Tín ngưỡng thờ mẫu ở lễ hội phủ dầy và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người dân huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam Định - Pdf 29

Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HÀ NỘI - 2011
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
2

Lời cảm ơn
Trong suốt thời gian làm khoá luận cũng như học tập tại trường, em đã
nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô trong khoa
Giáo dục chính trị, nhất là các thầy cô trong tổ CNXHKH cùng sự động viên
khích lệ của gia đình, bạn bè. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu
này.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - Thạc sĩ
Hoàng Thanh Sơn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua,
để em có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời
gian và do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không thể tránh khỏi
những thiếu sót khi hoàn thành bài khoá luận, vì vậy em rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và của các bạn để đề tài của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2011.
Sinh viên
Phạm Ngọc Hà


Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
4

Mục lục

Mở đầu
………………

5Nội dung
Chương 1: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam
1.1 Khái lược về ín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam………………….11
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt
Nam…………………………………………………………………19
1.2.1 Quá trình hình thành của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam… 19
1.2.2 Quá trình phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam………20
1.2.3 Các dạng thức thờ Mẫu đang tồn tại ở Việt Nam…………………22
1.3 Nội dung và nghi thức thờ Mẫu………………………………… 23

Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
6

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Phong tục tập quán lễ hội là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn
hoá xã hội nó gắn bó mật thiết, sâu sắc với mọi tầng lớp người trong xã hội.
Nước ta với nền văn minh lúa nước rất đặc trưng thì phong tục, tập quán, tín
ngưỡng đã trở thành một bộ phận trong đời sống tinh thần. Hàng ngàn năm
xưa từ thời nguyên thuỷ đã hình thành nên các phong tục tập quán đó và phát
triển đến tận ngày nay và chúng ta có thể khẳng định rằng không một gia đình

huyện Vụ Bản, tỉnh Nam định. Quần thể Phủ Dầy có khoảng gần hai mươi di
tích lớn nhỏ, tuy nhiên khách thập phương đến với Phủ Dầy chủ yếu là để lễ
Mẫu (Thánh Mẫu Liễu Hạnh), tương truyền đây chính là quê hương Mẫu
Liễu, ở đây có lăng Mẫu và đền, phủ thờ các vị thân sinh ra Mẫu. Ngoài ra,
trong quần thể di tích phủ đầy còn có đền, phủ thờ Mẫu Thoải, Mẫu Địa, Mẫu
Thượng Ngàn, đền Đông Cuông…và hệ thống chùa cổ như chùa Linh Sơn,
chùa Cao…đặc biệt hơn cả là đình thờ ông Khổng (Nguyễn Minh Không -
ông tổ nghề đúc đồng ở nước ta) cũng nằm trong hệ thống di tích Phủ Dầy.
Lễ hội Phủ Dầy diễn ra từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 10 tháng 3
hàng năm, đây thật sự là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng của nhân
dân không chỉ mang tính chất địa phương mà nó đã có tầm ảnh hưởng hết sức
sâu rộng đến phạm vi cả nước. Tìm hiểu về lễ hội Phủ Dầy chính là tìm hiểu
một nét văn hoá truyền thống của con người Việt Nam. Trong giai đoạn hiện
nay việc bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống là vô cùng quan trọng
và cần thiết vì vậy thiết nghĩ Phủ Dầy cần được quan tâm hơn nữa để xứng
đáng là một trong hai kinh đô của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài.
Các công trình nghiên cứu đầu tiên về Nữ thần, Mẫu thần ở Việt Nam
đều là các công trình của các nhà khoa học người Pháp như Parmenties,
Maspero, Durand, Simond và kế tiếp là các nhà khoa học người Việt như
Nguyễn Văn Huyên, Đào Thái Bình…
Từ thập niên 1990, nhất là sau hội thảo quốc gia về Thánh Mẫu Liễu
Hạnh do Viện nghiên cứu văn hoá Việt Nam tổ chức tại Văn Miếu (Hà Nội),
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
8
không khí học thuật liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và tín ngưỡng
dân gian nói chung diễn ra sôi động, hàng loạt tác phẩm, công trình nghiên
cứu đã được công bố.
Từ các nghiên cứu tổng hợp, các nhà nghiên cứu đã hệ thống hoá được

