i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
***
NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN -CHI
NHÁNH BẮC HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
1.2.2 Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 8
1.3. Huy động vốn của ngân hàng thương mại 11
1.3.1. Mục tiêu huy động vốn của ngân hàng thương mại 11
1.3.2. Vai trò của hoạt động huy động vốn 11
1.3.3. Các hình thức huy động vốn 12
1.3.4. Chính sách huy động vốn 17
1.3.5. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động vốn 20
1.3.6. Tổ chức bộ máy thực hiện huy động vốn tại Chi nhánh 23
iii
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM 24
1.4.1. Các nhân tố khách quan 24
1.4.2. Các nhân tố khách quan 26
Chƣơng 2: Phƣơng pháp luận và thiết kế luận văn 28
2.1. Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 28
2.2. Phương pháp thống kê và phân tích số liệu thống kê 29
2.3. Phương pháp so sánh 30
2.4. Mô hình Swot 31
2.5. Phương pháp điều tra chọn mẫu 32
2.6. Phương pháp tham vấn chuyên gia 33
Chƣơng 3: Thực trạng huy động vốn tại Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội
34
3.1. Khái quát về Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội 34
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội
34
3.1.2. Tổ chức bộ máy 35
3.1.3. Tình hình kinh doanh của Chi nhánh 35
3.2. Thực trạng công tác huy động vốn tại Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội 43
3.2.1.Chính sách huy động vốn của Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội 43
4.3.1. Một số kiến nghị đối với Chính phủ 92
4.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 93
4.3.3. Kiến nghị đối với Agribank Việt Nam 95
KẾT LUẬN 97
Tài liệu tham khảo 99
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đất nước ta đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
xây dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội, muốn vậy cần phải đẩy
mạnh công nghệ, phát huy tối đa mọi nguồn lực trong đó quan trọng nhất là vốn.
Các kênh huy động vốn thông qua thị trường ở nước ta trong những năm qua
bao gồm: thông qua hệ thống ngân hàng; thông qua các kênh khác trên thị
trường như: phát hành tín phiếu kho bạc nhà nước qua đấu thầu tại Ngân hàng
nhà nước (NHNN) với sự tham gia của các ngân hàng, tổ chức bảo hiểm, các
quỹ đầu tư; phát hành trái phiếu Chính phủ trong và ngoài nước, phát hành công
trái, vốn thu được từ việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, vốn từ các
quỹ hỗ trợ, vốn vay,….Trong đó vốn của ngân hàng thương mại (NHTM) đóng
vai trò quan trọng trong việc quyết định quy mô hoạt động và cung ứng của nền
kinh tế. Việc tăng cường công tác huy động vốn mang tính cấp thiết cho cả ngân
hàng và cho nền kinh tế, nguồn vốn của ngân hàng là yếu tố “đầu vào”, quyết
định “đầu ra” tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng và phục vụ trực tiếp cho sự phát
triển kinh tế xã hội.
Là một trong những ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam, trong
những năm qua thị phần huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn (Agribank) Việt Nam đã chiếm ưu thế tương đối trong hệ
thống các ngân hàng Việt Nam, đóng góp lớn vào quá trình huy động vốn
- Khách hàng đánh giá công tác huy động vốn của Ngân hàng như thế nào?
- Muốn tăng cường huy động vốn cho Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội thì
cần những giải pháp nào?
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và
hoàn thiện hoạt động huy động vốn tại Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về huy động vốn của ngân hàng
thương mại
3
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn của Agribank chi
nhánh Bắc Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động huy động vốn của
Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội.
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của chuyên đề
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là hoạt đông huy động vốn của
Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: tại Agribank Chi nhánh Bắc Hà Nội
- Về thời gian: từ năm 2012 đến năm 2014.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp để đánh giá thực trạng hoạt
động huy động vốn. Sử dụng mô hình Swot nhận biết điểm mạnh, điểm yếu, cơ
hội và thách thức.
