SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG ĐỒNG NAI THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM – KHỐI 12 - Pdf 29

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Long Thành

Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
LỒNG GHÉP LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG ĐỒNG NAI
THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ VÀO DẠY HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM – KHỐI 12
Người thực hiện: Chu Thị Hằng
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Lịch sử 
- Lĩnh vực khác:…………………………. 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác

Năm học: 2014 - 2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Chu Thị Hằng
2. Ngày tháng năm sinh: 01 – 10 – 1985.
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: Tam Phước, Biên Hòa, Đồng Nai.
5. Điện thoại: 0985648919 (CQ)/ (NR); ĐTDĐ:
6. Fax:
7. E-mail: [email protected]
8. Chức vụ: Giáo viên
9. Nhiệm vụ được giao (quản lý, đoàn thể, công việc hành chính, công việc chuyên môn,
giảng dạy môn, lớp, chủ nhiệm lớp,…):

kháng chiến chống Mĩ (1954 – 1975) vào bài học LSDT khối 12 Trang 18
1. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Trang 18
2. Kết hợp liên môn kiến thức Lịch sử, Địa lí, Văn học Trang 19
3. Kết hợp với các loại văn kiện Trang 20
CHƯƠNG III: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM Trang 21
Giáo án 1 Trang 21
Giáo án 2 Trang 28
Giáo án 3 Trang 36
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ Trang 43
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN Trang 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 47
PHỤ LỤC: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT Trang 48
GV: Chu Thị Hằng
Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
ĐỀ TÀI
LỒNG GHÉP LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG ĐỒNG NAI THỜI KÌ KHÁNG
CHIẾN CHỐNG MĨ VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM – KHỐI 12
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong công cuộc đổi mới và mở cửa để hội nhập với thế giới bên ngoài của đất
nước hiện nay, việc mở rộng và nâng cao tri thức văn hóa chung trong xã hội đã
trở thành cấp thiết. Các tri thức Lịch sử nói chung và lịch sử của từng địa phương
nói riêng có vai trò lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Vì nó không chỉ giúp các em
hiểu sâu hơn kiến thức Lịch sử dân tộc (LSDT) mà còn góp phần trực tiếp hình
thành, bồi dưỡng tình yêu và lòng tự hào về quê hương – cội nguồn của lòng yêu
nước.
Đồng Nai là một địa phương giàu truyền thống đấu tranh cách mạng. Lịch sử
hình thành và phát triển của Đồng Nai đã trở thành một bộ phận sinh động không
thể tách rời của LSDT. Thật vậy, trong buổi bình minh của loài người các nhà khảo

phận hữu cơ, cấu thành cũng như tạo biểu tượng cụ thể và phong phú cho tri thức
LSDT. Bất kì một sự kiện nào của LSDT cũng đều diễn ra ở một địa phương cụ thể
với thời gian, không gian nhất định. Nó chứng minh sự phát triển hợp quy luật của
mỗi địa phương trong sự phát triển chung của cả nước. Từ mối quan hệ chặt chẽ đó
thì việc sử dụng LSĐP trong dạy học LSDT ở nhà trường phổ thông sẽ góp phần
nâng cao chất lượng dạy học bộ môn và giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho
HS. Bởi vì, những chất liệu LSĐP sẽ làm cho bài học LSDT, có khi là LSTG thêm
sống động, cụ thể và thực hơn, tạo nên những cảm xúc thật của HS hoặc thầy cô
giáo trong mỗi bài học cụ thể.
Bên cạnh đó, thực hiện chủ trương của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, hiện
nay các công ty lữ hành đã và đang đẩy mạnh hoạt động du lịch “về nguồn” để
thăm và tìm hiểu các di tích lịch sử của đất nước. Trong xu thế đó việc tuyên
truyền, quảng bá các địa danh, di tích tại địa phương mình chính là nhu cầu và
niềm tự hào của mỗi công dân mà ở tỉnh Đồng Nai chúng ta cũng thế. Như vậy,
với mỗi nội dung LSĐP nếu được thực hiện tốt thì bên cạnh việc giáo dục được
truyền thống cách mạng địa phương với các em HS còn góp phần quảng bá hình
ảnh của tỉnh nhà cũng như đem lại nguồn thu nhập góp phần xây dựng quê hương.
Với mong muốn sớm cùng với các đồng nghiệp khắc phục được những khó
khăn và nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn. Tôi đã chọn đề tài này.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1. Cơ sở lý luận.
LSĐP là những gì diễn ra trong quá khứ của một đơn vị hành chính (xã,
huyện, tỉnh) như: quá trình hình thành, xây dựng, bảo vệ, chống giặc ngoại xâm và
các anh hùng dân tộc tại địa phương đó.
Giảng dạy LSĐP là cung cấp những sự kiện, nhân vật, di tích lịch sử gắn liền
với làng quê, thôn xóm, phố phường, nơi mà HS đang sinh sống sẽ có tác động
mạnh mẽ đến tình cảm, tư tưởng, bồi dưỡng lý luận cách mạng, tình yêu quê
hương, đất nước và hình thành nhân cách đạo đức, lối sống của con người Việt
Nam. Hơn nữa, LSĐP là một bộ phận hợp thành LSDT, nếu được lồng ghép hợp lý
thì sẽ là một phương tiện hữu ích làm phong phú, sáng tỏ, để giúp các em hiểu sâu