nữ truyện", tác giả không cho biết căn cứ vào những tài liệu nào. Đầu thế kỷ
XX, trong "Nam Hải Dị nhân" Phan Kế Bính cũng có viết về nữ thần Liễu
Hạnh.
Gần đây trong khi khảo cứu về Mẫu Liễu Hạnh, tôi đã tìm hiểu được
nhiều bản thần tích của Mẫu. Khi nghiên cứu "Các tiên tam thế thực lục" của
Phủ Nấp (Quảng Nạp, Yên Đồng, Ý Yên), viết và in bản khắc đời Duy Tân
đầu thế kỷ XX, được lưu giữ tại phủ Tiên Hương và phủ Vân Cát, tôi thấy có
chép "Tiên Từ phả ký" trong đó, giống như bản chép tay mà bác sĩ Trần Lê
Văn công bố năm 1992 và cũng y hệt cuốn "Tiên Từ phả ký" chép tay do cụ
Trần Lê Hiệu, Trần Đình Tùng cung cấp. Năm 1997, trong thư viện Hán nôm
Việt Nam tập "Thần tích làng Vân Cát", tổng Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh
Nam Định, kí hiệu AEa 15/18 có dấu của Viễn Đông Bác Cổ. Cuốn này có
hai tập. Tập đầu là cuốn "Tiên Từ phả kí" giống như các tư liệu tìm thấy ở
trên. Tập thứ hai là "Vân Cát thần nữ lục" chia làm ba phần:
Phần đầu (tiền lược): Tóm lược nội dung như "Tiên Từ phả kí", nhưng
lại thêm là Tiên Chúa Liễu Hạnh đã sinh với Đào Lang một con gái.
Phần giữa (trung lược): Chúa về trời, được phong là Liễu Hạnh công
chúa, lại được trở về trần thế tiêu dao, lấy một chàng trai làng Sóc là Mai Sinh
chính là hậu thân của chồng cũ.
Phần cuối (hậu lược): Nói về "Sòng Sơn đại chiến" Tiên Chúa ở Phố
Cát, Sòng Sơn đánh nhau với Tiền quan thánh của Nội đạo tràng bị thua, được
Phật Thế Tông cứu giải, theo Phật tu hành, sau lại học đạo ở Nội đạo tràng,
được phong là Đại thừa.
Năm 1944, giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên viết cuốn "Sự phụng thờ
các vị thánh bất tử ở Việt Nam", trong đó nữ thần Liễu Hạnh được ông đặc
biệt trân trọng. Ông đã viết lịch sử nữ thần giống như "Vân Cát thần nữ
truyện" của Đoàn Thị Điểm, lại bổ sung thêm phần "Sòng Sơn đại chiến".
Giáo sư còn nhấn mạnh :"Nghiên cứu việc thờ phụng các vị bất tử, một ngày
kia người ta có thể lấy vai trò lịch sử của dân tộc Việt Nam ở Đông Nam Ả
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn

7. Bố cục của khoá luận.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
11
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của
khoá luận gồm ba chương.
Chương 1: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam.
Chương 2: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy.
Chương 3: Những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy
đối với đời sống người dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Việc thờ Thánh Mẫu cùng với sự thăng hoa của Mẫu Liễu Hạnh đã trở
thành tín ngưỡng thờ Mẫu, đó là niềm tin, sự ngưỡng mộ chân thành vào sự
tồn tại và khả năng cứu giúp của Mẫu đối với con người.
* Cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu
Mẫu gọi theo tiếng Hán, tiếng Việt Nam là Mạ, Mệ, Mẹ, tại sao lại có
tín ngưỡng thờ Mẹ. Đó là từ thời nguyên thuỷ, con người đã có ý thức sâu sắc
về sự sinh sản, sự sinh sôi nảy nở, ý thức ấy thường biện lí từ cái cụ thể. Mà
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
13
cái cụ thể về cái sự sinh sôi nảy nở không gì khác ngoài người mẹ mang nặng
đẻ đau, sinh ra nuôi dưỡng che chở bảo vệ cho con người, chiến thắng thiên
tai và thú dữ ấy đều được gọi là mẹ.
Theo ý nghĩa trên, người mẹ biểu tượng đầu tiên nuôi sống che chở cho
con người ấy là mẹ cây. Cây cho mầm, cho rễ, cho quả để con người ăn sinh
sống ban đầu, cây cho vỏ để người mặc, cây cho cành, cho những rễ phụ để
cho con người kết lại thành võng treo mình trên võng qua đêm và tránh thú dữ
sát hại. F.Engels trong sách "Nguồn gốc gia đình chế độ tư hữu và nhà nước"
đã viết ý là: ít nhất con người còn sống ở trên cây một phần, thì mới có thể
giải thích được rằng họ có thể sinh tồn cùng với thú dữ.
Ở nước ta, cây cho rễ phụ nhiều nhất là cây đa, cây si. Hiện nay ở xã
Tiên Nông (Khởi thuỷ nghề nông), bên bờ sông Lô, thị xã Tuyên Quang có
đền thờ Mẫu Ỷ La. Nay đền đã quang đãng, nhưng trước đây không lâu bao
quanh đền là cả một rừng cây đa cổ thụ, rễ phụ đan nhau chằng chịt. Cũng ở
Thị xã Tuyên Quang, có một đền thờ Ỷ Lan khác trên núi La thờ bà Chúa
thượng ngàn, cũng trồng rất nhiều cây si và cây đa cổ thụ được gọi là cây
thiêng, cây bất tử toả bóng mát cho khách hành hương. Ỷ là dựa, La là lưới,
võng. Lưới của những cây đa, cây si được tết thành lưới, thành võng như
những cái nôi đưa con người nguyên thuỷ chìm vào trong những giấc ngủ qua
đêm tránh thú dữ. Bởi thế, Ỷ La trở thành biểu tượng đầu tiên về Mẹ thiêng

