PHẬT GIÁO HÒA HẢO – LỊCH SỬ
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC HÀ NỘI – năm 2014
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI VĂN HẢI
PHẬT GIÁO HÒA HẢO – LỊCH SỬ
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN NAY
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 62.22.9001
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Ngô Hữu Thảo
2: TS. Nguyễn Hoàng Sa
6. Ý nghĩa của luận án 6
7. Kết cấu của luận án 6
Chương 1 TỔNG QUAN 7
1.1 TỔNG QUAN CÁC NGUỒN TƯ LIỆU 7
1.1.1 Tư liệu gốc 7
1.1.2. Tư liệu tham khảo 12
1.2 NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN CỦA CÁC CÔNG TRÌNH TRÊN 14
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo Hòa Hảo 14
1.2.2. Về giáo lý, giáo luật, lễ nghi của Phật giáo Hòa Hảo 15
1.2.3 Về vai trò Huỳnh Phú Sổ; hoạt động của Đảng Dân xã, lực lượng vũ
trang và bộ máy hành chính đạo trong việc hình thành, tồn tại và phát triển
của Phật giáo Hòa Hảo 16
1.2.4. Về ảnh hưởng nhiều mặt của Phật giáo Hòa Hảo trong đời sống xã
hội 19
1.2.5. Về công tác tôn giáo đối với Phật giáo Hòa Hảo của hệ thống chính
trị Trung ương và địa phương 19
1.2.6. Định hướng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án 22
1.3 THUẬT NGỮ DÙNG TRONG LUẬN ÁN 23
1.3.1 Thế nào là đạo Hòa Hảo 23
1.3.2 Danh từ Phật giáo Hòa Hảo 23
1.3.3 Làng Hòa Hảo 24
1.3.4 Chức việc Phật giáo Hòa Hảo 25
1.3.5 Thờ tự chung 26
1.3.6. Đạo Phật 26
1.3.7 Tôn giáo là gi? 27
Chương 2 NHỮNG THỜI KỲ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CƠ
BẢN CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO 40
2.1. NHỮNG THỜI KỲ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PGHH 40
4.2.1 Vấn đề đặt ra 131
4.2.2 Khuyến nghị 136
Tiểu kết chương 4 149
KẾT LUẬN 151
HAI BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
PHỤ CHÚ 166
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận án tiến sĩ là trung thực. Những kết luận khoa học luận án
tiến sĩ của nghiên cứu sinh chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Bùi Văn Hải
chủ thể lãnh đạo, quản lý xã hội, cần phải nhận thức lại, hướng đến sự thống
nhất hơn nữa, nhằm đảm bảo cho mối đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc.
Hiện nay, theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2012, Phật
giáo Hoà Hảo có 1,.3 triệu tín đồ. Trong đó, tín đồ hầu hết là nông dân và tập
trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đông nhất là ở An Giang,
Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre và Kiên Giang. Tín đồ 2
Phật giáo Hoà Hảo luôn thể hiện niềm tin của mình vào nền đạo tốt đẹp của
Phật giáo Hòa Hảo và trực tiếp vào Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ của họ.
Cũng giống như các tôn giáo truyền thống khác, giáo lý Phật giáo Hoà
Hảo đều khuyên dạy tín đồ “làm lành, lánh dữ”; giữ gìn những giá trị truyền
thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; đề cao đến cao độ
lòng tự tôn, tự hào dân tộc của nòi giống Rồng - Tiên
Tuy nhiên cho đến nay, nhiều vấn đề lịch sử chính trị, xã hội và tôn
giáo của Phật giáo Hòa Hảo vẫn chưa được giải quyết về cơ bản trên các
phương diện chính trị học, tôn giáo học và xã hội học, như vấn đề Giáo chủ
Huỳnh Phú Sổ, Đảng dân xã, cơ sở thờ tự Bên cạnh đó, các thế lực thù địch
vẫn tiếp tục lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo; số phần tử quá khích, cực đoan ở
trong nước cấu kết với các thế lực xấu ở ngoài nước vốn có mặc cảm nặng nề
với chế độ ta, những người đứng đầu mang danh Phật giáo Hòa Hảo, để
chống phá cách mạng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những vấn
đề đó của Phật giáo Hoà Hảo cả trong lịch sử và đương đại đã và đang đặt ra
nhu cầu cấp thiết về lý luận cũng như thực tiễn cho việc nghiên cứu thấu đáo
hơn nữa về tôn giáo này. Nghiên cứu về những vấn đề đó, sẽ là cơ sở khoa
học cho Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức chính trị - xã
phương diện công tác tôn giáo của hệ thống chính trị đối với tôn giáo này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sinh tiếp cận đối tượng nghiên cứu là các chức việc ở Ban
Trị sự Phật giáo Hòa Hảo 2 cấp, cùng với tín đồ của tôn giáo này và nghiên
cứu trong phạm vi vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam, thời gian từ
năm 1939 đến năm 2013.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Với đề tài luận án: "Phật giáo Hòa Hảo – lịch sử và những vấn đề hiện
nay”, nghiên cứu sinh xác định những câu hỏi nghiên cứu sau: 4
Câu hỏi 1: Những vấn đề lịch sử của Phật giáo Hòa Hảo đã và đang tác
động tới đời sống xã hội đương đại như thế nào?