gì.
Bên cạnh đó, về mặt phương pháp thì dạy học tích hợp, lồng ghép đang là xu
hướng hiện đại trên thế giới. Phương pháp này mang lại những hiệu quả giáo dục
nhanh chóng và rõ rệt, vì khi dạy cũng với chính lượng kiến thức đó nhưng nhắm
vào được nhiều mục đích, người học được tích lũy thêm thông tin kiến thức mới
một cách nhẹ nhàng.
III. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN.
1. Thuận lợi:
Được sự chỉ đạo và lãnh đạo thống nhất của Cấp ủy, Chi bộ và BGH nhà
trường và các tổ chức Đoàn thể luôn coi trọng và đề cao vấn đề chuyên môn.
Đội ngũ giáo viên cốt cán, chuyên môn vững, có nhiều kinh nghiệm, sáng kiến
trong giảng dạy và luôn đề cao tinh thần đoàn kết thống nhất.
Đoàn Thanh niên hoạt động tích cực, sáng tạo và hiệu quả luôn gắn với các
chủ trương của cấp trên, tích cực trong việc giáo dục HS qua các hoạt động về
nguồn, đền ơn đáp nghĩa…
Trường đóng trên địa bàn có nhiều Di tích lịch sử - văn hóa đã được Nhà nước
hoặc tỉnh xếp hạng như: Mộ Nguyễn Đức Ứng và 26 nghĩa binh (xã Long Phước),
đình Phước Lộc (thị trấn Long Thành); căn cứ Tỉnh ủy Biên Hòa (xã Bình Sơn)…
thuận lợi cho công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho HS.
Sở thường xuyên thành lập các đoàn thanh tra, kiểm tra về trường để kịp thời
nắm bắt, khắc phục những khó khăn trong hoạt động chuyên môn.
HS được thi tuyển đầu vào nên đa phần các em đều chăm ngoan, học tốt, năng
nổ và có ý thức tự lập trong học tập.
HS được tiếp cận với công nghệ thông tin nên dễ dàng tra cứu trên mạng
Internet để tìm hiểu những thông tin về lịch sử thông qua đề án về việc phát triển
giáo dục trung học do Bộ Giáo dục – Đào tạo triển khai.
Bản thân giáo viên nhiệt tình, luôn có ý thức tự học, tự bồi dưỡng để không
ngừng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ.
2. Khó khăn:
GV: Chu Thị Hằng

sở để tìm ra nguyên nhân, nhìn nhận thực trạng và vạch ra những giải pháp cụ thể
cho việc giảng dạy bộ môn trong từng bối cảnh và thời gian cụ thể, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục của bộ môn.
Ngoài ra, các phương pháp phân tích và tổng hợp cũng được sử dụng trong
việc tìm hiểu những sự kiện lịch sử diễn ra tại Đồng Nai trong thời gian trên.
V. PHẠM VI VÀ CẤU TRÚC ĐỀ TÀI:
1. Phạm vi:
Lồng ghép nội dung LSĐP Đồng Nai và LSVN giai đoạn 1954 – 1975 thông
qua các sự kiện LSĐP được tích hợp trong chương trình LSVN từ bài 21 đến bài
23 – SGK Lịch sử 12 hiện hành – Ban căn bản.
2. Cấu trúc:
Chương I: Mở đầu.
Chương II: Khai thác tài liệu lịch sử địa phương Đồng Nai trong dạy học lịch
sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975.
Chương III: Giáo án thực nghiệm
Chương IV: Kết quả.
GV: Chu Thị Hằng
Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
Chương V: Kết luận.
CHƯƠNG II
KHAI THÁC TÀI LIỆU LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG ĐỒNG NAI TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975.
I. CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975
TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ LỚP 12 – BAN CĂN BẢN.
1. Về cấu tạo.
Phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 nằm trong chương IV (Thuộc
phần II: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000) gồm 3 bài và chia thành 8
tiết, cụ thể:
T