được tiên ông hiện xuống cho sách quý có phép màu, làm núi sông thông
thương trở lại, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, cuộc sống dân lành ấm no,
yên vui trở lại… Đám mây ngũ sắc hạ xuống đón bà và 12 thị nữ về trời…
Nhân dân thương nhớ tôn nàng là Thượng Ngàn Thánh Mẫu, lập đền thờ nay
là đền Suối Mơ ở Hữu Lũng, Lạng Sơn.
Câu chuyện trên đây tất hình thành nên sau này như câu chuyện Tấm
Cám có ông tiên có phép lạ, nhưng cốt lõi ở đây là bà mẹ rừng xanh và Thánh
Mẫu Thượng Ngàn.
Thánh Tản Viên sau khi thắng Thuỷ Tinh, được Vua Hùng gả con gái
cho là Ngọc Hoa. Và Ngọc Hoa sinh được người con gái hiền thục tên là La
Bình (ở đây ta lại gặp chữ La có nghĩa là lưới, võng). La Bình luôn đi theo
cha khắp núi rừng săn bắn. Đi đến đâu La Bình cũng gắn bó với núi rừng, cây
cỏ, muông thú. Thấyvậy, thượng đế ban cho nàng là Nữ chúa rừng xanh, từ
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
15
đó nàng càng gắn bó với núi rừng, dạy bảo muôn loài cầm thú, không gây
điều ác. Do công lao ấy, Thượng đế giao cho nàng cai quản 81 cửa rừng xanh
ở chốn Nam Giao. Nàng còn có công giúp triều Lí thắng Tống, Trần thắng
Nguyên, nhất là giúp quân ông Lê Lợi thắng giặc Liêu Thăng ở Lạng Sơn. Vì
vậy, nàng được tôn là Chúa thượng ngàn, nhân dân lập đền thờ, nay là đền
Bắc Lệ ở Hữu Lũng, Lạng Sơn, cách đền Suối Mơ không xa.
Ở đây câu chuyện có hai ý, một người con người còn sống chung với
muông thú trong rừng sâu, và con người đã chiến thắng được thú dữ. Hai là
câu chuyện được kéo về Chúa thượng ngàn giúp nhân dân ta chống giặc Bắc,
mà Lạng Sơn là địa đầu trong các cuộc kháng chiến ấy, nên bà lại được quy
về thờ ở Bắc Lệ.
Câu chuyện về Mẫu thượng ngàn hay Mẫu đệ nhất, là một cô gái người
Dao ở Động Cuông, Yên Bái. Khi cô sinh ra, bố mẹ đã già yếu, từ nhỏ đến
lớn cô chỉ làm việc thiện, không lấy chồng, khi chết bà hiển linh giúp đỡ dân

