TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ KIM ANH
TỪ ĐỊA PHƢƠNG TRONG TẬP
TRUYỆN CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. LÊ THỊ THÙY VINH HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới
ThS. GVC Lê Thùy Vinh - ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn, tận tình chỉ bảo để
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Kim Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 6
6. Đóng góp của khóa luận 6
NỘI DUNG 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Văn chƣơng là nghệ thuật ngôn từ. Đó là ngôn từ của tác phẩm văn
học, của thế giới nghệ thuật, kết quả sáng tạo của nhà văn. Tác phẩm nghệ
thuật không phải là sự sao chép cuộc sống một cách đơn giản một chiều, mà
đã đƣợc khúc xạ qua lăng kính của tác giả. Sức mạnh của các tác phẩm văn
chƣơng chính là việc vận dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, tài hoa của mỗi
nhà văn, nhà thơ.
Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học
đƣợc gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Macxim Gorki khẳng định: “Ngôn
ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”.
Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một yếu tố quan trọng thể hiện cá
tính sáng tạo của nhà văn. Mỗi nhà văn phải là tấm gƣơng sáng về mặt hiểu
tận của Nguyễn Ngọc Tƣ. Chúng tôi mong rằng đề tài này sẽ góp một tiếng
nói khẳng định giá trị nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn.
2. Lịch sử vấn đề
Phƣơng ngữ nói chung và từ địa phƣơng nói riêng là một vấn đề hấp dẫn
với các nhà ngôn ngữ học và những ngƣời say mê ngôn ngữ. Trên thực tế đã có
nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này nhƣ “Phương ngữ học tiếng Việt” của
Hoàng Thị Châu [3], “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” của Đỗ Hữu Châu [2], “Từ
vựng học tiếng Việt” của Nguyễn Thiện Giáp [7]. Qua các công trình đã đƣợc
công bố, các tác giả đã khái quát đƣợc mối quan hệ giữa từ địa phƣơng và ngôn
ngữ dân tộc, chỉ ra diện mạo, đặc điểm của phƣơng ngữ tiếng Việt và hiệu quả
nghệ thuật phƣơng ngữ trong tác phẩm văn chƣơng. Tuy ở những phƣơng diện
và mục đích khác nhau nhƣng các nhà nghiên cứu đã cho chúng ta một cái nhìn
tƣơng đối đầy đủ về vấn đề phƣơng ngữ tiếng Việt.
3
Tìm hiểu hiệu quả sử dụng từ địa phƣơng trong tác phẩm văn học là
hƣớng nghiên cứu đƣợc nhiều tác giả quan tâm. Chúng tôi đã khảo sát một số
công trình khoa học liên quan nhƣ:
“Màu sắc Nam bộ trong ngôn ngữ truyện kí Sơn Nam”, Luận văn tốt
nghiệp của tác giả Nguyễn Nghiêm Phƣơng, Trƣờng Đại học Sƣ phạm
TP.HCM, năm 2009. Trong luận văn này, tác giả đi sâu tìm hiểu các phƣơng
tiện ngôn ngữ biểu thị màu sắc Nam bộ trong truyện kí Sơn Nam để làm nổi
bật những đặc trƣng về màu sắc và sắc thái Nam bộ trong ngôn ngữ nghệ
thuật cũng nhƣ giá trị tạo hình và biểu cảm trong truyện kí Sơn Nam. [
“Khảo sát việc sử dụng từ địa phương trong thơ Tố Hữu”, Luận văn tốt
nghiệp của tác giả Phạm Thị Thùy Dƣơng, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái
Nguyên, năm 2008. Trong công trình này, tác giả khai thác quan điểm nghệ
thuật của Tố Hữu trong việc sử dụng từ địa phƣơng nhƣ những quan điểm về thơ
và ngôn ngữ thơ cũng nhƣ nguyên tắc sử dụng từ địa phƣơng trong sáng tác.
“Hiệu quả sử dụng từ địa phương trong truyện và kí của Nguyễn
chung quanh”. [18.2].
Trần Phỏng Diều trong bài “Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư” trên trang web “Viet - Studies” cũng đánh giá cao việc sử
dụng ngôn ngữ Nam Bộ trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tƣ. [18.2].
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Thu Hà K32B, Khoa Ngữ
văn trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 với đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư” đã tìm hiểu và phân tích những đặc trƣng ngôn ngữ
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ nói chung trên các phƣơng diện ngữ âm,
từ vựng và ngữ pháp. Tác giả cũng dành một mục để nghiên cứu việc sử dụng
từ địa phƣơng, tuy nhiên khóa luận chỉ dùng lại ở mức độ khái quát.