vừa chiến đấu vừa sản
xuất (1965 – 1973).
Tiết 39:
I. Chiến đấu chống chiến lược “Chiến
tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ ở miền Nam
(1965 – 1968).
Tiết 40:
II. Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến
tranh phá hoại lần thứ nhất của Mĩ, vừa sản
xuất làm nghĩa vụ hậu phương (1965 –
1968).
III. Chiến đấu chống chiến lược “Việt
Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa
chiến tranh” của Mĩ.
Tiết 41:
GV: Chu Thị Hằng
Trang 8
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
IV. Miền Bắc khôi phục và phát triển
kinh tế - xã hội, chiến đấu chống chiến tranh
phá hoại lần thứ hai của Mĩ và làm nghĩa vụ
hậu phương (1969 – 1973).
V. Hiệp định Pari năm 1973 về chấm
dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
3 Bài 23: Khôi phục và
phát triển kinh tế - xã hội
ở miền Bắc, giải phóng
hoàn toàn miền Nam.
Tiết 42:
II. Hội nghị 21 Ban chấp hành Trung

LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975.
1. Khái quát lịch sử đấu tranh Đồng Nai trong giai đoạn 1954 – 1975.
1.1. Biên Hòa – Đồng Nai trong chiến lược xâm lược của Mĩ.
Đồng Nai là cửa ngõ của miền Đông Nam Bộ (ĐNB), chỉ cách sào huyệt của
chính quyền Sài Gòn 30 km, có một vị trí chiến lược quan trọng với ba vùng rừng
núi, đồng bằng nông thôn và đô thị, rừng tự nhiên, hệ thống giao thông thuận tiện
GV: Chu Thị Hằng
Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
(đường bộ, đường thủy, đường sắt) nối liền với Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Sài
Gòn, miền Tây Nam Bộ… Vì vậy, Mỹ và chính quyền tay sai đã quyết tâm biến
Đồng Nai thành chỗ dựa vững chắc, hậu phương an toàn của chúng. Trong 21 năm
xâm lược, kẻ thù đã xây dựng nhiều cơ quan đầu não chỉ huy của chúng ở miền
ĐNB đặt tại Biên Hòa. Các căn cứ quân sự lớn, hệ thống kho tàng hậu cần phục vụ
chiến tranh, tổ chức ngụy quân, ngụy quyền với bộ máy kìm kẹp dày đặc, hệ thống
căn cứ quân sự kiên cố cùng với các đơn vị tinh nhuệ và nhiều lực lượng, phương
tiện vũ khí hiện đại yểm trợ.
Tại đây, quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu, ngụy quân, ngụy quyền đã sử
dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc và phương tiện chiến tranh đánh phá ác
liệt phong trào cách mạng hòng tiêu diệt và đánh bật lực lượng kháng chiến ra khỏi
địa bàn Đồng Nai.
Về quân sự, những năm đầu sau tháng 7 – 1954, chúng tổ chức các tổng đoàn
dân vệ, sau đó chuyển thành dân vệ xã, bảo an thuộc quận, tỉnh; loại bỏ các đối thủ
và tăng cường bắt lính xây dựng đội quân bán nước gồm chủ lực, bảo an, dân vệ do
Mĩ huấn luyện và trang bị để phục vụ cho ý đồ xâm lược của chúng. Hệ thống đồn
bốt, căn cứ quân sự của địch trên địa bàn nhanh chóng được xây dựng lại và mở
rộng thêm.
Về lực lượng, nhiều căn cứ quân sự chiến lược và đơn vị tinh nhuệ được chúng
xây dựng, như: Sân bay Biên Hòa – sân bay quân sự lớn nhất Đông Dương; Tổng
kho Long Bình – nơi tàng trữ, cung cấp các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh

Nhiều cuộc đấu tranh của nông dân, công nhân được tổ chức chống lại bọn cường
hào, tư sản và ngụy quyền cướp ruộng đất nổ ra ở hầu hết các huyện trong tỉnh.
Nổi bật là cuộc biểu tình ngày 1-5-1955 của Nghiệp đoàn lao động nhà máy cưa
BIF tổ chức tại Biên Hòa, lôi cuốn được đông đảo công nhân, thợ thuyền và nhân
dân Biên Hòa tham gia. Cuộc biểu tình ngày 7-7-1956 của hàng ngàn công nhân
cao su ở các đồn điền Cẩm Mĩ, Hàng Gòn, Bình Lộc, An Lộc, Bình Sơn… và nông
dân nhiều huyện biểu tình đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước.
Từ năm 1959 trở đi, quân dân Biên Hòa – Đồng Nai đã tấn công kẻ thù trên
nhiều mặt trận. Từ đấu tranh chính trị, binh vận kết hợp vũ trang góp phần làm phá
sản chiến lược chiến tranh của Mĩ. Những thắng lợi tiêu biểu như: Trận đánh nhà
Xanh ngày 7-7-1959; trận tập kích sân bay Biên Hòa 31-10-1964 hay trận tập kích
vào Tổng kho Long Bình ngày 23-6-1966… tiến lên nổi dậy vào năm 1968. Những
thắng lợi của nhân dân Biên Hòa đã góp phần vào sự nghiệp cách mạng giải phóng
dân tộc. Với phương châm chỉ đạo “các địa phương nổi dậy, xã giải phóng xã,
huyện giải phóng huyện” các địa phương trong tỉnh lần lượt nổi dậy giành chính
quyền về tay nhân dân.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 từ ngày 26 đến ngày 30-4-1975, trên
địa bàn tỉnh Đồng Nai hình thành hai mũi tiến công của hai quân đoàn chủ lực:
quân đoàn 4 tiến vào Sài Gòn theo hướng quốc lộ 1 và xa lộ Biên Hòa, Quân đoàn
2 theo hướng quốc lộ 15 và phà Cát Lái. Chiều 29-4-1975, khu kĩ nghệ Biên Hòa
và một số ấp lân cận hoàn toàn giải phóng, toàn bộ địch ở Long Thành – Nhơn
Trạch bị quét sạch. 10 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Ủy ban quân quản Biên Hòa,
Trung đoàn 5 vào tiếp quản Tòa Hành chính Biên Hòa. Niềm vui của Đồng Nai
hòa chung cùng niềm hân hoan của cả dân tộc.
2. Lồng ghép lịch sử Đồng Nai trong dạy học lịch sử dân tộc.
Chương trình lịch sử Việt Nam 1954 – 1975 trong SGK lịch sử lớp 12 – Ban
căn bản hiện hành cũng đã đề cập đến một số sự kiện diễn ra ở tỉnh Đồng Nai và
nâng nó trở thành những sự kiện của lịch sử dân tộc.
Điển hình như ở bài 21 “Xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh chống đế
quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 – 1965)” khi viết về phong

giành chính quyền làm chủ ở nông thôn, đồng bằng; khơi dậy phong trào đấu tranh
ở thành thị; góp phần mở đầu và thổi bùng ngọn lửa Đồng Khởi ở miền Nam,
quyết đánh và quyết thắng giặc Mĩ xâm lược và bè lũ tay sai giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước.
Nhà Xanh là nơi ghi dấu ấn đậm nét sự can dự của Mỹ vào miền Nam Việt
Nam, đồng thời nơi đây còn thể hiện tinh thần ý chí cách mạng của quân dân Biên
Hòa- Đồng Nai trong cuộc káng chiến chống kẻ thù xâm lược. Di tích Nhà Xanh
đã được bộ Văn hóa thông tin xếp hạng DTLS cấp Quốc gia theo QĐ số 235/VH-
QĐ ngày 12/12/1986.
Tiếp theo, trong bài 23 “Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội ở miền Bắc,
giải phóng hoàn toàn miền Nam” ở phần III “Giải phóng miền Nam, giành
toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc” khi trình bày về chiến dịch Hồ Chí Minh thì sách giáo
khoa cũng đã nhắc đến chiến thắng Xuân Lộc. Trước những thắng lợi dồn dập của
quân ta sau các chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, chính quyền Sài Gòn rơi
vào thế bị động và mất dần các quyền kiểm soát trên chiến trường. Trước tình hình
đó, quân địch đã chọn Xuân Lộc – Long Khánh làm tuyến phòng thủ thép để giữ
Sài Gòn. Chúng quyết tâm “tử thủ” Xuân Lộc. Người Mĩ đã khẳng định “phải giữ
cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”. Tổng thống Thiệu cam kết
“dù có chết, tôi cũng phải quyết giữ cho được Xuân Lộc”…(Trích từ Đề cương
cuốn sách “Những giá trị văn hóa lịch sử truyền thống của vùng đất Đồng Nai” –
trang 30,31). Về phía ta, với quyết tâm cao độ là phải giải phóng Sài Gòn trong
tháng 4 theo tinh thần chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng từ tháng 3 năm
1975. Với những chỉ thị cụ thể “Cần có kế hoạch tức khắc…, đánh chiếm Xuân
Lộc, áp sát Biên Hòa. Khống chế sân bay Biên Hòa thì không quân mất tác dụng,
địch ở Sài Gòn sẽ hoang mang…” – Điện của Quân ủy Trung ương cho Quân ủy
Miền và Bộ Tư lệnh B2 ngày 2-4-1975 (Trích từ Tài liệu giáo khoa “Xây dựng và
GV: Chu Thị Hằng
Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
triển khai dạy học nội dung giáo dục địa phương trong hệ thống trường học tỉnh

