Lời mở đầu
Các quốc gia ngày nay đang phát triển trong một thế giới có sự phụ thuộc
lẫn nhau một cách rất chặt chẽ .Xu hớng chung của thế giới ngày nay là tiến tới
một " ngôi nhà chung " sẽ đợc thiết lập cho nền kinh tế thế giới mà mỗi quốc gia
thành viên trong đó dù mạnh hay yếu đều đóng một vai trò nhất định vào sự phát
triển của ngôi nhà chung đó .Điều này sẽ đem lại lợi ích to lớn cho từng quốc gia
nhng đồng thời nó cũng đặt mỗi quốc gia trớc những thách thức to lớn cần phải đ-
ơng đầu . Mỗi sự thay đổi trong nền kinh tế quốc gia sẽ không chỉ còn là vấn đề
riêng của quốc gia đó nữa mà nó còn có những ảnh hởng nhất định đến các quốc
gia khác . Vì thế ,nếu không có những sách lợc phù hợp và không thận trọng
trong những bớc đi trong việc phát triển kinh tế thì cái giá phải trả cho sự bất cẩn
đó sẽ vô cùng lớn .Cuộc khủng hoảng tài chính -tiền tệ châu á năm 1997 vừa qua
là bài học vô cùng đắt giá cho những quốc gia không có sự cân nhắc rõ ràng
trong các bớc đi của quá trình hội nhập
Chính vì vậy việc tìm hiểu nghiên cứu về cuộc khủng hoảng này là vô cùng cần
thiết nhất là trong điều kiện nớc ta cũng đang trong tiến trình hội nhập với nền
kinh tế thế giới . Nghiên cứu về nguyên nhân ,diễn biến cũng nh những hậu quả
mà cuộc khủng hoảng gây ra cho nền kinh tế các nớc châu á cũng nh các nớc
khác trên thế giới sẽ cho chúng ta cái nhìn đúng đắn hơn về " mặt trái " xu hớng
toàn cầu hoá đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm cho nớc ta .Và cũng qua
đó khẳng định một tất yếu khách quan cho nền kinh tế Việt Nam : đó là đẩy
nhanh tiến trình hội nhập với thế giới bên ngoài với những bớc đi vững chắc ,chủ
động đối phó với những thách thức những trở ngại luôn đi kèm với một nền kinh
tế mở.
Đây là một vấn đề tuy đã qua khá lâu nhng những bài học nó đem lại thì vô
cùng quý giá và rất cần thiết đối với sự phát triển vững mạnh của mỗi quốc gia
.Do vậy em đã chọn đề tài "Khủng hoảng tài chính châu á và những ảnh hởng
của nó tới nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng"cho đề án
môn học của mình .
1
Ch ơng 1 Những nét chính về cuộc khủng hoảng tài chính
Rupi/USD xuống 2750 Rupi /USD ( giảm giá khoảng 5% ) .Đến ngày 18/8 là
2900-2960 Rupi/USD mất giá khoảng 19% so với năm 97.Cùng lúc đồng Ringit
của Malaixia xuống mức 2,825 Ringit/USD là mức giá thấp nhất trong vòng 24
năm qua .Đôla Singapore ,một đồng tiền mạnh của Châu á cũng bị ảnh hởng
giảm xuống mức 1,524SD ăn 1 USD ( giảm 1,5 %).
Những cố gắng của chính phủ Thái Lan chi hàng tỷ USD trớc đó để cứu đồng
Bath đã không thành .Malayxia cũng đã chi 12 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền nớc
mình sau khi Indonexia phá giá đồng Rupi.
Có thể nói cuộc tấn công vào các đồng tiền trên đã buộc các nớc Đông Nam á
thả nổi đồng tiền của mình và lâm vào tình thế rất khó khăn trong việc ổn định
tiền tệ .Và điều đáng nói là cuộc khủng hoảng này đã không chỉ dừng lại ở đây
mà nó còn kéo dài ,lây lan sang nhiều nớc khác trong khu vực và trên toàn thế
giới .
Trên đây là một số diễn biến chính của "cơn bão tiền tệ " đổ bộ vào khu vực
Đông Nam á .Vậy phải chăng chính xu hớng toàn cầu hoá là nguyên nhân sâu xa
gây nên sự sụp đổ toàn diện đồng tiền của các nớc và theo đó gây ra những ảnh
hởng to lớn đến nền kinh tế thế giới .