5
Luận văn “ Chất Nam bộ trong ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư” của tác giả Phạm Thị Hồng Nhung, trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái
Nguyên, năm 2012, cũng chỉ ra những nét đặc trƣng về ngôn ngữ trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ trên các phƣơng diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
Từ đó, tác giả khái quát tác dụng của chất Nam bộ trong việc xây dựng ngôn
ngữ, tính cách nhân vật, giọng điệu và phác họa đƣợc “cái tạng” trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ.
Qua những bài báo, những ý kiến, những lời nhận xét chúng ta thấy
ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ đƣợc dƣ luận và giới
nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, các bài viết, bài nghiên cứu này mới chỉ đề
cập một chung nhất và đánh giá trên phƣơng diện khái quát toàn bộ sáng tác
của Nguyễn Ngọc Tƣ. Chính vì vậy, trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu
của những tác giả đi trƣớc, tác giả của khóa luận này muốn ở mức độ nhất
định đi tới khám phá hiệu quả sử dụng từ địa phƣơng trong tập truyện Cánh
đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ. Từ đó, có cách đánh giá và nhìn nhận
đúng đắn về các sáng tác của chị cũng nhƣ tập truyện Cánh đồng bất tận.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phương pháp so sánh
Chúng tôi tiến hành sử dụng phƣơng pháp so sánh chiếu việc sử dụng từ
địa phƣơng trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ.
Phương pháp tổng hợp
Phƣơng pháp này đƣợc vận dụng khi phân tích và so sánh để rút ra nhận xét
và kết luận cần thiết.
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận khảo sát, tìm hiểu và phân tích những đặc sắc trong sử dụng
từ địa phƣơng trong tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ
7
để thấy từ địa phƣơng có vai trò quan trọng trong việc góp phần làm phong phú
kho tàng ngôn ngữ dân tộc; thể hiện tính chân thực, hấp dân bởi hình tƣợng
nghệ thuật, tạo màu sắc địa phƣơng cho tác phẩm; góp phần nhỏ vào việc đánh
giá và khẳng định phong cách nhà văn và in đậm dấu ấn thời kì đổi mới.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, khóa luận này đƣợc triển khai thành các phần:
Nội dung: gồm 2 chƣơng
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận
Chƣơng 2: Từ địa phƣơng trong tập truyện Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tƣ
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Thuật ngữ này tồn tại song song với một số từ ngữ khác ít mang tính thuật
ngữ hơn nhƣ: phƣơng ngôn, tiếng địa phƣơng, giọng địa phƣơng…
Theo GS Hoàng Thị Châu thì: “ Phƣơng ngữ là sự biến dạng của một
ngôn ngữ đƣợc sử dụng với tƣ cách là phƣơng tiện giao tiếp của những ngƣời
gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về mặt lãnh thổ, về
hoàn cảnh xã hội, về nghề nghiệp còn gọi là tiếng địa phƣơng.
Phƣơng ngữ đƣợc chia ra thành phƣơng ngữ lãnh thổ và phƣơng ngữ xã
hội. Các phƣơng ngữ có sự khác biệt trong âm thanh, từ vựng, ngữ pháp.
9
Nhƣ vậy: Phƣơng ngữ là một thuật ngữ của ngôn ngữ học để chỉ sự
biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân và là biến thể của ngôn ngữ này ở một vài
địa phƣơng cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân
hay với một phƣơng ngữ khác.
Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn diễn ra ở hai mặt cấu trúc và
chức năng. Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngôn ngữ, sự phát
triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ âm, từ vựng, ngữ
nghĩa, ngữ pháp. Phƣơng ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi ấy. Nói tóm
lại, phƣơng ngữ là một hiện tƣợng phức tạp của ngôn ngữ không chỉ ở mặt hệ
thống cấu trúc cũng nhƣ phƣơng tiện để thể hiện mà bản thân nó cũng là sự phản
ánh của nhiều mối quan hệ xã hội và lịch sử trong và ngoài ngôn ngữ.
Với tầm quan trọng của mình, vấn đề phƣơng ngữ đã đƣợc nghiên cứu
thành hệ thống trong bộ môn “Phƣơng ngữ học”. Đây là một ngành nghiên
cứu có nhiều thành tựu xuất sắc.
1.1.2. Việc phân chia các vùng phương ngữ
Do lịch sử hình thành và phát triển khác nhau giữa các vùng, miền.
