NỘI DUNG
I.
Khái niệm chủ nghĩa nhân đạo
“Nhân đạo”: nhân là người, đạo là con đường. Như vậy, nghĩa đen
của nhân đạo là đường đi của con người. Con đường đó là con đường
của đạo lí: đạo lí tôn trọng quyền lợi chính đáng của con người, yêu
thương, quý trọng và đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người. Từ
khái niệm nhân đạo đã phát triển trở thành chủ nghĩa nhân đạo nở rộ ở
các nước phương Tây, mà khởi nguồn từ Pháp vào thế kỉ XVIII.
Theo nhà bác học Nga Vônghin: “Chủ nghĩa nhân đạo là toàn bộ
những quan điểm đạo đức và chính trị bắt nguồn không phải từ cái gì
siêu nhiên, kỳ ảo từ những nguyên lý ngoài đời của nhân loại, mà từ con
người tồn tại thực tế trên mặt đất với những khả năng, những nhu cầu
của mình. Những khả năng và nhu cầu ấy phải đươc phát triển đầy đủ,
được thỏa mãn.” Như vậy, xuất phát từ nhu cầu thực tế của con người,
chủ nghĩa nhân đạo hình thành dẫn con người đến đạo lí tình thương,
lòng trắc ẩn với những số phận bất hạnh.
Trong văn học, chủ nghĩa nhân đạo có thể hiểu là lòng yêu thương
con người, nâng niu, quý trọng, đề cao con người, tin vào khả năng vươn
lên của con người, tạo điều kiện cho con người phát triển.
Nhân đạo bao gồm cả yếu tố nhân văn (những giá trị, vẻ đẹp tinh
thần của con người) và nhân bản (cái gốc, cái bản chất của con người, đi
sâu vào đời sống bản năng của con người đặc biệt là đời sống tình cảm,
xúc cảm).
Đến với văn học trung đại Việt Nam, chủ nghĩa nhân đạo đã trở
thành một trong hai nguồn cảm hứng chính lúc bấy giờ, đó là cảm hứng
yêu nước và cảm hứng nhân đạo. Xuất phát từ thực tế đất nước vừa thoát
khỏi ách thống trị nặng nề nghìn năm Bắc thuộc, bước vào giai đoạn đấu
a.
•
Đối với con người xã hôi có địa vị cao, tầng lớp trên
Đối với “vua”, “chúa”
Xã hội phong kiến với những kìm kẹp, bất công, trói buộc, chà đạp
lên thân phận đáng thương, hiểu được điều đó, Hồ Xuân Hương đã góp
tiếng nói của mình bằng cách đả kích, phê phán những thế lực gây nên bi
lụy cho giới nữ như là thể hiện sự đồng cảm, xót thương hay cao hơn là
lòng nhân đạo với con người. Đến xã hội này đã có người chống lại vua
khi vua không còn ra vua nữa, riêng với thân phận nữ nhi chắc bà không
có ý định mắng vua mà chỉ có ý trách nhẹ nhưng đau vô kể:
“Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này”
Tiếng nói đả kích tố cáo đó được nữ sĩ sử dụng thông qua công cụ
cố hữu của truyền thống văn học dân tôc cũng như phổ biến trên
thế giới: đó là tiếng cười châm biếm.
•
Anh hùng, người quân tử
Mượn cớ tả cái quạt mà thật ra là để chỉ cái khác, nói đến
thói mê hoa, hám sắc của bọn quan lại, vua chúa. Vua chỉ yêu “cái
này” thôi và không yêu cái khác! Nói cái quạt để ám chỉ người con
gái, “ mười bảy hay mười tám” số nan quạt giấy cũng đồng thời
nói lên tuổi của thiếu nữ. Đương thời chỉ có ca dao với Trạng
Quỳnh mới dám đả kích như vậy.
Mười bảy hay mười tám đây?
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay.
Một lạch Đào nguyên suối chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì củng dở, ở không xong.
Thấy cô gái ngủ hớ hênh thì quân tử cũng “dùng dằng đi
chẳng dứt”. Nhà thơ vạch ra tính chất khôi hài của nội dung rất
phàm tục lại được che đậy bằng một lớp vỏ đạo đức giả hoặc qua
bài “Đèo ba dội” cũng vậy:
Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ loét tumg hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân, quân tử ai là chẳng…
Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo.
Trong những bài thơ quả mít, ốc nhồi, bà cũng đã vạch ra những
việc xấu xa ấy của bọn quân tử.
Đối với con người xã hội có địa vị thấp- tầng lớp dưới (“anh
đồ”, “học trò”, “nhà sư”)
b.
•
Anh đồ, học trò
Đó còn là đám sĩ nho quân tử con nhà quan dốt nát mà hênh hoang.