Câu hỏi 2: Trong xã hội mới do Đảng ta lãnh đạo, Phật giáo Hòa Hảo
đã phát huy được yếu tố tích cực của mình ra sao?
Câu hỏi 3: Hệ thống chính trị các cấp và Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo
cần làm gì và làm như thế nào để tôn giáo này thực hiện được phương châm
tốt đời – đẹp đạo?
Từ các câu hỏi nghiên cứu ấy, nghiên cứu sinh xây dựng một số giả
thuyết như sau:
Một là, những sự kiện và đặc điểm của Phật giáo Hòa Hảo trong lịch sử
cho đến nay đã mờ nhạt, rơi vào quên lãng, hoặc đã được giải quyết căn bản, vì
thế chỉ nên đặt trọng tâm chú ý vào các vấn đề hôm nay của Phật giáo Hòa Hảo.
Hai là, trong một tồn tại xã hội mới do Đảng ta lãnh đạo, tín đồ và chức
việc Phật giáo Hòa Hảo đương nhiên đã rũ bỏ được những vấn đề chính trị
Thứ tư: Dựa vào lý thuyết nhân học tôn giáo, văn hóa học và chính trị
học để làm rõ những yêu cầu của xã hội, chính trị đối với tín đồ, chức việc
Phật giáo Hòa Hảo và ngược lại, của đồng bào theo Phật giáo Hòa Hảo đối
với đất nước trong quá trình phát triển xã hội Việt Nam dưới thời kỳ đổi mới.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Với các câu hỏi và giả thuyết như trên, nghiên cứu sinh sẽ phải vận
dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học. Đó là: những
nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử; kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên
ngành, như: Phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic, lịch đại, phương pháp
phân tích biểu tượng, phương pháp so sánh và phân loại loại hình hóa;
phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, phương pháp
quan sát và tham dự. 6
5. Kết quả đóng góp của luận án
Luận án góp phần tiếp tục luận giải những vấn đề lịch sử của Phật giáo
Hòa Hảo trong xã hội đương đại do Đảng ta lãnh đạo;
Luận án góp phần tăng cường công tác tôn giáo của hệ thống chính trị
đối với Phật giáo Hòa Hảo hiện nay, từ việc xây dựng lực lượng cốt cán, nâng
cao đời sống tinh thần, trình độ dân trí, phát huy tinh thần yêu nước của tín
đồ, chức việc Phật giáo Hoà Hảo.
6. Ý nghĩa của luận án
- Luận án góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về Phật giáo Hoà
Hảo; cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính
sách đối với tôn giáo này hiện nay;
Quyển 2: “Kệ dân của người khùng”, thể thơ thất ngôn trường thi, có
846 câu, xuất bản năm 1939. Nội dung quyển này tiếp tục cảnh báo họa chiến
tranh diễn ra. Sinh linh đồ khổ, Huỳnh Phú Sổ nêu cụ thể thảm họa cho dân
tộc Việt Nam; đánh giá đúng thảm cảnh xã hội đương thời bấy giờ một cách
đen tối cùng cực nhất trong lịch sử cận đại của dân tộc. Mục đích của Huỳnh
Phú Sổ là gây ấn tượng thức tỉnh lương dân tìm đường đạo hạnh.