Bên cạnh đó, luận văn này sử dụng phương pháp điều tra khách hàng
(thông qua việc phát hành các phiếu tham khảo ý kiến của khách hàng đã và
đang gửi tại Agribank chi nhánh Bắc Hà Nội) và phương pháp tham vấn chuyên
- Nguyễn Thị Mai, 2009. Giải pháp tăng cường huy động vốn của Ngân
hàng Công thương Ba Đình. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học kinh tế quốc dân.
- Nguyễn Thị Thanh Hương, 2010. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư phát triển chi nhánh Hoàn Kiếm. Luận
văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc gia Hà Nội.
- Nguyễn Hằng Nga ,2011. Tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Tây Hồ. Luận văn thạc sỹ,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
- Đỗ Văn Trường, 2013. Huy động vốn tại Ngân hàng ngoại thương chi
nhánh Thành Công. Luận văn thạc sỹ, Trường Học viện ngân hàng.
- Nguyễn Quỳnh Nga ,2014. Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- Hà Nội, chi nhánh Hoàn Kiếm. Luận văn
thạc sỹ, Trường Đại học Ngoại thương.
5
Giáo trình một số tác giả như:
- Tác giả Võ Thị Thuý Anh và Lê Phương Dung, năm 2009 với giáo trình
Nghiệp vụ tài chính của Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
- Tác giả Phan Thị Cúc, năm 2009 với giáo trình Bài tập – bài giảng
nghiệp vụ ngân hàng thương mại, tín dụng ngân hàng của Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
- Tác giả: Lê Vinh Danh, năm 2009 với giáo trình Tiền và hoạt động
ngân hàng của Nhà xuất bản Giao thông vận tải Hồ Chí Minh.
- Tác giả Nguyễn Đăng Dờn, năm 2009 với giáo trình Lý thuyết tài
chính tiền tệ của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
- Tác giả Phan Thị Thu Hà, năm 2009 với giáo trình Quản trị ngân
hàng thương mại của Nhà xuất bản Giao thông Vận tải thành phố Hồ Chí
Minh.
- Tác giả Lê Thị Mận, năm 2010 với giáo trình Lý thuyết tài chính
tín dụng qua vay từ NHTM và các TCTD khác, vay Ngân hàng nhà nước, nguồn
vốn tài trợ ủy thác. Tác giả Vũ Thị Kim Oanh cũng phân loại NVHĐ theo hình
thức và cho rằng: phát hành giấy tờ có giá về bản chất là đi vay nên NHTM huy
động vốn từ tiền gửi và tiền vay gồm phát hành giấy tờ có giá, vay ngân hàng
trung ương , vay các TCTD khác. Theo tác giả Trần Nhã Trân, Đỗ Minh Huệ thì
NHTM huy động vốn qua vốn chủ sở hữu, vốn nợ bao gồm: vốn huy động từ
tiền gửi, vốn vay trên thị trường liên ngân hàng, vốn vay trên thị trường vốn,
vốn vay NHNN và huy động từ nguồn vốn khác. Tác giả Trương Thị Hải Yến
cho rằng nguồn vốn huy động của NHTM bao gồm nguồn vốn tiền gửi, phát
hành các giấy tờ có giá, nguồn vốn vay, nguồn vốn chủ sở hữu và các nguồn vốn
khác.
Bàn về quan niệm hiệu quả hoạt động huy động vốn, các tác giả: Nguyễn
Thị Mai, Nguyễn Hằng Nga có cùng cách hiểu về hiệu quả huy động vốn của
NHTM là kết quả huy động mà ngân hàng đạt được, phù hợp với nhu cầu sử
dụng vốn, đảm bảo được mục tiêu an toàn và sinh lợi cao cho ngân hàng trong
từng thời kỳ. Tác giả Nguyễn Quỳnh Nga còn cho rằng hoạt động huy động vốn
vốn đạt hiệu quả khi huy động vốn có khả năng tích hợp với dịch vụ mà ngân
7
hàng đưa ra. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương lại đưa ra quan niệm về chất
lượng huy động vốn dựa trên định nghĩa của tổ chức quốc tế về chất lượng trong
tiêu chuẩn hoá ISO “chất lượng là tổng thể các đặc điểm và đặc tính của một sản
phẩm hoặc dịch vụ có khả năng của nó thỏa mãn được nhu cầu được nêu ra” hay
nói ngắn gọn“ chất lượng là phù hợp với mục đích và sự sử dụng”. Theo vậy, tác
giả đưa ra quan niệm như sau: “ chất lượng huy động vốn là sự phù hợp giữa
khả năng huy động vốn và nhu cầu sử dụng vốn”. Tác giả Đỗ Văn Trường thì
cho rằng huy động vốn có hiệu quả là huy động vốn ổn định, vừa đủ, đáp ứng
nhu cầu kinh doanh của ngân hàng.