GV có thể tích hợp toàn phần sự kiện vào bài học LSDT với việc trình bày từ
chủ trương, diễn biến đến kết quả và ý nghĩa của sự kiện, hoặc cũng có thể tích
hợp bộ phận như chỉ nêu ý nghĩa của sự kiện đối với nội dung liên quan của bài
học, hoặc giới thiệu về di tích của sự kiện đó góp phần quảng bá hình ảnh di sản và
giáo dục trách nhiệm bảo tồn và phát huy truyền thống cách mạng và những giá trị
lịch sử của địa phương. Ví dụ như khi trình bày về chiến thắng Xuân Lộc ở bài 23,
ta có thể kết hợp giới thiệu về khu di tích kỉ niệm chiến thắng này ngay trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai.
Từ năm 2000 - 2001, tại Thị xã Long Khánh đã xây dựng “công viên tượng đài
chiến thắng Long Khánh” – Tượng đài kết hợp công viên cây xanh - để ghi nhớ
công lao của các chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh xương máu cho trận chiến này. Khu
tưởng niệm nằm ngay khu tam giác giao tiếp giữa quốc lộ 1 và đại lộ Hùng Vương
của Thị xã. Từ hướng chính của tượng đài được bắt đầu từ những bậc tam cấp thấp
GV: Chu Thị Hằng
Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
dần, thấp dần lên đến trung tâm khu vực tượng đài ở cao trình 3,6m. Phần nền khu
trung tâm tượng đài được thể hiện 12 bậc cấp, tượng trưng cho 12 ngày đêm chiến
dịch giải phóng Long Khánh. Trên nền thượng, khu trung tâm tượng đài là khối
hình chóp tam giác, cao 9 mét tượng trưng cho ngày 9/4/1975 ta mở màn chiến
dịch giải phóng Xuân Lộc Long Khánh. Nó còn biểu hiện cho những ngọn núi ở
Long Khánh như núi Thị, núi Tung, núi Con rắn nơi diễn ra những chiến công
vang dội của quân và dân ta…Nó còn là hiện thân của chiếc xe tăng đầu tiên tiến
vào giải phóng Long Khánh. Xung quanh 2 cạnh đáy trái phải của khối tam giác
được chạm khắc 2 bức phù điêu diễn tả cuộc hành quân thần tốc, với khí thế rầm
rập tiến về phía trước. Cạnh đáy phí sau khối tam giác diễn tả các đơn vị quân giải
phóng cùng nhân dân mừng vui, phấn khởi khi quê hương hoàn toàn giải phóng.
Trên đỉnh khối chóp tam giác được bố cục nhóm tượng hai nhân vật cao 12m
tượng trưng cho 12 ngày đêm chiến dịch giải phóng Long Khánh. Nhân vật đứng
trước là nữ dân quân du kích đội nón tai bèo, quấn khăn rằn, mang súng AK chéo