Trớc hết chúng ta đã thấy đợc rằng những diễn biến của cuộc khủng hoảng
diễn ra chủ yếu ở các nớc Đông Nam á nhng ảnh hởng của nó thì lan rộng ra
toàn thế giới .Hiệu ứng liên hoàn này thể hiện rõ nhất trên thị trờng chứng khoán
của các nớc trên thế giới với một sự chao đảo khủng khiếp của các trung tâm giao
dịch .Sự chao đảo này làm ta nhớ đến "Ngày thứ hai đen tối " 19 / 10 / 87 .Vào
hôm đó ,tất cả các sở giao dịch chứng khoán từ Mỹ sang châu Âu ,Châu á đều
sụp đổ ,kéo theo một sự sụp đổ trên thị trờng chứng khoán thế giới .Đúng 10 năm
sau ,lịch sử lặp lại .Đó là ngày 27 / 10 /97 ,thị trờng chứng khoán Wall Street
,chiếc phong vũ biểu của nền kinh tế Mỹ suy giảm một mức cha từng có kể từ
"Ngày thứ hai đen tối " đó .Chỉ số Down Jones tại thời điểm đóng cửa là 7176
giảm 554,26 điểm tức là 7,2% .Sự sụt giảm mạnh đến mức giao dịch của toàn bộ
3
Sở giao dịch đã bị ngừng trệ hai lần ,mỗi lần 30 phút .Nhiều công ty Mỹ trong
ởng chung của thế giới năm 1998 .Còn theo dự báo của cố vấn kinh tế của ngân
hàng thế giới WB thì mức tăng trởng toàn cầu sẽ giảm từ 2,1% đến 3% .Điều này
chứng tỏ ngay khi cuộc khủng hoảng mới bắt đầu các nhà kinh tế đã thấy đợc
những hậu quả nặng nề mà nó gây ra cho nền kinh tế thế giới .Đến đây em xin đ-
ợc tiếp tục đề cập đến những ảnh hởng sâu rộng của cuộc khủng hoảng tới nền
kinh tế thế giới trong phần tiếp theo của đề án .
1.2.Những ảnh hởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính châu á tới nền
kinh tế thế giới
Có thể nói rằng đã một thời gian dài thế giới không phải chứng kiến một cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ nặng nề đến vậy .Để thấy đợc những sự ảnh hởng
sâu rộng của cuộc khủng hoảng này em xin điểm qua sự ảnh hởng của nó đến
từng khu vực kinh tế trên thế giới .
1.2.1.Đối với các nớc châu á
Chúng ta đều biết rằng nơi khởi nguồn của cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ này là châu á ,vì vậy châu á cũng là nơi phải hứng chịu những hậu quả nặng nề
nhất .
Trớc hết ta phải kể đến Thái Lan ,một nền kinh tế từng có thời kì phát triển
nhanh nhất Châu á nay đã trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng tài chính do
đồng tiền bị mất giá mạnh ,thị trờng chứng khoán giảm sút ,các vụ phá sản ngày
càng lan nhanh đặc biệt là phá sản của các ngân hàng .Hầu nh tất cả các ngân
hàng và công ty tài chính Thái Lan đều bị tổn thơng .Những khoản tiền cho vay
khó đòi lên đến 12,5% tổng số tiền cho vay năm ngoái và sẽ còn tiếp tục tăng lên
đến 25% ,những vụ phá sản kinh doanh bất động sản rồi sự sụt giảm trên thị tr-
ờng chứng khoán đã kéo 56 trên tổng số 58 ngân hàng và công ty tài chính phải
đóng cửa .Những ngân hàng sống sót thì phải đơng đầu với một tơng lai cực kỳ
không sáng sủa .
5
Tiếp theo ,ngay sau khi đồng Rupi phá giá ,phần lớn trong tổng số 239 ngân
hàng và công ty tài chính của Indonexia đứng trên bờ vực của sự phá sản .ở
Malaixia thủ tớng M.Mohamet cay đắng thú nhận rằng chỉ sau một đêm
càng trợt dốc trong vòng xoáy .Ngân hàng thế giới ( WB ) đã thông báo dự đoán
về mức tăng trởng của Nhật Bản sẽ giảm từ 3% xuống còn 1% và năm 1998 sẽ
không tốt lành đối với nền kinh tế Nhật Bản.
