Diệu.
2. PHẠM VI ĐỀ TÀI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.

Phạm vi đề tài

Tuy cho đến nay đã có nhiều khuynh hướng phê bình khác nhau tiếp
cận, lý giải thơ Nôm Hồ Xuân Hương; nhưng vận dụng phương pháp logic
của câu hỏi và câu trả lời, luận án chỉ giới hạn phạm vi đề tài trong những
khuynh hướng phê bình có tác động nổi bật đến lịch sử tiếp nhận hiện tượng

bản thân những vấn đề này là một phần của lịch sử tiếp nhận, do phạm vi
mục đích đề tài, nên luận án không đưa vào phạm vi nghiên cứu.
2.2.

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân
Hương qua các khuynh hướng phê bình phê bình đạo đức, phê bình phân tâm
học, phê bình văn học Mác-xít, với các công trình phê bình tiêu biểu của Ngô
Tất Tố, Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu, Hoài Thanh, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn
Lộc, Trần Thanh Mại, Xuân Diệu…; và các ý kiến tiếp nhận của Vũ Trọng
Phụng, Dương Quảng Hàm, Phan Kế Bính….

3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Cho đến nay, trừ các luận văn có tính chất thực hành nghiên cứu, chưa
có một công trình nào chính thức đặt vấn đề tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân
Hương như một đối tượng nghiên cứu, mà chỉ có những công trình đề cập
đến một số phương diện nhất định của vấn đề này. Có thể tạm sắp xếp các
công trình này vào ba loại, dựa trên mức độ tiếp cận và giải quyết vấn đề.
a) Mô tả các tài liệu phê bình về thơ Nôm Hồ Xuân Hương


5

Hiện có một công trình thuộc loại này. Đó là bài viết “Sức sống thơ
Hồ Xuân Hương và việc tiếp nhận” của Nguyễn Hữu Sơn và Vũ Thanh, in
trong quyển Hồ Xuân Hương, tác gia và tác phẩm, năm 2007 [62]. Trong bài
viết, tập thể tác giả liệt kê các tài liệu và hướng tiếp cận vấn đề về tác giả,
văn bản và phê bình thơ trong lịch sử. Ưu điểm của bài viết này là nó cung
cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quan toàn bộ các chặng đường phê bình

nếu coi Hồ Xuân Hương như là nhà thơ khuyết danh, vì chưa xác thực được
tác giả, thì không thể áp dụng phân tâm học khi chưa biết rõ tiểu sử người bị
bệnh để có thể phân tích tâm lý. Đây là những phản biện quan trọng, có cơ sở
và có ý nghĩa đối với cả phạm vi nghiên cứu tiếp nhận; vì nó gợi ý một góc
nhìn thuộc về phương pháp và hướng tiếp cận.
Tuy nhiên, cần có một nhìn nhận sâu hơn về nguyên nhân dẫn đến
cách thức vận dụng phương pháp như vậy. Đây không chỉ là sự vận dụng sai,
mà có nguyên nhân sâu xa thuộc về xu hướng hiện đại hóa, khoa học hóa của
văn học và văn hóa đấu thế kỷ XX nói chung và mục đích cá nhân của nhà
phê bình nói riêng.
Công trình thứ hai là Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy, của Đỗ
Lai Thúy, nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, năm 2010 [73]. Trong phần
trình bày về phê bình phân tâm học, Đỗ Lai Thúy đã điểm qua những vận
dụng phân tâm học vào nghiên cứu thơ Nôm Hồ Xuân Hương của Nguyễn
Văn Hanh, Trương Tửu, và của chính ông, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy. Khái
quát công trình của Nguyễn Văn Hanh, ông cho rằng chúng có một sơ đồ lý
thuyết “dồn nén -> ẩn ức -> thăng hoa” [73; tr.221]. Trao đổi với ý kiến của
Nguyễn Văn Trung về việc không thể vận dụng phân tâm học vào nghiên
cứu hiện tượng thơ này, Đỗ Lai Thúy cho rằng quan điểm của Nguyễn Văn
Trung “chưa hẳn đã đúng” vì thơ Nôm Hồ Xuân Hương là đố thanh giảng
tục và do các lý thuyết mới về phân tâm học vẫn có khả năng phân tích văn
bản từ góc độ phân tâm mà không cần viện dẫn đến tiểu sử tác giả.