cho đó là trời quyết định, mẹ trời được tôn vinh, Mẫu Thiên ra nhập hàng ngũ
Mẫu. Tín ngưỡng là từ thực tế cuộc sống, con người đặt ra những lực lượng
để tôn vinh, tôn trọng phù hợp với cuộc sống của con người là thế. Mẹ cây,
mẹ rừng (sau này gọi là Mẫu Thượng Ngàn hay Mẫu Sơn Lâm). Mẹ đất, mẹ
nước, mẹ trời (thời tiết, khí hậu), hay gọi theo tiếng Hán là Mẫu Thượng
Ngàn, Mẫu Địa, Mẫu Thoải (Thuỷ), Mẫu Thiên là hệ thống Mẫu cơ bản ban
đầu của tín ngưỡng thờ Mẫu.
Trong bốn Mẫu trên đây, Mẫu Sơn Lâm (Mẫu Thượng Ngàn) đã được
nhân cách hoá như trên, còn Mẫu Thuỷ (Thoải) được nhân cách hoá như sau:
Dị bản từ làng A Lữ kể rằng, thuở trời đất mới mở mang, rừng núi sông
hồ hoang vu, Kinh Dương Vương thường đi chu du khắp nơi, một hôm đến hồ
Động Đình gặp người con gái sắc đẹp tuyệt trần, con Vua Long Vương hồ
Động Đình. Kinh Dương Vương lấy về làm vợ, sinh ra Sùng Sản, chính là
Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở trăm
con, tổ tiên Lạc Việt, từ Rồng, từ Nước.
Có truyền thuyết lại cho rằng Mẫu Thoải không phải là một bà mà là
nhiều bà. Các bà đều là con của Lạc Long Quân, trong đó chọn được ba
người, giao cho quản lĩnh sông biển nước Nam đóng dinh ở sông Nguyệt
Đức. Một bà có có hiệu là Thuỷ Trinh Động Đình Ngọc Nữ công chúa. Bà
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
17
thứ hai có hiệu là Hoàng Hà Đan Khiết phu nhân. Bà thứ ba là Tam Giang
công chúa. Tam giang nay là ngã ba Sà Yên Phong, Bắc Ninh.
Một truyền thuyết khác, do người Pháp là Durant sưu tầm, kể rằng ở
vùng Tuyên Quang có một hoàng tử con vua Đất là Kinh Xuyên, lấy vợ là con
gái con gái Long Vương ở hồ Động Đình, bà rất yêu chồng. Nhưng Kinh
Xuyên lại lấy vợ hai tên là Thảo Mai. Thảo Mai ghen ghét với vợ cả, vu cáo
vợ cả không chung thuỷ với chồng. Bực tức, Kinh Xuyên nhốt vợ vào cũi,
đem bỏ vào rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở trong rừng, bà vợ cả không những

và nước (cây dung thụ theo dòng nước chảy về bến sông Dâu).
Việc thờ mẹ Cây, mẹ Đất, mẹ Nước xưa kia phổ biến ở các làng quê
trung du đồng bằng Bắc Bộ. Với bộ ba luôn đi liền với nhau và giếng làng
(nước), cây đa, cây si hoặc cây đại (cây) với bệ bên gốc đa, đặt các bình vôi
đã nứt vỡ, từ trong các gia đình đưa ra (vôi, đá, đất cứng). Đến đây, một vấn
đề đặt ra là tại sao người Việt (Kinh) lại sâu sắc tôn thờ những đối tượng Cây,
Đất, Nước và Trời (thời tiết, khí hậu) thành các Mẹ, đó là do nằm trong bản
chất văn hoá Việt Nam, mang tính triết học biểu hiện ra như sau:
Một là - Sâu nặng ý thức nhớ về cội nguồn. Qua tín ngưỡng thờ cúng
Tổ tiên tín ngưỡng thờ thần là những vị có công dựng làng, giữ nước, thể hiện
rất rõ điều đó. Còn đối với người Mẹ (người) mang nặng đẻ đau nuôi dưỡng
nên những đứa con, thì nghĩa Mẹ thật là sâu nặng khôn cùng. "Nghĩa mẹ như
nước trong nguồn chảy ra", nước trong nguồn chảy ra không bao giờ hết,
không bao giờ cạn, thì nghĩa cả ơn Mẹ chẳng bao giờ nguôi. Từ ý thức ấy, mở
rộng ra tầm nhìn văn hoá, thì những cái gì là yếu tố mang ý nghĩa quyết định
sinh sôi ra của cải hạt gạo bát cơm, tố chất cơ bản bao đời nuôi sống con
người cư dân nông nghiệp lúa nước, thì cũng có thể ví như công ơn nghĩa Mẹ.
Vì thế Cây, Đất, Nước (thời tiết khí hậu) được tôn vinh như những bà Mẹ văn
hoá.
Hai là - Văn hoá Việt Nam mang nặng triết lí âm sinh dương thành
(chứ không phải triết lí âm thịnh dương suy). Biểu hiện ở văn hoá nông
nghiệp lúa nước, nên rất đề cao yếu tố yên tĩnh hoà bình (âm) rất coi trọng
tình nghĩa (âm) xóm làng, để đoàn kết, tạo sức mạnh chống thiên tai địch hoạ,
làm thuỷ lợi. Và trong ứng xử bang giao thì hiếu hoà (âm) hơn hiếu thắng
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
19
(dương) và biết "cúi đầu để giữ nước" cũng là âm tính. Nhưng âm phải vận
hành trong sinh sôi phát triển, vì thế "dĩ bất biến (âm) ứng vạn biến (dương)",
"giặc đến nhà đàn bà (âm) cũng đánh (dương)". Bởi thế văn hoá Việt Nam,