Bàn về các tiêu chí đánh giá hoạt động huy động vốn, hầu hết các tác giả
vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Bắc Hà
Nội” để làm rõ công tác huy động vốn của Chi nhánh trên mọi mặt đánh giá:
ưu và nhược điểm, những tác động gây ảnh hưởng đến hoạt động huy động
vốn, những giải pháp cần phát triển hơn nữa để hoạt động kinh doanh của
Chi nhánh được tốt hơn. Thông qua các tiêu chí đánh giá hoạt động huy
động vốn như quy mô nguồn vốn tiền gửi, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn tiền
gửi, cơ cấu nguồn vốn tiền gửi, chi phí huy động nguồn vốn tiền gửi qua các
chỉ tiêu: chi phí lãi, chi phí phi lãi, cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn,
chênh lệch lãi suất bình quân giữa huy động vốn và sử dụng vốn, sự đa dạng
của các hình thức huy động vốn như đa dạng của các công cụ huy động vốn,
đa dạng về kỳ hạn và lãi suất, đa dạng về các loại tiền tệ, tính thanh khoản
của NVHĐ để chứng minh cho việc huy động vốn của Chi nhánh vẫn còn
nhiều khuyết điểm để trên cơ sở đó có những giải pháp thích hợp sử dụng
riêng cho chi nhánh trong việc phát triển hoạt động huy động vốn.
1.2 Khái quát nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại
1.2.1 Khái niệm nguồn vốn
Phần lớn nguồn vốn của NHTM có được do thu nhập quốc dân tạm thời
nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân phối tiêu dùng gửi vào ngân
hàng với các mục đích khác nhau. Ngân hàng lại sử dụng số vốn đó để cho vay
các nhà đầu tư có nhu cầu về vốn. Vậy thực chất: “Vốn của ngân hàng thương
mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để đầu
9
tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”. Vốn của NHTM gồm
2 loại cơ bản, nếu phân chia theo hình thức sở hữu là vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
1.2.2 Các nguồn vốn của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Vốn chủ sở hữu
Ngân hàng muốn bắt đầu hoạt động được phải có một lượng vốn nhất
định, lượng vốn này ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, do tính chất thường
thất, quỹ dự phòng rủi ro, nguồn hình thành các quỹ này từ thu nhập của ngân
hàng. Ngân hàng có thể sử dụng các quỹ này vào hoạt động kinh doanh tùy vào
mục đích sử dụng và tình hình kinh doanh của ngân hàng.
1.2.2.2 Vốn nợ
Vốn tiền gửi: Đặc điểm của vốn tiền gửi là ngân hàng phải thanh toán khi
khách hàng yêu cầu ngay cả khi chưa đến hạn. Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt
buộc, do vậy chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi. Tiền gửi đặc biệt
là tiền gửi ngắn hạn thường nhạy cảm với lãi suất, tỷ giá, thu nhập và nhiều yếu tố
khác. Khi lãi suất cao kích thích cá nhân, tổ chức gửi tiền vào ngân hàng và ngược
lại. Khi thu nhập của người dân cao cũng khiến cho lượng tiền gửi tăng về quy mô
và kỳ hạn. Một số các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến vốn tiền gửi: như địa điểm
ngân hàng, các loại hình huy động, tâm lý của người dân…cũng ảnh hưởng đến
quy mô và cấu trúc của nguồn tiền.