7

c) Nghiên cứu các hướng phê bình thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Đây là hình thức tiệm cận nhất với đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Trong hình thức này, có giá trị hơn cả là chương 1 trong quyển Hồ Xuân
Hương, hoài niệm phồn thực của Đỗ Lai Thúy, nhà xuất bản Văn hóa Thông

thơ nữa, không chỉ là con người kinh tế đơn thuần, mà là một con người tâm
lý, có tâm hồn, tư tưởng, khát vọng, có những điều hiển nhiên, duy lý và có
cả những điều bí ẩn, phi lý. Nhờ đó, con người trở nên phong phú, đa diện và
có tính vô tận. Tuy nhiên, trong lối tiếp cận này còn có những nhược điểm do
cách hiểu chưa sâu, hoặc chưa đúng về học thuyết Freud. Thậm chí, có khi
nhà nghiên cứu chỉ theo nó như một thứ mốt như bác sĩ Trực Ngôn trong Số
đỏ, hoặc chưa hiểu rõ phê bình tâm phân học, nên cứ tưởng rằng con đường
đi từ ẩn ức tình dục của tác giả đến sự thăng hoa thành thơ văn là thẳng băng,
trực tiếp, cũng như trên kia người ta hiểu con đường từ đàn áp kinh tế đến
làm thơ phản kháng vậy” [72; tr.40]. Nhận xét trên của Đỗ Lai Thúy là có sơ
sở. Tuy vậy, do mục đích nghiên cứu, ông cũng chưa đi đến tận cùng trong
phân tích của mình để chỉ ra nguyên nhân do đâu lại có sự vận dụng như vậy.
Vấn đề ở đây không chỉ là “lối tư duy đại khái, thực dụng” của người Việt
Nam trong cách vận dụng những học thuyết từ bên ngoài, như kết luận của
ông. Mà vấn đề nằm ở nguyên nhân sâu xa hơn đến từ tiến trình hiện đại hóa
văn học, từ mục đích biện minh cho thơ Nôm Hồ Xuân Hương của những
nhà phê bình.
Do yêu cầu của hướng nghiên cứu, nên Đỗ Lai Thúy chưa có điều kiện
phân tích tính lịch sử của tiến trình tiếp nhận từ một phương pháp thích hợp.
Mặt khác, trong việc khái quát các hướng tiếp cận, ông cũng chưa chú ý
đúng mức đến hướng tiếp cận phê bình đạo đức truyền thống. Theo chúng
tôi, phê bình theo quan điểm đạo đức truyền thống là một khuynh hướng tuy
biểu hiện không rõ và có những hạn chế trong việc tìm hiểu ý nghĩa thơ nữ sĩ
vì các nhà phê bình theo khuynh hướng này có khen ngợi tài thơ, nhưng hầu


9

như hoàn toàn phê phán và phủ nhận giá trị thơ; nhưng xét về mặt ảnh
hưởng, mặt lịch sử tác động, chính thái độ phê phán, phủ nhận của họ đã tạo