GV: Chu Thị Hằng
Trang 14
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
khoanh dân. Trong các ấp chiến lược chúng kích động tinh thần chống cộng một
cách điên cuồng. Ngày 29-7-1964, giặc Mỹ đã ném bom giết hại hơn 500 đồng bào
tại Giồng Sắn, ngã ba sông Ông Kèo thuộc xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch. Năm
1963, chúng lập được 162 ấp, dồn gần 70% dân số của tỉnh vào trong các “ấp chiến
lược”. Nhưng nhân dân Đồng Nai dưới sự lãnh đạo của Mặt trận giải phóng tỉnh
(thành lập ngày 27-7-1964) do đồng chí Tô Văn Thanh làm chủ tịch đã lãnh đạo
nhân dân phá ấp chiến lược, làm thất bại mọi âm mưu của chúng.
Ngoài ra, trên mặt trận quân sự, trong giai đoạn này quân và dân Đồng Nai
cũng đã ghi nhận nhiều chiến thắng vang dội góp phần làm phá sản chiến lược
Chiến tranh đặc biệt của địch. Trong đó, chiến thắng gây tiếng vang và tác động
lớn nhất phải kể đến là “Trận tập kích sân bay Biên Hòa” tháng 10 năm 1964.
Sau khi thay chân Pháp, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng sân bay Biên Hòa
thành sân bay quân sự tối tân nhất vùng Đông Nam Á vào thời bấy giờ với diện
tích 40km2, có 2 đường băng dài 1.000m và 3.600m được trang bị hệ thống không
lưu, chỉ huy liên lạc vô cùng hiện đại, bảo đảm cho các loại máy bay chiến đấu cất
hạ cánh trong bất cứ điều kiện thời tiết nào. Trong sân bay thường xuyên có
khoảng 500 sĩ quan, phi công, nhân viên kỹ thuật, tiếp liệu và lực lượng binh lính
cơ hữu hoạt động tại 5 khu vực quan trọng dùng làm nơi sửa chữa, huấn luyện,
chứa từng loại máy bay riêng, như: máy bay ném bom chiến lược B57, máy bay
khu trục AD6, máy bay vận tải C113, máy bay do thám U2, trực thăng vũ trang
Đây là căn cứ xuất phát của các loại mý bay Mỹ đi đánh khắp miền Nam, miền
Bắc, Lào và campuchia. Đặc biệt việc bố phòng cực kỳ nghiêm ngặt với 15 hàng
rào thép gai, chướng ngại vật, bãi mìn, hệ thống báo động, đèn pha chiếu sáng…
có chiều rộng gần 1km. Bên trong còn có con đường trải nhựa rộng để xe cơ giới
tuần tra, cứ cách 100m lại có một lô cốt cho 1 tiểu đội lính đóng giữ. Hỗ trợ cho hệ
thống tuần tra, canh gác vành đai sân bay là 1 tiểu đoàn quân khuyển với 100 con
chó bec-giê được huấn luyện tinh nhuệ. Bên cạnh đó là lực lượng yểm trợ gồm: 1

phần I “Chiến đấu chống chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ ở miền Nam”.
GV cần hướng dẫn HS sưu tầm và sử dụng tài liệu LSĐP Đồng Nai để minh họa
cụ thể. Ở mục I.1. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam (1965 –
1968)”, sau khi trình bày những âm mưu và thủ đoạn của Mĩ ở miền Nam như:
Tăng số lượng quân Mĩ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn cùng với trang thiết
bị hiện đại; dựa vào quân đông, hỏa lực mạnh liên tiếp mở các cuộc hành quân
“tìm diệt” vào căn cứ quân giải phóng miền Nam ở Vạn Tường và hai mùa khô
nhằm tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực để áp đảo quân chủ lực của ta, giành thế
chủ động về chiến lược trên chiến trường GV nên điểm qua những hành động
của Mĩ ở Đồng Nai để làm minh chứng cụ thể. Ở Đồng Nai, Mĩ cho quân nhảy dù
xuống sân bay Biên Hòa, lập Bộ tư lệnh dã chiến II tại Long Bình, kho bom thành
Tuy Hạ (1965). Chúng liên tiếp mở các cuộc hành quân đánh vào chiến khu Đ, An
Phước, Phước Thái, Long Phước…, rải thuốc khai hoang hủy diệt ruộng vườn.
Trước những hành động đó của Mĩ, nhân dân Đồng Nai đã anh dũng chiến đấu lập
nên nhiều chiến công vang dội và góp phần làm thất bại chiến lược Chiến tranh cục
bộ của Mĩ. Bước sang phần I.2. “Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục
bộ”, kết hợp với việc trình bày những thắng lợi của quân dân ta trên toàn miền
như: chiến thắng Vạn Tường – Quảng Ngãi (18-8-1965), chiến thắng hai mùa khô
1965-1966, 1966-1967, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu thân 1968; GV
giới thiệu về thắng lợi quân sự tiêu biểu của quân dân Đồng Nai trong giai đoạn
này. Có thể kể đến là “Trận tấn công vào Tổng kho Long Bình” ngày 23-6-1966 và
những đợt tấn công sau đó. Tổng kho Long Bình được địch xây dựng từ giữa năm
1965 với mục đích phục vụ cho cuộc chiến ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương
nói chung khi cần thiết. Với diện tích rộng 24km2, nằm cách Sài Gòn 20km, cách
thành phố Biên Hòa 7km. Nơi đây có Bộ tư lệnh dã chiến II, Bộ Tư lệnh Hậu cần,
đồng thời là kho chứa bom, đạn của Mĩ ở miền Nam Việt Nam. Trong đó thường
xuyên có 2000 tên lính Mĩ – Ngụy và được tổ chức phòng thủ chặt chẽ, bao bọc
xung quanh có từ 7 đến 12 lớp kẽm gai có gài mìn, có nhiều lô cốt và tuyến hào
ngang dọc đều có gài mìn. Ngày 23-6-1966, Bộ đội đặc công đã tập kích Tổng kho
gây thiệt hại nặng cho quân địch, hủy diệt 40.000 quả đạn pháo các loại. Trận đánh