Quyển 3: “Sấm giảng”, thể thơ lục bát trường thi, có 612 câu, xuất bản
năm 1939. Nội dung chủ yếu của quyển này là tiếp tục khuyên chúng sinh tu
hành và bài bác mê tín dị đoan. Thật không sai, nếu ở trên đời ai cũng tu tâm
dưỡng tánh, làm lành lánh dữ thì đâu có cảnh xâu xé lẫn nhau làm cho đầu rơi 8
máu đổ. Những từ luân lý, tổ tông, nhân nghĩa, lễ nghi, phong hóa, tứ ân đã
bao hàm đủ việc đối nhân xử thế, đạo lý làm người của dân tộc ta. Về phê
phán mê tín dị đoan cũng được khẳng định khác biệt giữa chân đạo và tà đạo.
Quyển 4: “Giác mê tâm kệ”, thể thơ thất ngôn trường thi, có 846 câu,
xuất bản năm 1939. Nội dung quyển này Huỳnh Phú Sổ khuyên dạy bổn đạo
tu cho tròn đạo làm người để hướng cho tín đồ bước lên bậc thang cao hơn
trên con đường tu học. Tu tâm là pháp môn thiền định rất cao trong giáo lý
nhà Phật, ở đó tâm không còn vọng đọng, tránh được phiền não và có được
những người tu hành tinh tấn, ngộ đạo. Huỳnh Phú Sổ xây dựng từng bước
hoàn thiện một con người, dẫn đến ngưỡng cửa Phật, đi đúng theo giáo lý
chân truyền của Phật Thích Ca Mâu Ni.
Quyển 5: “Khuyến thiện”, thể thơ thất ngôn trường thi, có 756 câu,
xuất bản năm 1941. Nội dung quyển này khuyên tín đồ làm việc thiện, tu tỉnh
quy y phật pháp. Nếu xét về mặt logíc, quyển này thể hiện tính liên tục, kế
Hạng tại gia: Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chưa đủ
những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông Tổ
quốc, với gia đình, đồng bào, xã hội, nên chưa thể làm như các nhà sư hoặc ni
cô. Tuy vậy, họ luôn hoan nghênh, ca tụng lý tưởng từ bi, bác ái, đại đồng của
nhà Phật và luật nhân quả do Phật thuyết ra. Họ thờ phượng Đức Phật tại nhà,
phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều giới luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh răn
lòng, ủng hộ các sư. Như thế họ cũng lần lần lên con đường giải thoát và đây
là hạng người học Phật tu Nhân. Theo đó cho thấy toàn thể trong Phật giáo
Hòa Hảo thuộc hạng người tại gia cư sĩ, học Phật tu Nhân.
1.1.1.2 Tài liệu - sấm giảng giáo lý Phật giáo Hoà Hảo của Huỳnh
Phú Sổ, Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo, Ban Phổ truyền giáo lý,
tái bản lần thứ năm, nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội năm 2004.
Tài liệu này gồm có: thay lời tựa, sứ mạng của đức Thầy, do chính tay
Huỳnh Phú Sổ viết vào ngày 18/5/1942, tại Bạc Liêu, gồm 06 quyển: Nó
tương tự như 06 quyển tư liệu gốc, không có gì thay đổi. Nhưng chỉ có quyển
thứ nhì của tái bản lần thứ năm chênh lệch nhau 370 câu và quyển năm chênh 10
lệch nhau 20 câu (quyển thứ hai cũ có 846 câu, quyển mới chỉ có 476 câu và
quyển thứ năm cũ 756 câu và quyển mới 776 câu).
Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo giữa cái cũ và cái mới chỉ chênh lệch nhau
ở quyển hai và quyển năm, khi đã lược bỏ một số câu trong hai quyển này. Có
lẽ Ban Trị sự Trung ương giáo hội Phật giáo Hòa Hảo điều chỉnh cho phù hợp
với điều kiện mới. Những nội dung kệ giảng của Huỳnh Phú Sổ đã lý giải
được những điều bức xúc trong đời sống xã hội, đáp ứng được nhu cầu tín
giữa Đảng với nhân dân, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng cộng sản Việt
Nam, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII (1998), về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Đảng cộng sản Việt
Nam, Chỉ thị số 37-CT/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới; Thông
tư số 01/1999/TT-TGCP: v/v hướng dẫn thực hiện một số điều trong nghị
định 26/1999/NĐ-CP của chính phủ về các hoạt động tôn giáo;
Quyết định số: 17/2000/QĐ- TGCP của trưởng Ban Tôn giáo chính phủ
v/v sửa đổi, bổ sung một số điều tại thông tư 01/1999/TT-TGCP ngày
16/6/1999 của Ban Tôn giáo chính phủ về hoạt động tôn giáo; Nghị quyết
25/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần bảy (2003), khoá IX: về
công tác tôn giáo; Đảng Cộng Sản Việt Nam: Quyết định số 123 - QĐ/TW
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2004): quy định một số điều về kết nạp
đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn
giáo; Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, số
21/2004/PL-UBTVQH11, ngày 29-6-2004; Nghị định số 22/2005/NĐ-CP:
hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh tôn giáo; Đảng Cộng Sản Việt
Nam (2006), văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X – Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội; Ban Tôn giáo chính phủ (2008), tôn giáo và công tác quản
lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Nxb tôn giáo, Hà Nội; Ban Tôn
giáo chính phủ (2010): tài liệu hỏi - đáp pháp luật liên quan đến tín ngưỡng,
tôn giáo, Nxb tôn giáo, Hà Nội; Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), văn kiện
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI - Nxb chính trị quốc gia Hà Nội.
Thông báo số 165-TB/TW, ngày 04/9/1998, của Thường vụ Bộ Chính
trị (khoá VIII): về chủ trương công tác đối với Phật giáo Hoà Hảo trong tình 12
13
PGS. TS Nguyễn Đức Lữ (2006): Tiếp tục đổi mới tư duy về tôn giáo và công
tác tôn giáo, tạp chí Lý luận chính trị. PGS.TS Nguyễn Đức Lữ (2011), tìm
hiểu về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt
Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. Trương Hải Cường
(2012), một số vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb
Chính trị quốc gia – Sự thật. PGS.TS Ngô Hữu Thảo (2012): Công tác tôn
giáo – từ quan điểm Mác – Lênin đến thực tiễn Việt Nam, Nxb Chính trị -
Hành chính, Hà Nội. .
1.1.2.2 Hệ thống hoá các công trình, bài viết đã được công bố liên
quan đến Phật giáo Hoà Hảo.
Đào Hưng và Vương Kim (1953): Đức Phật Thầy Tây An, Nxb Long
Hoa. Vương Kim (1960): Đời hạ ngươn, Nxb. Long Hoa. Huỳnh Phú Sổ
(1966): Sấm giảng thi văn giáo lý, Ban phổ thông giáo lý Trung ương giáo hội
Phật giáo. Nguyễn Văn Hầu (1969): Muốn về cõi Phật, Nxb Hương Sen.
Nguyễn Văn Hầu (1971): Nhận thức Phật giáo Hoà Hảo, Nxb Hương Sen.
Nguyễn Văn Hầu (1973): Năm cuộc đối thoại, Nxb Hương Sen. Vương Kim
(1973): Đời thượng ngươn, Nxb Long Hoa. Lê Thành Thảo (1974): Sinh hoạt
Phật giáo Hòa Hảo trong cộng đồng quốc gia, luận văn cao học xã hội học –
Đại học Văn khoa. Huỳnh Hữu Chiến: Hoạt động lợi dụng Phật giáo Hoà
Hảo của địch chống lại chính quyền nhân dân trên địa bàn tỉnh An Giang từ
1975 – 1990. Trương Như Vương (1997): Đạo Hòa Hảo những vấn đề đặt ra
cho công tác an ninh trật tự hiện nay, đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Bộ Công
an, Hà Nội. Báo cáo tổng quan đề tài (2001) khảo sát thực trạng Phật giáo
Hoà Hảo – kiến nghị về chủ trương, chính sách, Vụ 3 - Vụ các tôn giáo khác,
Ban Tôn giáo chính phủ, Hà Nội.