niệm này cùng với mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích sự tiếp nhận
chung của khuynh hướng phê bình, không phải là sự tiếp nhận của cá nhân
một người đọc, nên luận án dựa trên bình diện rộng nhất của khái niệm chân
trời để phân tích sự tạo thành từ quá khứ của mỗi hướng tiếp cận phê bình.
Lựa chọn này cho phép luận án phân tích lịch sử tác động của vấn đề nghiên
cứu trong một diễn trình văn hóa. Cụ thể là hướng phân tích này cho phép
nhìn nhận sự tạo thành của các vấn đề quan niệm thẩm mỹ nho giáo, lịch sử
sự biểu hiện của cái cá nhân, và sự tạo thành của quan niệm về mối quan hệ
giữa văn học và chính trị xã hội.
Mặt khác, chân trời luôn bao hàm những thành tố mới được hình thành
trong bối cảnh hiện tại của văn hóa xã hội. Phân tích chân trời phê bình cần
phải xem xét cả những thành tố mới này. Cụ thể, luận án xem xét những điều
kiện của văn hóa, xã hội hiện tại hình thành nên các khuynh hướng hay đặc
điểm của các khuynh hướng phê bình đạo đức, phê bình phân tâm học và phê
bình Mác-xít. Để làm rõ hơn đặc trưng chân trời phê bình, luận án cũng trình
bày một số khía cạnh của từng khuynh hướng phê bình cụ thể, chủ yếu là
những khía cạnh mang những đặc thù riêng trong bối cảnh Việt Nam.
Luận án vận dụng xuyên suốt khái niệm “logic của câu hỏi và câu trả
lời” để phân tích tiến trình tiếp nhận và mở rộng ý nghĩa của thơ Nôm Hồ
Xuân Hương được chuyển tiếp trong những chân trời cụ thể: phê bình đạo
đức, phân bình phân tâm học, phê bình Mác-xít (chương 2, 3, 4). Dựa trên
quan điểm này, luận án phân tích những câu hỏi đặc trưng trong thơ Nôm Hồ
Xuân Hương vốn thách thức các chân trời lý giải (chương 2).
Trong chương 3, 4, luận án sử dụng khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” để
phân tích trường hợp tiếp nhận phê bình phân tâm học và phê bình Mác-xít
trong những bối cảnh xã hội đặc thù: hiện đại hóa và cách mạng hóa.


11



bình đạo đức về thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Chân trời ấy có nguồn gốc từ bề
sâu trong văn hóa nho giáo thời trung đại, tác động đến những quan điểm
tiếp nhận của các nhà nho đầu thế kỷ XX.
Chương 3: Vấn đề tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương: phê bình phân
tâm học. Chương này phân tích chân trời tiếp nhận và sự lý giải nghĩa của
phê bình phân tâm học. Chân trời ấy có cơ sở từ sự khám phá và biểu hiện
cái cá nhân trong truyền thống văn hóa Việt Nam, có bước chuyển biến
mạnh mẽ từ giai đoạn tiếp xúc văn hóa phương Tây, nhằm nỗ lực biện minh
cho tiếng nói cá nhân trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
Chương 4: Vấn đề tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương: phê bình văn
học của chủ nghĩa Marx. Chương này phân tích chân trời tiếp nhận và sự lý
giải ý nghĩa thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong phê bình văn học Mác-xít. Bắt
nguồn từ bối cảnh chính trị xã hội đặc thù của Việt Nam, hướng tiếp nhận
này trở thành một khuynh hướng chủ đạo chi phối sự tiếp nhận thơ Nôm Hồ
Xuân Hương trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XX.


13

CHƯƠNG I
LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN HIỆN ĐẠI VÀ
VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

1.1. Lý thuyết tiếp nhận hiện đại: khái niệm và phương pháp
Lập trường của mỹ học tiếp nhận về tác phẩm văn học có nguồn
gốc từ lập trường của Husserl về nhận thức. Theo đó, vấn đề không phải là
người sáng tác thực sự gởi gắm tư tưởng gì trong tác phẩm, tác phẩm phản
ánh hiện thực thời đại của nó ra sao, tác phẩm có cấu trúc bất biến như thế
nào, mà vấn đề là tác phẩm xuất hiện cho người đọc như thế nào. Ở đây,