Tiếng Việt gặp phải những khó khăn khi phân chia các vùng phƣơng ngữ. Và
tiếng Việt hôm nay vẫn tồn tại hai quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Vƣơng Hữu Lễ,
Hoàng Thị Châu chủ trƣơng chia làm ba vùng phƣơng ngôn tƣơng ứng với ba
- Vị trí: Tính từ nam Thanh Hóa đến Khánh Hòa.
- Đặc điểm:
+ Hệ thống thanh điệu: Gồm 5 thanh, khác với hệ thống thanh điệu
phƣơng ngữ Bắc Bộ cả về số lƣợng và chất lƣợng.
+ Hệ thống phụ âm đầu:
. Số lƣợng: Gồm 23 phụ âm
. Trong đó, phƣơng ngữ Trung Bộ hơn phƣơng ngữ Bắc Bộ 3 phụ âm uốn
lƣỡi [s, z, t] (chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr). Trong nhiều thổ ngữ có hai phụ âm
bật hơi [ph, kh] thay cho hai phụ âm xát [f, x] trong Phƣơng ngữ Bắc Bộ.
+ Hệ thống âm cuối: Đôi phụ âm [-ng, -k] có thể kết hợp đƣợc với các
nguyên âm trƣớc, giữa và sau. Tuy vậy, trong những từ chính trị - xã hội mới
xuất hiện gần đây vẫn có các cặp âm cuối [-nh, -ch] và [-ng
m
…, -k
p
…].
11
* Phƣơng ngữ Nam Bộ
- Vị trí địa lí: Tính từ Bình Thuận trở vào.
- Đặc điểm:
+ Hệ thống thanh điệu:
. Số lƣợng: 5 thanh
. Trong đó, thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một. Xét về mặt điệu
tính, thì đây là một hệ thống thanh điệu khác với hai vùng phƣơng ngữ Bắc
Bộ và Trung Bộ.
+ Hệ thống phụ âm đầu:
. Số lƣợng: 23 phụ âm
. Phƣơng ngữ Nam Bộ có các phụ âm uốn lƣỡi nhƣ phƣơng ngữ Trung
Bộ [s, z, t] mà chữ viết ghi là s, r, tr. Ở Nam Bộ r có thể phát âm rung lƣỡi [r].
thành thanh ngã. Phụ âm vô thanh đi với thanh cao ở phƣơng ngữ Trung Bộ
còn phụ âm hữu thanh đi với thanh trầm thƣờng gặp ở phƣơng ngữ Băc Bộ.
Ví dụ: Sắc / nặng: ăn phúng / ăn vụng, nhà thốt / nhà dột…
Không / huyền: chi / gì, ca / gà, mƣa thâm / mƣa dầm…
Hỏi / ngã: phở / vỡ, phổ / vỗ…
- Những từ có phụ âm đầu khác với ngôn ngữ văn học có thể tìm thấy ở
phƣơng ngữ Bắc Bộ nhƣng không nhiều hiện tƣợng nhƣ phƣơng ngữ Trung
Bộ.
Ví dụ: dăn deo / nhăn nheo, duộm / nhuộm, dức đầu / nhức đầu…
- Những từ khác nguyên âm thể hiện quá trình biến đổi từ nguyên âm
đơn sang nguyên âm đôi bằng hai khuynh hƣớng:
+ Nguyên âm đôi mở dần trong các phƣơng ngữ Bắc Bộ và Nam Bộ: e /
ei, a / ươ, o / uo.
Ví dụ: méng / miếng, lả / lửa, mói / muối…
13
+ Nguyên âm đôi mở dần trong các phƣơng ngữ khác: i / iê, u / uô, …
Ví dụ: con chí / con chấy, ni / nầy…
- Những từ khác phụ âm cuối biểu hiện ở một số thổ ngữ Thanh Hóa:
phụ âm cuối -n biến thành -j.
Ví dụ: cằn cần / cày cấy, kha cắn / gà gáy,…; cái vắn / cái váy…
* Từ khác gốc (không có quan hệ ngữ âm)
Có phƣơng ngữ có hai hay nhiều từ khác hẳn nhau nhƣng lại đồng
nghĩa nhƣ trái và quả, bông và hoa,… Những từ này do xuất phát từ những
nguồn gốc khác nhau. Có thể thấy, các từ này tập trung chủ yếu vào một loại
là danh từ:
Ví dụ:
Phƣơng ngữ Bắc Bộ
Phƣơng ngữ Trung Bộ
Phƣơng ngữ Nam Bộ
của các vua chúa nhà Nguyễn: hoành thành huỳnh, cảnh thành kiểng, kính
thành kiếng, hoa thành huê…
Một số từ vựng tiếng Khowmer đƣợc vay mƣợn nhƣ: xoài, bò hóc, ghe,
ghe ngo, võ lãi… Có nhiều từ tiếng Hoa của cƣ dân Quảng Châu, Phúc Kiến
đƣợc vay mƣợn nhƣ âm: tẩy(ly đá), chạp pô, xì dầu, lì xì…
Về đặc điểm, vùng phƣơng ngữ Nam Bộ đƣợc chia thành các vùng nhỏ hơn:
- Vùng phƣơng ngữ Quảng Nam - Quảng Ngãi: vùng này khác hẳn các
nơi khác ở sự biến động đa dạng của âm a và ă trong kết hợp các âm cuối
khác nhau.