được sự hy sinh của bao thế hệ cha anh đi trước, càng tự hào về truyền thống cách
mạng của tỉnh nhà đồng thời có ý thức học tập, phấn đấu để xây dựng quê hương.
Với tầm quan trọng đó của tư liệu LSĐP và với một số sự kiện tiêu biểu đã được
giới thiệu ở trên. Dưới đây, tôi lập bảng thống kê các sự kiện LSĐP Đồng Nai cần
được tích hợp trong bài học LSDT trong giai đọa từ năm 1954 đến năm 1975.
BẢNG THỐNG KÊ CÁC SỰ KIỆN LỊCH SỬ ĐỒNG NAI CẦN ĐƯỢC
LỒNG GHÉP TRONG BÀI DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM
LỊCH SỬ VIỆT NAM
TỪ 1954 ĐẾN 1975 (Chương
trình lịch sử 12 ban cơ bản)
NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ ĐỒNG NAI TỪ
1954 ĐẾN 1975 CẦN ĐƯỢC LIÊN HỆ
T
T
T
TIẾT
PPCT
NỘI DUNG SỰ KIỆN
TÍCH HỢP
NGUỒN TƯ LIỆU
GV: Chu Thị Hằng
Trang 17
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
1 36 Bài 21: Xây
dựng CNXH ở
miền Bắc, đấu
tranh chống đế
quốc Mĩ và chính
quyền Sài Gòn ở
miền Nam (1954

Hàng Gòn,
Bình Lộc …
- Đề cương cuốn sách “Những
giá trị văn hóa lịch sử truyền
thống của vùng đất Đồng Nai”.
http://dongnai.vncgarden.com/
- “Đấu tranh đòi dân sinh,
dân chủ, đòi thi hành Hiệp
định Giơ – ne – vơ”
2 37 Bài 21: Xây
dựng CNXH ở
miền Bắc, đấu
tranh chống đế
quốc Mĩ và chính
quyền Sài Gòn ở
miền Nam (1954
– 1965)
III. Miền Nam
đấu tranh chống
chế độ Mĩ – Diệm,
giữ gìn và phát
triển lực lượng
cách mạng, tiến
tới Đồng Khởi
(1954-1960).
IV. Miền Bắc
xây dựng bước
đầu CSVC – KT
của CNXH (1961
– 1965).

xây dựng bước
- Đề cương cuốn sách
“Những giá trị văn hóa lịch sử
GV: Chu Thị Hằng
Trang 18
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
đầu CSVC – KT
của CNXH (1961
– 1965). (tt)
V. Miền Nam
đấu tranh chống
chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt” của
đế quốc Mĩ (1961
– 1965).
- Trận tập
kích sân bay
Biên Hòa
ngày 31-10-
1964.
truyền thống của vùng đất Đồng
Nai”.
http://www.baotangdongnai.
vn/ - “Phòng Đồng Nai đấu tranh
giải phóng dân tộc 1954 – 1968”
http://dongnai.vncgarden.co
m – “Tập kích bằng pháo binh vào
sân bay Biên Hòa”.
http://www.qdnd.vn/ - “Biên
Hoà, những đòn sấm sét”

- Đề cương cuốn sách
“Những giá trị văn hóa lịch sử
truyền thống của vùng đất Đồng
Nai”.
http://www.baotangdongnai.
vn - “Phòng Đồng Nai đấu tranh
giải phóng dân tộc 1954 – 1968”
http://dongnai.vncgarden.co
m – “Cuộc tiến công và nổi dậy
Xuân Mậu Thân 1968”
http://dongnai.vncgarden.co
m/ - “Những trận tấn công của
quân giải phóng vào Tổng kho
Long Bình ở Biên Hoà”
http://www.tienphong.vn/ -
“Báo Nga: Đặc công Việt Nam
thiện chiến 'ngoài sức tưởng tượng'
(I)”.
http://www.baodongnai.com.v
n/ - “Người tổ chức đánh thủng
"dạ dày" quân Mỹ”
5 42 Bài 23: Khôi
phục và phát
triển kinh tế - xã
hội ở miền Bắc,
giải phóng hoàn
toàn miền Nam.
II. Hội nghị
21 Ban chấp hành
Trung ương Đảng