cá nhân của người đọc với chân trời quá khứ và lịch sử của tác phẩm. Do đó,
vấn đề tương tác, đối thoại, hòa trộn và biến đổi chân trời trở thành những
vấn đề trung tâm của thông diễn học và mỹ học tiếp nhận.
1.1.1. Chân trời nhận thức cuộc sống và chân trời hiểu văn bản
Khái niệm “chân trời” (tiếng Đức: Horizont; tiếng Anh: horizon) xuất
phát từ động từ tiếng Hi Lạp: horizō, có nghĩa là đánh dấu các ranh giới, hạn
định không gian hay sự vật nào đó. Đây là một khái niệm vừa có nét nghĩa
hẹp vừa có nét nghĩa rộng. Theo nghĩa thông thường, chân trời giới hạn tầm
nhìn của mỗi người; nhưng khi họ đi tiếp hoặc lên cao hơn thì có thể mở
rộng chân trời quan sát của chính mình; theo nghĩa rộng hơn, chân trời là
giới hạn kinh nghiệm của mỗi người trong một thời điểm nhất định; nhưng
họ luôn có thể mở rộng giới hạn kinh nghiệm này bằng hành trình sống hiện
tại của mình. Nhìn nhận khái niệm “chân trời” trong hoạt động hiểu nói
chung, Nicholas Bunnin và Jiyuan Yu viết: “Một chân trời là một khuôn khổ
hay một trường của nhãn quan trong đó ta hiểu. Mỗi người với tư cách một
tồn tại lịch sử bị điều kiện hóa bởi một truyền thống và văn hóa, và vì vậy,
cư ngụ trong một chân trời nào đó. Một chân trời là một thế giới cuộc sống
của con người. Một sự hiểu khách quan thuần túy, và vì thế, thoát ly khỏi

do sự lựa chọn từ cho khái niệm “horizont”. Chúng tôi chọn cách dịch được Huỳnh Như Phương,
Bùi Văn Nam Sơn đề nghị: chân trời.


15

chân trời cụ thể của một người là không thể có được. Nghĩa của văn bản
được xác định trong một chân trời nào đó. Để đạt đến sự hiểu lịch sử, ta phải
đạt được một chân trời lịch sử và lý giải dựa vào bản thân tồn tại lịch sử và
chân trời truyền thống quá khứ, hơn là dựa vào tiêu chuẩn đương thời và
những tiên kiến của ta. Bản thân một chân trời luôn trong quá trình tạo thành.

người thì con người có thể lý giải được. Ông viết: “Và đây là quy luật phổ
biến: mọi đời sống chỉ có thể trở nên khỏe khoắn, mạnh mẽ và sinh sôi trong
một chân trời nhất định; nếu nó không có khả năng phác họa xung quanh nó
một chân trời, và nếu nó quá ích kỷ, không mở ra viễn tượng của riêng nó
trong một chân trời xa lạ, thì nó sẽ hư hao yếu ớt và nhanh chóng kết thúc
cuộc sống của chính mình” [130; tr.127]. Một cá nhân chỉ có thể nhận thức
và hiểu ý nghĩa của thế giới trong một phạm vi chân trời hạn định gắn liền
với “viễn tượng” xuất phát từ điểm nhìn của cá nhân ấy 1. Vì vậy, một cá
nhân hay một nền văn hóa cần phải có sự mở rộng chân trời thế giới sống
của chính nó, giao tiếp, tiếp xúc với những cá nhân hay nền văn hóa khác để
vun bồi sức sống cho mình; nếu không, nó mãi là một Robinson Crusoe –
như sự ví von của Gadamer - cô độc, buồn tẻ, héo tàn. Quan niệm này sẽ
được Gadamer, Jauss và Iser kế thừa ở góc độ sự tiếp xúc với chân trời xa lạ
của văn bản trong quá khứ sẽ đem đến sự chuyển biến trong chân trời nhận
thức cuộc sống trong hiện tại của cá nhân mỗi người.
Husserl đi tiếp con đường của Kant, con đường triết học siêu nghiệm,
để đặt vấn đề về điều kiện khả thể của nhận thức. Husserl đề cập đến hai mặt
trong quan niệm về chân trời: “ý thức chân trời” và “chân trời ý hướng tính”.
1

Triết học Nietzsche phân biệt hai khái niệm: “chân trời” (Horizont) và “viễn tượng”
(Perspekstive). Khái niệm “chân trời”, như trên đã nói, liên quan đến giới hạn và sự mở rộng giới
hạn của các ranh giới nhận thức. Khái niệm “viễn tượng” chỉ một trường nhìn lý giải xuất phát từ
góc nhìn cá nhân. Triết học Nietszche cho rằng “siêu nhân” (Übermensch) là con người luôn biết
vượt qua (über-) viễn tượng của một con người (Mensch) cá biệt để liên tục mở rộng và thay đổi
chân trời nhận thức và lý giải của riêng mình. Sự phân biệt hai khái niệm này rất quan trọng trong
triết học, thông diễn học và mỹ học tiếp nhận.