Không tự lượng tài sức non nớt, hễ đến thăm chùa chiền nào là làm
Đi đâu chẳng đội để ong châm.
Đầu sư há phải gì…bà cốt,
Bá ngọ con ong bé cái nhầm.
Hồ Xuân Hương còn vạch ra cho chúng ta thấy cảnh chướng
tai gai mắt của hạng nhà sư chỉ có đạo đức ở bộ áo cà sa, còn lòng
dạ thì vấn vương trần tục “miệng nam mô, bụng một bồ dao
găm”…
Chẳng phải là Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lốc, áo không tà.
Oảng dâng trước mặt, dăm ba phẩm,
Vải núp sau lưng, bảy tám bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe,
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ nên sư cụ,
Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà!
(Sư hổ mang)
Qua những hình ảnh sinh động với lối thơ châm biếm, Hồ
Xuân Hương vẽ lên không phải là cảnh tôn nghiêm của nhà chùa
mà là nơi một bọn đội lốt tu hành ngày đêm đú đởn, chè chén, hát
hổng…
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Với bài “Chùa sư quán”
Quán sứ sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kinh, tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít,
Hỡi chị em ơi có biết không?"
Nàng đã tỏ đến cao độ yêu thương cuảnguowif phụ nữ, nhiều lúc
tình yêu đối với nàng là một sự chịu thương chịu khó, một bên con
khóc, một bên chồng. Chồng đòi quyền lợi của chồng, con đòi
quỳên lợi của con, mà lại đòi cùng một lúc! vừa phải chiều chồng,
vừa phải chăm con, Xuân Hương tài thật! bạo gan thật. Ca dao ta
cũng có câu với nghĩa tương tự:
"Trong khi lửa tắt cơm sôi
Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem"
Trong lời đề từ Truyện Kiều, Nguyến Du đã viết:
"Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trong thấy mà đau đớn lòng
Lạ gì bỉ sắc, tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen"
Hồ Xuân Hương con người có sức sống mãnh liệt, ý thức cá nhân
sâu sắc, khao khát hạnh phúc lứa đôilaj rơi vào tấn bi kịch đau lòng
nhất của người phụ nữ: làm lẽ. Nàng chính là đứa con của người
vợ lẽ, rồi chính nàng hai lần lấy chồng đều làm lẽ. Tất cả những
thảm cảnh bất hạnh của mẹ nàng, của nàng và của biết bao người
phụ nữ khác trong chế độ đa thê phong kiến đáng nguyền rủa được
dồn nén và cuối cùng đã được giải phóng:
"Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm thì mười họa hay chăng chớ,
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
riêng độc đáo. Bài thơ Mời trầu là một minh chứng rõ ràng nhất,
ngoài việc chủ động mời gọi tình yêu khẳng định nghịch lí "cọc đi
tìm trâu" vốn đã khắt khe trong xã hội phong kiến, bài thơ còn bộc
lộ cái tôi cá nhân rất thẳng thắn:
"Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi"
(Mời trầu)
Trước đó, chưa một ai dám khẳng định bản thân bằng cách lấy
thẳng tên mình đưa vào thơ văn, nếu có cũng chỉ mập mờ chưa rõ
ràng. Nhưng ở Hồ Xuân Hương, đó là sự ý thức rất sâu sắc cái tôi
cá nhân để qua đó bộc lộ tâm tình sâu lắng, chủ động mời mọc tình
yêu. Hay nói đến cái tôi cô đơn bị bỏ rơi, bị lãng quên trong dòng
đời vì phận làm lẽ nhỏ mọn tạo nên sự túng thiếu về mặt tình cảm.
Lời thơ Tự tình II là sự ý thức của cá nhân sâu sắc trong niềm khát
khao cháy bỏng được yêu thương, chia sẻ:
"Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non"
Khoảng thời gian tất cả như bị nhấn chìm vào quên lãng, ở đây lại
có một hồng nhan cô đơn lẻ loi để tuổi xuân của mình chìm vào
quên lãng. Để từ đó bộc bạch tâm sự về thân phận của người phụ
nữ, muốn đấu tranh để có được hạnh phúc. Chính nhờ vào sức
sống mãnh liệt và lòng thiết tha yêu cuộc sống đã không làm cho
nữ sĩ mất đi hy vọng mà trái lại còn thách đố và khẳng định mình:
"Tài tử nhân văn ai đó tá
Thân này đâu đã chịu già tom?"
(Tự tình I)
hình của những cô gái trẻ đẹp, thanh lịch, với nụ cười chan chứa
yêu đời. Trong rất nhiều những án thi ca viết về người phụ nữ cụ
thể trong bài Đề tranh tố nữ:
"Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng.