ở Việt Nam
.
1.2.1. Quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam.
Cũng như các loại hình tín ngưỡng khác, tín ngưỡng thờ Mẫu là sự
phản ánh đời sống xã hội của con người. Đời sống xã hội là yếu tố mang tính
khách quan, có vai trò quyết định ảnh hưởng tới quá trình hình thành và tồn
tại của tín ngưỡng thờ Mẫu.
* Điều kiện địa lí tự nhiên ảnh hưởng tới quá tình hình thành tín
ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam:
Điều kiện tự nhiên chính là môi trường sinh thái trong đó con người
sống và tồn tại. Môi trường sinh thái là nơi cung cấp tư liệu lao động cần thiết
cho con người. Con người tồn tại trong môi trường sinh thái, do đó quan hệ
giữa con người và tự nhiên cũng là một mặt của đời sống xã hội, là yếu tố
quan trọng của tồn tại xã hội. Môi trường tự nhiên khó khăn hay thuận lợi có
ảnh hưởng to lớn tới cách thức sản xuất và do đó ảnh hưởng tới đời sống,
cách ứng xử, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo.
Việt Nam là một quốc gia ở vùng Đông Nam Á, có địa hình đồng bằng,
rừng núi, ven biển và hải đảo. Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, lắm nắng
nhiều mưa với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông trong đó có hai mùa rõ rệt là mùa
khô và mùa mưa. Điều đó góp phần tạo nên sắc thái riêng biệt của nơi cư trú,
các thiết chế xã hội, thói quen, tâm lí và các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo.
* Điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng tới sự hình thành tín ngưỡng thờ
Mẫu ở Việt Nam:
Cơ sở kinh tế xã hội của xã hội Việt Nam trước đây đựa trên nền sản
xuất nông nghiệp là chính. Trong sản xuất nông nghiệp con người bị lệ thuộc
khá nhiều vào thiên nhiên. Để sản xuất nông nghiệp con người phải:
"Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mây, trông nắng, trông ngày, trông đêm"
Nhiều khi không hiểu được những thuận lợi và khó khăn do tự nhiên
mang lại, con người thường thần thánh hoá các hiện tượng tự nhiên và gắn

tố của Đạo giáo, con người có xu hướng vô vi hoà đồng với tự nhiên, các vị
thần của Đạo giáo được thờ cúng trong phủ như: Ngọc Hoàng, Thái thượng
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
22
lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu, cùng với vô số những câu chuyện thần tiên
huyền ảo, các pháp thuật phù thuỷ, lên đồng.
Tín ngưỡng thờ Mẫu được hoàn thiện dưới ảnh hưởng trực tiếp của
hoàn cảnh kinh tế xã hội và văn hoá Việt Nam thế kỉ XVI- XVII. Vào thời kì
này, xã hội phong kiến Việt Nam lâm vào khủng hoảng sâu sắc về mọi mặt.
Các cuộc chiến tranh xung đột tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong
kiến Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn và thiên tai mất mùa liên tiếp xảy ra đã làm
cho nền kinh tế suy thoái, đời sống các tầng lớp nhân dân vô cùng cơ cực.
Đạo đức phong kiến không còn được như trước. Nhân nghĩa của Nho giáo bị
coi thường. Ý thức hệ Nho giáo tỏ ra bất lực trước thời cuộc. Các nhà Nho có
tâm, có tài như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hằng cũng tỏ ra
mệt mỏi, buông xuôi, chủ trương xa lánh thời cuộc. Nhân dân lao động có xu
hướng tìm hướng giải thoát trong tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo. Song
Phật cũng không thể giúp được họ lên cõi niết bàn, thần tiên không thể giúp
họ thoát khỏi nỗi khổ trần gian. Trong số các tầng lớp người trong xã hội
phong kiến thời kì này thì người phụ nữ bị chà đạp, vùi dập nhiều nhất. Tâm
lí chán chường bi quan và bế tắc của họ được phản ánh qua các nhân vật trong
văn học như Xuý Vân, Thuý Kiều, Thị Kính, Cúc Hoa, Ngọc Hoa…
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ ra đời, một mặt là biểu hiện sự phản
kháng của các tầng lớp nhân dân nói chung và người phụ nữ nói riêng đối với
chế độ phong kiến thối nát, bất công, mặt khác cũng là sự phát triển kế thừa
truyền thống trọng nữ của người Việt Nam. Sự ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu
là tấm gương phản chiếu sự suy tàn của chế độ phong kiến và ý thức hệ tư
tưởng phong kiến. Nó nói lên ý thức đấu tranh chống lại trật tự phong kiến -
nguyên nhân làm cho con người nói chung và phụ nữ nói riêng phải sống