- Vùng phƣơng ngữ Quy Nhơn đến Thuận Hải mang đặc trƣng chung
nhất của phƣơng ngữ Nam Bộ.
Tuy khác nhau nhƣng cùng nhau góp phần làm nên bản sắc văn hoa
Nam Bộ độc đáo.
Nhƣ vậy, phƣơng ngữ Nam Bộ là vùng phƣơng ngữ khá đặc biệt và
dạt sự thống nhất cao so với hai vùng phƣơng ngữ Bắc Bộ và Trung Bộ.
Phƣơng ngữ Nam Bộ là ngôn ngữ khu vực đƣợc sử dụng rộng rãi hơn một
phần ba dân số cả nƣớc. Nó đƣợc xem là phƣơng ngữ lớn, nơi có sự phát triển
kinh tế năng động, văn hóa phong phú, một “phƣơng ngữ mạnh” có vai rò đặc
biệt với tiếng Việt.
1.2 Từ địa phƣơng
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Từ toàn dân
Theo giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu, từ toàn
dân là từ khi nhắc đến đƣợc mọi ngƣời dân hiểu và sử dụng, Nó là vốn từ
15
chung cho tất cả những ngƣời nói tiếng Việt thuộc các địa phƣơng khác nhau
trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đây là lớp từ vựng cơ bản, quan trọng nhất của
ngôn ngữ và là cơ sở thống nhất ngôn ngữ. Nó đƣợc ghi lại trong cuốn từ điển
tiếng Việt.
- Thứ nhất, từ địa phƣơng có sự đối lập về nghĩa. Những từ này về ngữ
âm có sự giống với từ toàn dân, nhƣng nghĩa của chúng hoàn toàn khác nhau.
Ví dụ:
Phƣơng ngữ Nam Bộ
Từ toàn dân
Nón
Mũ
Chén
Bát
Cây kiểng
Cây cảnh
Lê-ki-ma
Quả trứng gà
- Thứ hai, từ địa phƣơng có sự đối lập về mặt ngữ âm gồm hai loại:
+ Từ địa phƣơng có hình thức ngữ âm khác hoàn toàn với từ ngữ tƣơng
ứng ngôn ngữ toàn dân.
Ví dụ:
Phƣơng ngữ Nam Bộ
Từ toàn dân
Heo
Lợn
Mắc
Đắt
Hình
Ảnh
+ Từ địa phƣơng có hình thức ngữ âm khác bộ phận với từ tƣơng ứng
trong ngôn ngữ toàn dân.
Ví dụ:
Vì vậy, có những từ ngữ trƣớc đây chỉ dùng ở một số địa phƣơng nào đó thì
giờ đây đã đƣợc mọi ngƣời chấp nhận và sử dụng công khai, phổ biến ở nhiều
nơi thậm chí trở thành ngôn ngữ chung. Chẳng hạn nhƣ: Đụng độ, sầu riêng,
chôm chôm,…trƣớc chỉ có ở miền Nam thì giờ đây trở thành ngôn ngữ chung
18
không có từ toàn dân tƣơng đƣơng. Ngƣợc lại, có một số từ ở miền Bắc lại
đƣợc sử dụng rộng rãi ở miền Trung, miền Nam. Nhƣ vậy, nhờ giao lƣu, nhờ
các phƣơng tiện truyền thông, sách báo mà ngôn ngữ tiếng Việt ngày càng
phát triển phong phú hơn.