bộ đã hình thành những nét tâm lý, lối sống của người dân và những hình
thức tôn giáo Nam bộ đặc thù và tất cả những điều đó không những đã hội tụ
hợp lại tạo ra môi trường thuận lợi làm nảy sinh những tôn giáo mới, trong đó
có Phật giáo Hoà Hảo, mà còn tạo nên tính cách, đặc điểm riêng của tín đồ
Phật giáo Hòa Hảo. Bởi vì Nam bộ Việt Nam là vùng đất mới được khai phá,
bởi các tộc người Chăm, Hoa, Khmer và Việt trong đó người Việt nhiều nhất, 15
có vai trò quyết định sự phát triển của vùng đất này. Người Việt đem đến đây
vốn văn hoá của vùng đất châu thổ Bắc bộ lại được làm giàu ở miền Trung,
khu Năm. Đến vùng đất mới, nó lại được giao lưu với văn hoá các tộc người
khác, nên có những nét khác với nền văn hoá của vùng đất có cội nguồn phía
Bắc. Những yếu tố ấy hình thành tồn tại xã hội độc đáo ở miền đất phía nam
Việt Nam. Từ đó, tạo nên tính cách đặc trưng của bao thế hệ người Việt ở
Nam bộ đó là sự giản dị, thẳng thắn, trung nghĩa, có tinh thần yêu nước,
chống cường quyền. Phật giáo Hoà Hảo trên toàn bộ nội dung cơ bản của
mình, đã phản ánh và đáp ứng về những đặc điểm của người dân Nam bộ.
- Trực tiếp với sự ra đời Phật giáo Hòa Hảo, đó là sự sa sút về đạo pháp
của các tôn giáo đương thời, nhất là sự suy vi của Phật giáo từ mấy thế kỷ
trước, để rồi bắt đầu từ Miền Nam vào những năm đầu thế kỷ XX, dấy lên
phong trào chấn hưng Phật giáo. Trước khi Phật giáo Hoà Hảo ra đời, đa số
nông dân đi theo đạo Phật, đạo Nho, một số ít đi theo đạo Công Giáo. Nhưng
thời kỳ này, các tôn giáo đó bị người ta nghi ngờ hoặc đã không còn phù hợp.
Trước đó, đạo Cao Đài ra đời, nhiều người đương thời xem nó như một hiện
tượng mê tín; hơn nữa lại là một tôn giáo hỗn dung nên có phần phức tạp,
- Về Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ
+ Các công trình đã nghiên cứu về tôn giáo này, khi đã luôn gắn liền với
vai trò của Huỳnh Phú Sổ, từ mọi ảnh hưởng, vận động và lịch sử phát triển
của Phật giáo Hòa Hảo. Trong đó là một số vấn đề cơ bản:
+ Huỳnh Phú Sổ, cuộc đời và sự nghiệp tôn giáo của một giáo chủ, đã
thu hút sự nghiên cứu của nhiều công trình. Ở đây chủ yếu là những ca ngợi,
đề cao một con người bằng xương, bằng thịt để rồi trở thành Giáo chủ Phật
giáo Hòa Hảo.
+ Người tín đồ Phật giáo Hòa Hảo luôn tự hào, tin tưởng vào vị giáo chủ
của mình trên mọi phương diện, cả đạo và đời.
+ Sự kiện Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ“đi xa” được rất nhiều công trình đề
cập tới. Đây chính là nội dung – vấn đề còn nhiều tranh cãi bậc nhất của tôn
giáo này từ lịch sử đến nay. Trong đó, người ta có khi đã đặc biệt khoét sâu 17
mâu thuẫn giữa tín đồ với cách mạng, trong khi quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta là khép lại quá khứ, đoàn kết dân tộc.
- Về hoạt động của Đảng Dân xã
+ Sự ra đời của Việt Nam dân chủ xã hội Đảng của Phật giáo Hòa Hảo
được nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội và khoa học nhìn nhận như là một
trang tối trong lịch sử ra đời và tồn tại của tôn giáo này.
+ Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, quá trình ra đời của Việt Nam
dân chủ xã hội Đảng gọi là Đảng Dân xã, gắn liền với ý đồ chính trị hóa tôn
giáo để thực hiện tham vọng bá vương, chia quyền lãnh đạo với cách mạng
của Huỳnh Phú Sổ. Với ý đồ lợi dụng của đế quốc thực dân, Huỳnh Phú Sổ đã
vì, nó không chỉ khắc sâu tính đặc thù và đơn nhất trong lịch sử mà còn để lại
hậu quả không nhỏ cho xã hội.