1.2.2.Đối với các nớc châu Mỹ
Đối với khu vực này có lẽ đầu tiên ta phải xét đến nớc Mỹ , một cờng quốc kinh
tế hàng đầu thế giới và có những lợi ích chiến lợc gắn bó chặt chẽ với khu vực
Đông Nam á và Đông á . Trong hơn hai thập kỷ qua ,các nớc ở Đông Nam á và
Đông á đã đạt đợc mức tăng trởng kinh tế cao ,trở thành một khu vực phát triển
năng động nhất thế giới ,hấp dẫn giới đầu t nớc ngoài trong đó Mỹ luôn ở vị trí
hàng đầu .Do vậy cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ trầm trọng diễn ra ở Đông
Nam á đã có những ảnh hởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Mỹ .Tác động đầu
tiên đối với nớc Mỹ chính là sự sụt giảm nặng nề đến thị trờng chứng khoán New
York đã trình bày ở phần trên .Mặt khác , việc mất giá tiền tệ ở Châu á so với đô
la Mỹ có nghĩa là xuất khẩu của Mỹ giảm và lợi nhuận của công ty Mỹ thêm sức
ép . Đồng USD lên giá làm cho hàng hoá của Mỹ ở nớc ngoài trở nên đắt đỏ
hơn .Nhập khẩu từ châu á vào Mỹ sẽ tăng mạnh .Các công ty Mỹ phải cạnh tranh
khốc liệt hơn với nớc ngoài ,nhập siêu của Mỹ tăng ,năm 1998 cao hơn năm 1997
tới 50% ,có thể lên tới 300 tỷ USD .Theo đánh giá của Viện kinh tế thế giới ( ở
Washington ) ớc tính Mỹ sẽ mất từ
75 - 100 tỷ USD trong năm 1998 vì sụt giảm đáng kể kim ngạch xuất khẩu
của Mỹ sang Châu á .Các nhà máy của Mỹ nhiều khi không bán đợc hoặc phải
giảm giá một số mặt hàng .Do vậy khó mà tiếp tục đầu t để nâng cao sản lợng
thêm nữa .Và nếu cả đầu t ( chiếm 10% GDP ) lẫn xuất khẩu đều giảm ,Mỹ sẽ
phải chịu một ảnh hởng kép về suy giảm .Ngay từ giữa tháng 6 / 1998 ,cổ phiếu
bán ra đã giảm hơn 100 điểm theo chỉ số DowJones Industrial .Và khi giảm 2
%thì dự tính đã có 60 triệu cổ đông ở Mỹ bị thiệt hại . Cũng vào thời điểm này
các ngành xuất khẩu tạo việc làm cho 11 triệu ngời Mỹ và các công ty Mỹ cũng
đã bắt đầu thấy có ít lợi nhuận hơn .Sự chậm trễ các đơn đặt hàng từ châu á đã
góp phần làm giãn thợ ồ ạt và tăng nhanh khoảng cách thơng mại .Thâm hụt th-
7
thành công hay thất bại của khu vực công nghiệp nớc này trong năm 98 sẽ phụ
8
thuộc vào chơng trình cải cách về cơ cấu của Brazil .Tại Achentina ,cuộc khủng
hoảng ĐNA đang gây ra những mối lo ngại rằng xuất khẩu nớc này sẽ mất khả
năng cạnh tranh trong khu vực và đặc biệt là Brazil sẽ giảm bớt việc mua bán các
sản phẩm của Achentina .Tại Mêhi co ,thống đốc ngân hàng trung ơng Guillermo
ortiz cho biết ,tốc độ tăng trởng kinh tế dự tính sẽ giảm xuống trong năm do
những sức ép giảm phát và lãi suất tăng . Tại Peru ,nhìn chung các quan chức ở
đây không lo ngại lắm về cuộc khủng hoảng do sức mạnh của nền kinh tế Pêru
,tuy nhiên ảnh hởng cũng sẽ có ở một số ngành công nghiệp đặc biệt là dệt vì các
mặt hàng dệt xuất khẩu của châu á đang làm cho các mặt hàng dệt trong nớc mất
giá .Tại Vênêzuela,các chính sách của chính phủ gần đây đã bị ảnh hởng trực tiếp
của cuộc khủng hoảng .Các nhà phân tích cho biết ,cuộc khủng hoảng đã làm cho
nhu cầu của châu á về dầu lửa của Vênêzuela giảm khoảng 500 triệu thùng mỗi
ngày ,khiến cho giá dầu nớc này giảm .
1.2.3.Đối với các nớc châu Âu
Châu Âu cũng chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á
song mức độ có thể nhẹ hơn so với Nhật và Mỹ .Hoạt động xuất khẩu và hoạt
động của các ngân hàng khu vực bị ảnh hởng lớn ,tình trạng thất nghiệp cũng gia
tăng .CHLB Đức là nớc phải chịu tác động mạnh nhất vì nớc này thờng xuất
khẩu nhiều máy móc thiết bị có hàm lợng vốn cao ,đặc biệt là những hàng hoá đ-
ợc sử dụng trong những dự án phát triển lớn của chính phủ .Những dự án lớn này
đang bị trì hoãn hoặc loại bỏ do hầu hết các nớc Châu á phải tập trung vốn đối
phó với khủng hoảng .Các hợp đồng mua bán từ châu á giảm liên tục từ 2-3%
trong những tháng diễn ra khủng hoảng .Hãng chế tạo máy bay khổng lồ thì còn
vấp phải các khó khăn trong việc thu hồi tiền bán máy bay qua Đông á .Các hãng
ở châu Âu phải liên tục điều chỉnh kế hoạch đầu t do sự sút giảm trong doanh thu
và điều này có quan hệ mật thiết với vấn đề việc làm ở đây .Pháp và Đức là hai n-
ớc có tỷ lệ thất nghiệp tăng cao ( tính đến cuối tháng 2 năm 1998 đã gấp đôi tỷ lệ
ở Mỹ ) .Tại Anh ,một thị trờng đầu t đầu t đợc a chuộng nhất ở châu Âu của các
châu lục này sẽ đạt 3% trong năm 1998 ,cao hơn 0,5% so với năm 1997 và cũng
là mức tăng cao nhất từ năm 1990 đến nay .
1.2.4.Đối với các nớc Châu úc
Australia cũng phải chịu ảnh hởng không nhỏ bởi có mối quan hệ chặt chẽ về
kinh tế với các nớc trong khu vực .Đồng đôla nớc này đã tụt giá xuống mức thấp
10