Bên cạnh đó, với sự đóng góp của các tác phẩm văn học xuất sắc, ngôn
ngữ địa phƣơng không chỉ thể hiện ở dáng dấp, ngoại hình mà còn đƣợc làm
duyên, làm dáng, đƣợc phô diễn hết vẻ đẹp vốn có của nó. Chẳng hạn khi thể
hiện cảm xúc của ngƣời cha đang hạnh phúc vì tƣởng đứa con mình trở về
thật của ông già Năm Nhỏ trong “Cải ơi”: “ Ông già nắn đầu, nắn vai nó với
một nỗi vui chảy tràn, trời đất, ba nhìn không ra, bây lớn dữ dằn vầy”. Ngoài
ra, trong lĩnh vực nghệ thuật, từ địa phƣơng còn biểu đạt tính chân thực của
hình tƣợng, tâm lí, tính cách của con ngƣời địa phƣơng. Qua đó, nhà văn đã
gửi gắm vào những nội dung, tƣ tƣởng và tình cảm của mình.
Ngày nay, các nhà văn sử dụng từ địa phƣơng trong sáng tác rất nhiều.
Việc sử dụng đó góp phần thể hiện dụng ý tu từ rõ rệt, tạo ra sự đối lập tu từ
học giữa từ địa phƣơng và từ toàn dân. Qua từ địa phƣơng, con ngƣời hiện lên
mang đặc trƣng của vùng miền rõ rệt. Đọc văn Nguyễn Ngọc Tƣ, ta thấy cả
một vùng sông nƣớc miền Tây với nét văn hóa miệt vƣờn hiện lên chân thực,
tất cả thiên nhiên, cuộc sống, văn hóa, phong tục đều rõ ràng, sắc nét đƣợc
phô diễn qua các lớp từ địa phƣơng dƣới con mắt tinh tế, bàn tay tài hoa. Họ
đã góp phần làm giàu cho ngôn ngữ Nam Bộ nói riêng và kho tàng ngôn ngữ
dân tộc nói chung.
Trong văn học nghệ thuật, từ địa phƣơng góp phần làm nên phong
cách, cá tính nhà văn. Đọc tác phẩm của các nhà văn nhƣ Nguyễn Thi, Sơn
Ngọc Tƣ trở thành một cây bút, một hiện tƣợng văn học đƣơng đại đƣợc giới
nghiên cứu và dƣ luận quan tâm, tìm hiểu. Đặc biệt khi ba tạp chí đƣợc đăng
20
trên Tạp chí văn nghệ bán đảo Cà Mau, Nguyễn Ngọc Tƣ đã có bƣớc ngoặt
mới trong cuộc đời mình, chị đã đƣợc nhận vào làm văn thƣ và học làm
phóng viên báo tại đây.
Ngoài đời Nguyễn Ngọc Tƣ là một ngƣời phụ nữ chân chất, thông
minh, hồn nhiên và đầy bản lĩnh. Chị lập gia đình với một ngƣời thợ kim hoàn
và sống hạnh phúc bên chồng cùng hai cậu con trai. Hiện nay nhà văn đang
sống ở thành phố Cà Mau và làm việc cho Tạp chí bán đảo Cà Mau.
Về sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Ngọc Tƣ thành công trên nhiều thể loại
nhƣ tạp chí, truyện ngắn…Song tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự thành công và
đƣa tên tuổi của chị chính thức bƣớc vào làng văn đó chính là tạp kí sự Nỗi
niềm sau cơn bão - tác phẩm đã đạt giải ba toàn quốc về báo chí năm 1997.
Cũng từ đó, độc giả bắt đầu chú ý đến tên tuổi của chị. Đến nay chị đã cho ra
đời những đứa con tinh thần rất khỏe mạnh, nhƣng ngƣời đọc biết nhiều về
Nguyễn Ngọc Tƣ qua những tác phẩm đã đƣợc xuất bản tiêu biểu nhƣ:
Ngọn đèn không tắt (Tập truyện, NXB Trẻ 2000)
Ông ngoại (Tập truyện thiếu nhi, NXB Trẻ 2001)
Biển ngƣời mênh mông (Tập truyện, NXB Kim Đồng, 2003)
Giao thừa (Tập truyện, NXB Trẻ 2005)
Nƣớc chảy mây trôi (Tập truyện và kí, NXB Văn nghệ TP.HCM 2004)
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ (Tập truyện, NXB Văn hóa Sài Gòn 2005)
Tạp văn Nguyễn Ngọc Tƣ (NXB Trẻ 2005)
Cánh đồng bất tận (Tập truyện, NXB Trẻ 2005)
Ngày mai của những ngày mai (Tạp văn, NXB Phụ nữ 2005)
Gió lẻ (Tập truyện, NXB Trẻ 2008)
Khói trời lộng lẫy (Tập truyện, NXB Trẻ 2008)
Có thể nói, nếu coi tập kí sự Nỗi niềm sau cơn bão của Nguyễn Ngọc