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Xiếu mai chi dám tình trăng gió,
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh"
Vẻ đẹp của người phụ nữ xứng đáng được vẽ lên trong tranh để có
thể lưu giữ lại và chiêm ngưỡng. Đến với lời thơ của Thiếu nữ ngủ
ngày mang nét chấm phá độc đáo nhất, bài thơ đã ca ngợi vẻ đẹp
cơ thể của một cô gái trẻ tuổi. Nếu như các nhà văn thơ thời trước
miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ bằng ước lệ tượng trưng, Nguyễn
Du miêu tả vẻ đẹp của nàng Kiều:
"Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên"
Hay vẻ đẹp của Dao Tiên trong Hoa Tiên... Còn đối với Hồ Xuân
Hương lại khác, đó là sự công khai ca ngợi một cách thẳng thắn và
khẳng định vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ độc đáo nhất mọi
thời đại. Bà tập trung miêu tả những cái văn học trước đó thường
né tránh bằng cái nhìn cụ thể, không chung chung mờ nhạt:
"Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc chải dài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch đào nguyên suối chửa thông."
(Đề tranh tố nữ)
Ca ngợi sự bất diệt của tuổi xuân, sức sống mãnh liệt của những
người thiếu nữ. Dù quả mít có xù xì đến đâu nhưng "múi nó dày".
Và dù chiếc bánh trôi có "bảy nổi ba chìm" đến thế nào chăng nữa,
phẩm chất kiên trinh của nó vẫn không hề bị nhấn chìm:
"Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son"
(Bánh Trôi Nước)
Chiếc bánh trôi là hình tượng biểu trưng cho vẻ đẹp ngoại hình của
người phụ nữ vừa khẳng định vẻ đẹp bên trong tâm hồn của họ.
"Tấm lòng son" đã nói lên tất cả, dù ở bất kì hoàn cảnh nào, bị dồn
ép đến đâu vẫn mang một tấm lòng sắt son chung thủy đến cùng.
Qua những hình ảnh trên ta có thể thấy phản chiếu đâu đó là hình
ảnh một Xuân Hương với khát khao tình yêu nồng cháy, sự mong
chờ chung thủy trong sự hồi hộp vô cùng. Nhưng ngán ngẩm thay
đó là sự hoài phí tuổi xuân trong mỏi mòn.
"Ấy ai than vãn cam lòng vậy
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh"
(Tự tình III)
1.3
Vẻ đẹp tài năng, trí tụê
Trước hết nói về bản thân nữ sĩ Hồ Xuân Hương, tương truyền hồi
bà còn đi học: Một hôm gặp phải trời mưa, đến sân trường đất
trơn, cô nữ sinh trượt chân ngã oạch một cái, các bạn học thấy thế
đều cười ầm lên. Nhưng Xuân Hương đã đứng ngay dậy, ung dung
đọc hai câu thơ rằng:
sự mỉa mai với giọng điệu trào lộng đối với những bậc anh hùng,
công khai khẳng định khả năng và trí tụê của bản thân cũng như
những người phụ nữ nói chung. Đi qua ngôi đền thờ tên tướng bại
trận, nhà thơ đã không chịu cất nón để cúi đầu chào mà trái lại còn
buông lời mỉa mai thậm chí chỉ ghé mắt nhìn ngang: Nhìn, liếc
nhìn bằng nửa con mắt. Bà muốn khẳng định rằng nếu như bà đổi
phận làm nam nhi được thì sự nghiệp công danh không chỉ có bấy
nhiêu đâu. Lúc này tất cả như trở về ngang hàng với nhau, không
còn bấp bênh phân biệt giữa nam và nữ. Đây là lời tuyên chiến thật
hiếm và lạ ở thơ Hồ Xuân Hương vào thời kì trung đại. Lúc bấy
giờ bà đã trở thành người nổi loạn muốn xóa đi tất cả những định
kiến của xã hội cũ. Thái độ ấy là một sự thách thức quan niệm
trọng nam khinh nữ đề cao người phụ nữ với vẻ đẹp không thua
kém vẻ anh hùng chí khí của đấng nam nhi. Như đã tương truyền
lại cuộc đời của Xuân Hương, đã có lần bà mắng thẳng vào mặt
những thư sinh, học trò dốt chữ lỏng mà hay khoe mã, Không biết
điều mà học đòi nói chữ:
"Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa"
(Mắng học trò dốt)
Với thái độ châm biếm mỉa mai ấy, dường như Hồ Xuân Hương
đang đứng trên một vị trí cao hơn, quyền uy ngạo nghễ xem những
trí thức rởm chỉ là những con "ong non", "dê cỏn" chưa đủ lớn để
có thể huênh hoang, phải còn học hỏi thêm ở bà. Đây là một khía
cạnh nói lên sự khẳng định tài năng và trí tụê của bà nói riêng và
với những người phụ nữ nói chung.