Vốn vay: Khi thiếu nguồn vốn, ngân hàng thường phải chủ động tìm kiếm
vốn như vay mượn thêm để hình thành nên vốn vay. Ngân hàng có thể vay các
tổ chức tín dụng khác, vay ngân hàng nhà nước, hoặc giữa các NHTM với nhau,
vay ngân hàng mẹ (điều chuyển vốn). Tỷ trọng nguồn vốn này thường thấp hơn
so nguồn tiền gửi, ngân hàng chỉ phải đi vay lúc cần thiết và hoàn toàn chủ động
trong việc quyết định khối lượng vay hợp với nhu cầu sử dụng.
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Một số ngân hàng coi cổ
phần ưu đãi có thời hạn, các trái phiếu dài hạn cũng thuộc vốn chủ sở hữu dù
chúng mang nhiều tính chất của một khoản nợ. Nguồn này có thể sử dụng lâu
dài, đầu tư vào đất đai nhà cửa, có thể không phải hoàn trả khi đến hạn, tuy
nhiên nó thường bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ.
1.2.2.3 Vốn khác
11
a.Nguồn trong thanh toán: Các hoạt động toán không dùng tiền mặt như
séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C có thể hình thành nguồn
1.3.2 Vai trò của ho¹t ®éng huy ®éng vèn
Một ngân hàng thương mại ban đầu muốn hoạt động được phải có vốn
điều lệ theo quy định. Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định
như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động, chứ chưa đủ để
ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân
hàng khác. Để có đủ vốn ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng, do đó
hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng cũng như
khách hàng.
1.3.2.1 Đối với ngân hàng
Hoạt động huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng,
giúp cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Nếu không có
hoạt động huy động vốn ngân hàng thương mại sẽ không có đủ nguồn vốn để tài
trợ cho hoạt động của mình. Đồng thời, thông qua hoạt động huy động vốn ngân
hàng có thể đo lường được uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng để từ đó ngân
hàng có chính sách, biện pháp huy động vốn tốt hơn để giữ vững và mở rộng
quan hệ với khách hàng. Như vậy, có thể nói hoạt động huy động vốn góp phần
giải quyết “đầu vào” cho ngân hàng giúp ngân hàng tăng lợi nhuận, thị phần trên
thị trường.
1.3.2.2 Đối với khách hàng
Hoạt động huy động vốn không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngân
hàng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với cả khách hàng. Thông qua hoạt động
này của ngân hàng cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm nhằm đầu tư,
sinh lời với khoản tiền nhàn rỗi chưa dùng đến trong tương lai, đồng thời cũng là
nơi an toàn để cất và tích trữ vốn. Ngoài những lợi ích trực tiếp, hoạt động huy
động vốn cũng giúp cho khách hàng tiếp cận được với các sản phẩm dịch vụ mới
của ngân hàng rất tiện ích như dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn, dịch vụ
thanh toán không cần tiền mặt.
1.3.3 Các hình thức huy động vốn
1.3.3.1 Huy động từ tài khoản tiền gửi
cầu của khách hàng chưa định rõ được phương hướng sử dụng đồng tiền trong
14
tương lai, do đó nó là hình thức phổ biến được các doanh nghiệp lựa chọn nhằm
mục đích giao dịch trong kinh doanh. Tuy nhiên, do không được hưởng lãi cao
nên khách hàng thường duy trì số dư trên tài khoản không nhiều, chỉ đáp ứng
được nhu cầu chi trả của họ, mặc dù số dư trên tài khoản của từng khách hàng
không lớn, nhưng do ngân hàng thương mại có số lượng khách hàng rất đông
nên tổng số vốn huy động qua tiền gửi thanh toán của tất cả các khách hàng trở
nên đáng kể. Lượng tiền gửi này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy
động, nhưng do tính chất không ổn định nên ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ
lệ nhất định để thực hiện các hoạt động cho vay.