* Thờ Mẫu ở Nam bộ:
So với Bắc bộ, tục thờ nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định
với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở
Nam bộ sự phân biệt giữa các hình thức thờ nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn,
hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam bộ là vùng đất mới của
người Việt, khi di cư vào đây, họ vừa mang những các truyền thống tín
ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của những cư dân sinh
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hoàng Thanh Sơn
SVTH: Phạm Ngọc Hà Lớp K33A - GDCD
24
sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà cả trong
tín ngưỡng.
Những nữ thần được thờ phụng ở Nam bộ như: Bà Ngũ Hành, Bà Thuỷ
Long, Bà chúa Động, Bà Tổ Cô, Tứ vị Thánh Nương… và những Mẫu thần
như Bà chúa Xứ, bà Đen, bà chúa Ngọc, bà Thiên Hậu…
1.3. Nội dung và nghi thức thờ Mẫu:
Trong điện thần thờ Mẫu, ngoài Thánh Mẫu Liễu Hạnh, còn có các
Mẫu khác như: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Địa, Mẫu
Thoải.
Ngoài ra trong điện thờ Mẫu còn thờ Ngọc Hoàng, Ngũ vị vương quan
(từ đệ nhất đến đệ ngũ), Tứ vị chầu bà, Ngũ vị hoàng tử, Thập nhị Vương cô,
Thập nhị Vương cậu, Quan Ngũ Hổ, Ông Lốt (rắn).
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu thì tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ là phổ biến
nhất. Có lẽ quan niệm về Tam phủ, Tứ phủ được bắt nguồn từ các vùng không
gian. Tam phủ là vùng trời, vùng đất, vùng nước (thiên - địa - thoải); Tứ phủ
là vùng trời, vùng đất, vùng núi, nước (thiên - địa - nhạc - thoải). Tứ phủ cũng
là bốn phương, bốn miền vũ trụ. Trong điện thờ Mẫu, Mẫu Liễu Hạnh được
hoá thân vào Mẫu Thượng Thiên ngồi chính giữa, tầng cao nhất với trang
phục màu đỏ. Mẫu Thoải có trang phục màu trắng, Mẫu Địa màu vàng, Mẫu
Nhạc màu xanh.

Điện, đó là bốn vị nữ thần tạo ra mây, mua, sấm, chớp, liên quan đến văn hoá
nông nghiệp lúa nước.
Những huyền tích và huyền thoại của Mẫu Thượng Thiên đều có liên
quan đến Mẫu Liễu Hạnh. Mẫu Liễu Hạnh là vị thánh xuất hiện muộn, theo
các nhà nghiên cứu về văn hoá dân gian Việt Nam, Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện
sớm nhất cũng chỉ vào khoảng thế kỉ XVI, thời Hậu Lê.
Cũng theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu Hạnh còn có thể hoá thân vào
Mẫu Thượng Ngàn trông coi miền rừng núi hay thành Địa Tiên Thánh Mẫu -
Mẹ Đất cai quản mọi đất đai và đời sống sinh vật. Bà trở thành vị thần chủ
của đạo Mẫu được thờ cúng nhiều nhất trong đạo Mẫu Việt Nam. Đền thờ bà
có ở nhiều nơi, nổi tiếng nhất có đền Sòng (Thanh Hoá) và Phủ Dầy (Nam
Định).

Trích đoạn Hệ thống lớp lang trong phủ, điện thờ Mẫu Nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status