+ Các công trình cũng khẳng định: Với tinh thần chống cộng, tôn thờ
chủ nghĩa đế quốc, lại được đế quốc Mỹ nuôi dưỡng, bảo trợ nên vai trò
chống cộng của lực lượng vũ trang Phật giáo Hòa Hảo qua các thời kỳ trở nên
bất lợi, gây nhiều thiệt hại cho cách mạng.
+ Các công trình đưa ra số liệu về quân số của lực lượng vũ trang Phật
giáo Hòa Hảo như sau:
Thời kỳ 1948 – 1951: Có 17.414 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo;
Thời kỳ 1952 – 1953: Có 25.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo;
Thời kỳ 1954 – 1964: Có 28.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo (lực lượng
chính quy của Đảng Dân xã);
Thời kỳ 1965 – 1972: Có 1.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo;
Thời kỳ 1973 – tháng 12/1973: Có 70.500 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo
(trong đó tỉnh đoàn bảo an tỉnh An Giang có 2.000 tín đồ);
Thời kỳ 1974 – 1975: Có 518.743 tín đồ Phật giáo Hòa.
- Về hoạt động của bộ máy hành chính:
Nhiều công trình phân tích về bộ máy hành chính đạo Phật giáo Hòa
Hảo. Trong quá trình thành lập và hoạt động tồn tại không còn nguyên nghĩa
mà là một tổ chức có tính cơ quan quyền lực nhiều hơn, được suy cử từng 19
nhiệm kỳ nhất định. Vì vậy các hoạt động của bộ máy hành chính có tính tôn
giáo của Phật giáo Hòa Hảo bị mờ nhạt. Thay vào đó là quá trình chính trị hóa
bộ máy Giáo hội hơn; mâu thuẫn tranh giành quyền lực của một số người ở cơ
kết; khu phố văn hóa, ấp văn hóa; xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân
cư thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục tín đồ Phật giáo Hòa Hảo hiểu
rõ chủ trương chính sách của Đảng, luật pháp Nhà Nước Việt Nam từ đó tín
đồ an tâm hành đạo; các tổ chức chính trị ở cơ sở, làm tốt công tác vận động
quần chúng tín đồ Phật giáo Hoà Hảo. Tổ chức đa dạng các hình thức tập hợp
tín đồ và có phương thức hoạt động phù hợp. Có những giải pháp khuyến
khích và định hướng các hoạt động từ thiện xã hội gắn với tôn chỉ hành đạo
phù hợp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, củng cố tính nhân văn
và tinh thần cộng đồng xã hội. Quản lý có hiệu quả thích hợp các hoạt động từ
thiện xã hội, tránh được việc lợi dụng từ thiện xã hội vào các mục đích khác.
Tôn trọng việc thờ cúng thực hiện các nghi thức trong các ngày lễ của Phật
giáo Hoà Hảo.
- Hệ thống chính trị đã được tăng cường, từng bước nắm được tâm tư
nguyện vọng và những diễn biến tư tưởng của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Làm
phân hóa các nhóm đối tượng, cảm hóa những người có quá khứ lỗi lầm; xây
dựng đội ngũ cán bộ cốt cán làm hạt nhân cho phong trào quần chúng trong
nhóm tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tích cực; cô lập những người núp dưới chiêu
bài Phật giáo Hoà Hảo để chống Đảng, Nhà Nước Việt Nam.
- Phát huy tốt những đạo đức, văn hoá tích cực của Phật giáo Hoà Hảo
phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội mới. Lấy đó làm hạt nhân tương đồng
để gạt bỏ những dị biệt mặc cảm; xây dựng khối đại đoàn kết tín đồ trong
lòng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Từng bước đã kiện toàn được tổ chức Ban Trị sự Trung ương và địa
phương hướng tín đồ hoạt động từng bước đi vào nề nếp, thuần tuý của một
đạo. Củng cố, xây dựng được lực lượng cốt cán từ quần chúng tín đồ Phật