Đối với nhiều nước phát triển, ngân hàng không phải trả lãi cho khách
hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán vì mục đích của khách hàng khi sử dụng
tài khoản này là để thực hiện thanh toán qua ngân hàng chứ không phải hưởng
lãi. Ở Việt Nam, do khách hàng chưa quen với việc mở và sử dụng tài khoản vào
ngân hàng, nên để thu hút khách hàng ngân hàng vẫn phải trả lãi đối với loại tiền
gửi này.
b) Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội là khoản tiền gửi
của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội tại ngân hàng, họ được hưởng lãi và có thể
rút tiền sau một kỳ hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng với ngân
hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn có tính ổn định cao hơn tiền gửi thanh toán, do có sự
xác định rõ ràng về kỳ hạn nên ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời
hạn tương ứng hoặc chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và
dài hạn. Thông thường, với các khoản tiền có kỳ hạn người gửi không được sử
dụng các hình thức thanh toán đối với tài khoản thanh toán để áp dụng đối với
loại tiền gửi này. Do đó tính tiện lợi tuy không bằng tài khoản thanh toán nhưng
kiệm như: hình thức gửi tiết kiệm đảm bảo bằng vàng hoặc USD, tiết kiệm dự
thưởng,…
d) Tiền gửi của các ngân hàng.
Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác vào ngân hàng nhằm mục đích nhờ
thanh toán hộ và một số mục đích khác, quy mô của nguồn tiền gửi này thường
16
không lớn.
1.3.3.2 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá.
Ngân hàng cũng giống như các doanh nghiệp khác, có thể vay mượn trên
thị trường vốn bằng cách phát hành các giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền trong
đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều
kiện trả lãi và các điều kiện cam kết khác giữa ngân hàng và người mua.
Giấy tờ có giá ngắn hạn: Là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm bao
gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn
hạn khác.
Giấy tờ có giá dài hạn: Là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên
kể từ khi phát hành đến khi hết hạn, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài
hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác.
Phân chia theo hình thức sở hữu thì Giấy tờ có giá được phân chia theo:
Giấy tờ có giá ghi danh: Là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng
chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu.
Giấy tờ có giá vô danh: Là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng
chỉ không ghi tên người sở hữu. Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của
người nắm giữ giấy tờ có giá.
Việc huy động vốn dưới hình thức này, các NHTM thường phải trả lãi
suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động. Do vậy, khi thực hiện huy động
vốn theo hình thức này các ngân hàng phải căn cứ đầu vào, đầu ra để đưa ra
hàng mẹ và hệ thống các ngân hàng trực thuộc. Một phương thức huy động vốn
rất hiệu quả hiện nay là chu chuyển vốn điều hòa. Trong một ngân hàng tổng có
những chi nhánh, khả năng sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động vốn thì
đầu kỳ lập kế hoạch lên ngân hàng mẹ xin nhận một lượng vốn điều hòa cần
thiết cho hoạt động của mình. Có những ngân hàng khả năng huy động vốn vượt
quá khả năng sử dụng vốn, đầu kỳ cũng lập kế hoạch xin điều chuyển một lượng
vốn về ngân hàng mẹ để hưởng lãi suất điều hòa. Ngân hàng mẹ là nơi chịu
trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của các chi nhánh trong
cùng hệ thống.
18
1.3.4 Chính sách huy động vốn
Chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại là một trong những
yếu tố quyết định tới sự thành công của hoạt động huy động vốn. Đối với mỗi
thời kỳ khác nhau, nhu cầu vốn của ngân hàng khác nhau, động cơ, tâm lý của
người gửi tiền cũng khác nhau, đòi hỏi ngân hàng phải có những chính sách huy
động hợp lý để phù hợp.
* Chính sách khách hàng
Chiến lược khách hàng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh
doanh của ngân hàng. Nó tác động lớn đến sự thành công trong công tác huy
động vốn của ngân hàng. Trong công tác khách hàng, ngân hàng thường tìm
hiểu động cơ, thói quen, mong muốn của người gửi tiền, phân loại đối tượng
khách hàng để đưa ra chính sách lãi suất hợp lý, xây dựng chính sách trong cách
phục vụ, giao tiếp tạo sự thoải mái cho khách hàng giao dịch, tạo thuận lợi cho
công tác huy động vốn của ngân hàng.
* Chính sách lãi suất
Việc xây dựng một chính sách lãi suất linh hoạt hợp lý là điều kiện giúp
ngân hàng có được nguồn vốn hợp lý về qui mô và cơ cấu. Trong giai đoạn hiện
nay, các ngân hàng thương mại không chỉ cạnh tranh vốn với nhau, mà còn cạnh
của Agribank).