17

18

Với Martin Heidegger, toàn bộ chân trời nhận thức gắn liền với con
người bình thường, cá nhân thường nghiệm. Phê phán Husserl rằng quan
niệm về nhận thức của ông thoát ly khỏi con người cụ thể, Heidegger cho
rằng chân trời của Dasein không chỉ là sự vật, mà là thế giới sống của con
người, trong đó con người quan hệ với sự vật để sử dụng. Chân trời trở thành
cấu trúc tồn tại của Dasein. Chúng ta bị ném vào trong hiện tại này mà không
thể khước từ được; với tính cách là một tồn tại, chúng ta bị quăng ném vào
trong một “cảnh trạng” (Befindlichkeit). Một người Việt Nam, được/ bị kế
thừa lịch sử và văn hóa Việt Nam. Điều này không những bắt buộc họ phải
nỗ lực hiểu thế giới hiện tại mà còn quy định toàn bộ hoạt động hiểu của họ
về thế giới hiện tại này. Chẳng hạn họ sẽ hiểu lịch sử triều Nguyễn như thế
này hoặc như thế kia chủ yếu là do cách lý giải kế thừa từ những lý giải trước
đó về triều Nguyễn. Mà những cách lý giải đó, xét cho cùng, là do lịch sử
quy định (chính trị, văn hóa…).
Nhưng con người còn là một tồn tại tự do và mang tính dự phóng. Mỗi
người tự do chọn lựa và dự phóng tương lai, những mơ ước và khát vọng của
họ vào việc hiểu. Nghĩa là bản thân mỗi người đã có một chân trời của mơ
ước, khát vọng, niềm tin… của con người để họ có thể hiểu con người. Đó là
tính chất dự phóng trong tồn tại của riêng mỗi người. Người đọc hiểu nhân
vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều như thế này hoặc như thế khác vừa là do tri
thức của họ về đời sống văn hóa triều Nguyễn – một bộ phận của chân trời
mà trong đó Truyện Kiều tồn tại, vừa là do những ý thức và vô thức của riêng
họ, những mơ ước và khát vọng của riêng họ với tư cách là những mơ ước và
khát vọng của con người hữu hạn, tồn tại để đi đến cái chết. Nếu như tính
chất bị quăng ném làm cho việc hiểu của con người mang tính thụ động, thì
tính chất dự phóng làm cho việc hiểu của con người mang tính chủ động.