* Chính sách về mở rộng màng lưới
Ngày nay, tuy các dịch vụ ngân hàng hiện đại, nhưng chính sách về mở
rộng mạng lưới là quan trọng trong công tác huy động vốn. Bởi mở rộng mạng
lưới giúp cho ngân hàng tiếp cận được với nhiều khách hàng hơn, đồng thời tăng
uy tín của ngân hàng trên thị trường, tạo độ tin cậy cho khách hàng.
* Chính sách về sản phẩm mới
Việc đa dạng hóa các sản phẩm huy động vốn của ngân hàng càng đa
dạng, phong phú thì khả năng huy động vốn càng cao. Mức độ đa dạng của các
sản phẩm huy động vốn càng cao, càng đáp ứng một cách tối đa nhất các nhu
cầu của dân cư, khách hàng có thể tìm thấy cho mình một hình thức gửi phù hợp
nhất, an toàn nhất. Đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi: sản phẩm tiền gửi theo
kỳ hạn, sản phẩm tiền gửi theo loại đồng tiền, đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi
20
theo số dư, tiết kiệm theo số dư, theo nhóm khách hàng…Nhiều ngân hàng đã
cho ra đời nhiều sản phẩm vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại
như: tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu…Với sự phong phú về kỳ hạn, mệnh
giá và chủng loại, thu hút được nhiều khách hàng hưởng ứng, thúc dục họ gửi
tiền vào ngân hàng hơn là tìm kiếm các hình thức đầu tư khác. Ở Việt Nam, sự
đa dạng thể hiện qua kỳ hạn chỉ chủ yếu tập trung ở tiền gửi ngắn hạn, còn đối
với trung và dài hạn thì chưa nhiều, các phương thức gửi tiền cũng còn ít.
Những loại tiết kiệm khác như tích lũy theo niên kim chỉ bước đầu phát triển.
* Chính sách về cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại
Ngày nay, với công nghệ ngày càng hiện đại, việc phát triển các dịch vụ
mới tại các ngân hàng ngày càng thu hút khối lượng khách hàng cá nhân đến
giao dịch, mở tài khoản.
Với các dịch vụ ngân hàng tự động qua điện thoại hoặc qua internet khách
hàng có thể kiểm tra số dư trên tài khoản, kiểm tra các giao dịch gần nhất, thông
thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn. Nếu khối lượng vốn huy động
không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn thì ngân hàng sẽ bỏ qua nhiều cơ hội
cho vay, đầu tư và các hoạt động khác, làm giảm uy tín, thị phần của ngân hàng.
Trong từng điều kiện cụ thể, các nguồn của ngân hàng có tốc độ và quy mô thay
đổi khác nhau. Các ngân hàng lớn có quy mô nguồn lớn thì tốc độ tăng trưởng
có thể thấp hơn các ngân hàng nhỏ. Những ngân hàng ở thành thị có thể có cơ
cấu nguồn khác ngân hàng địa phương.
Cơ cấu nguồn vốn huy động: bao gồm cơ cấu theo loại tiền, cơ cấu theo
kỳ hạn, hoặc cơ cấu theo hình thức huy động. Cơ cấu của nguồn vốn quyết định
chi phí huy động của ngân hàng (chi phí đầu vào), từ đó ảnh hưởng đến chi phí
cho vay (chi phí đầu ra) của ngân hàng. Cơ cấu nguồn vốn của mỗi ngân hàng
có thể khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm khách hàng, chiến lược kinh doanh và
hoạt động marketing của ngân hàng. Ngân hàng huy động được nhiều vốn như
vốn không kỳ hạn với chi phí thấp thì chi phí bình quân của ngân hàng sẽ thấp,
tạo ra lợi nhuận lớn cho ngân hàng, tuy nhiên nguồn này lại có tính ổn định thấp.
Ngân hàng mà có số lượng vốn kỳ hạn lớn chứng tỏ độ ổn định về vốn cao. Một
cơ cấu nguồn vốn được coi là hợp lý nếu các thành phần của nó đáp ứng được kế