20

và biến đổi khi tiếp xúc với văn bản; và nhờ có sự tiếp xúc như vậy, văn bản
văn học cũng mở rộng không ngừng các ý nghĩa của nó. Hoạt động hiểu, do
vậy, là sự hòa trộn các chân trời lịch sử trên cơ sở chân trời trong hiện tại,
làm cho các chân trời luôn luôn đổi mới; và cũng do đó, hoạt động hiểu
không bao giờ hoàn tất và kết thúc, mà là một tiến trình hòa trộn liên tục.
Gadamer viết: “Do đó, chân trời của hiện tại không thể được tạo thành mà
không có quá khứ. Không có một chân trời hiện tại tự mình [độc lập, tách
rời] nào cả, cũng như không có những chân trời lịch sử để ta phải đạt được.
Đúng hơn, việc hiểu bao giờ cũng là tiến trình hòa trộn những chân trời bị
nhầm tưởng là tồn tại độc lập, tự mình ấy” [144; tr.311,312].
Nhưng hòa trộn không có nghĩa là xếp chồng một cách đơn giản các
chân trời này vào trong nhau, cũng không có nghĩa là hợp nhất nó vào một
chân trời duy nhất của truyền thống. Hiểu văn bản trong quá khứ không phải
là việc người đọc đồng nhất kinh nghiệm của mình với quá khứ. Hiểu thơ
Nôm Hồ Xuân Hương, không có nghĩa là người đọc trở thành chủ thể trữ
tình, mà tiếp xúc và có những trải nghiệm thẩm mỹ mới lạ về nó từ điểm
nhìn trong hiện tại của họ, và từ đó, văn bản thơ cũng sống lại trong họ
những ý nghĩa mới mẻ hơn. Đó là lý do Gadamer phân biệt giữa “sự hòa trộn
các chân trời” (Horizontverschmelzung) và “sự tạo thành của một chân trời
quy nhất” 1. Ông viết: “Nếu các chân trời này giờ đây không tách biệt với
nhau, tại sao ta lại nói đến “sự hòa trộn các chân trời”, mà không đơn giản
nói đến sự tạo thành của một chân trời quy nhất (der Bildung des einen
Horizontes), hợp nhất trở lại các ranh giới của nó vào chiều sâu của truyền
thống?” [144; tr.311,312]. Theo ông, không thể hiểu “sự hòa trộn các chân
trời” theo nghĩa các chân trời khác nhau quy về một chân trời truyền thống.
1


luôn trong quá trình tạo thành, nghĩa là luôn trong sự thẩm tra, đánh giá để
chỉnh sửa. Để có một sự thẩm tra đánh giá để chỉnh sửa, thì chân trời hiện tại
luôn phải tiếp xúc với truyền thống, nghĩa là tiếp xúc và va chạm với các
chân trời lịch sử trong hoạt động hiểu. Nhận thức của người đọc trong hiện


22

tại về hình ảnh và số phận người phụ nữ sẽ được bổ sung, mở rộng, khi họ
hiểu được số phận của Thúy Kiều, của hình tượng người phụ nữ trong thơ
Hồ Xuân Hương, và của những người phụ nữ trong văn học thời trung đại.
Quan niệm về sự hòa trộn các chân trời và việc thoát ly khỏi truyền
thống từ chân trời hiện tại của Gadamer trong việc hiểu có ảnh hưởng lớn
đến mỹ học tiếp nhận và thông diễn học văn học của Hans Robert Jauss. Tuy
nhiên, nếu như Gadamer nhấn mạnh đến khía cạnh hòa trộn các chân trời thì
Jauss nhấn mạnh vai trò quyết định của sự thoát ly lẫn nhau giữa các chân
trời trong tiếp nhận văn học.
Theo Jauss, trong việc tiếp nhận văn bản văn học, người đọc phải có ý
thức tách biệt chân trời quá khứ ra khỏi chân trời hiện tại để đến được với
“tính khác biệt” (Alterität) của văn bản và để tránh một sự đồng nhất hóa
ngây ngô văn bản trong quá khứ vào các tiên kiến và chờ đợi ý nghĩa của
hiện tại [149; tr.821]. Đọc là một hành trình đối thoại với “cái khác”, để mở
rộng chân trời hiện tại của chính mỗi người đọc. Để đạt được điều đó, Jauss
cho rằng trong quá trình thông diễn, người đọc phải có một hành vi đọc tái
cấu tạo có tính lịch sử, nghĩa là “tìm kiếm lại các câu hỏi mà văn bản đã trả
lời trong thời đại của nó”. Mặt khác người đọc cũng phải thoát ly chân trời
quá khứ từ chân trời hiện tại để đưa vào văn bản những ấn tượng, những trải
nghiệm mới mẻ từ kinh nghiệm sống của mình. Cho rằng Gadamer còn xem
nhẹ tiềm năng sáng tạo của người đọc khi quá chú trọng đến sự hòa trộn chân
trời, Jauss nhấn mạnh đến một sự “thoát ly chân trời” (Horizontabhebung)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status