– Xuất bản năm 1990 – Tr
234,235.
http://vi.wikipedia.org/wiki/
Chiến dịch Phan Rang – Xuân
Lộc.
http://dongnai.vncgarden.co
m/-“Tuyến phòng thủ thép của
địch ở Xuân Lộc bị đập tan như
thế nào trong chiến dịch giải
phóng miền Nam?”
http://baodongnai.com.vn/-
“Chiến dịch Xuân Lộc trong mặt
trận hướng Đông mùa Xuân năm
1975”.
https://hosotulieu.wordpress.
com– Đập tan “cánh cửa thép”
Xuân Lộc (kỳ 2)
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC LỒNG GHÉP NỘI DUNG LSĐP
ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ (1954 – 1975) VÀO
DẠY HỌC LSVN - KHỐI 12.
Để sử dụng tài liệu LSĐP Đồng Nai trong bài học lịch sử Việt Nam giai đoạn
1954 – 1975 thì có thể sử dụng được nhiều phương pháp khác nhau. Tùy vào mỗi
GV, có thể sử dụng phương pháp truyền thống, phương pháp dạy học nêu vấn đề,
dạy học theo dự án, sử dụng CNTT, sử dụng tài liệu LSĐP để liên hệ thực tế giáo
dục HS, sử dụng tư liệu LSĐP để kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của HS,
phương pháp liên môn, trò chơi ô chữ, thảo luận nhóm… Tuy nhiên, do hạn chế về
thời gian nên trong chuyên đề này tôi xin được giới thiệu một số ít trong những
phương pháp đã nêu ở trên mà tôi cảm thấy dễ sử dụng nhưng đem lại kết quả thiết
thực cho việc lồng ghép nội dung LSĐP Đồng Nai vào bài học LSDT mà không
làm ảnh hưởng đến thời lượng tiết học.

Nhà Xanh.
Hoặc khi dạy bài 23 về chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 nếu có lồng ghép
nội dung chiến thắng Xuân Lộc. GV trình chiếu hình 79 – Lược đồ diễn biến cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 (SGK lịch sử 12 – tr 193) cho HS theo dõi
diễn biến, gọi các em xác định và nhận xét vị trí của Xuân Lộc trong chiến dịch.
Sau đó, GV cho trình chiếu một vài hình ảnh tiêu biểu về chiến thắng hoặc trình
chiếu video clip về trận đánh này. Qua việc tác động mạnh đến nhiều giác quan và
cảm xúc của HS sẽ giúp cho các em nhận thức tốt hơn.
2. Kết hợp liên môn kiến thức Lịch sử, Địa lí, Văn học.
Sử dụng kiến thức liên môn cũng chính là một giải pháp tối ưu cho việc giảng
dạy tích hợp kiến thức LSĐP vào bài học LSDT. Để tránh cách dạy trùng lắp, rời
rạc, tản mạn thì phải chuẩn bị và vận dụng kiến thức liên ngành. Kết hợp trình bày
miệng với đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo của các khoa học khác thì bài
giảng sẽ trở nên sinh động, hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập của HS đồng thời
tạo nên những cảm xúc thực sự. Ngoài ra, giải pháp này còn khắc phục được tình
trạng mất nhiều thời gian, kiến thức nặng nề và quá tải với HS.
Lịch sử, Địa lí, Văn học có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Kiến thức Địa lí,
Văn học nếu được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ thì nó sẽ có tác động rất lớn cho
thành công của một bài dạy lịch sử.
Ví dụ, khi dạy về phần “Chiến đấu chống Chiến lược chiến tranh đặc biệt
của Mĩ 1961 – 1965”, GV tích hợp trận đánh của ta vào sân bay Biên Hòa ngày 31
– 10 – 1964. Kiến thức của môn Địa lí sẽ cho các em biết được vị trí địa lí, quy mô
về diện tích của sân bay từ đó HS sẽ thấy được tầm quan trọng về chiến lược của
sân bay Biên Hòa đối với quân địch. Để rồi, khi ta bất ngờ đánh tập kích vào sân
GV: Chu Thị Hằng
Trang 21
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
bay thì Mĩ đã coi đây là một thảm họa. Kết hợp với việc miêu tả trận đánh và liệt
kê một số kết quả tiêu biểu để rút ra ý nghĩa của sự kiện này. Tuy nhiên, để thấy
hết được ý nghĩa và tầm vóc của chiến thắng này có lẽ không một ngôn từ nào có

khắc tập trung pháo lớn, phần nào xe tăng và bộ binh nhân lúc địch hoang mang,
diệt bọn bại binh mới chạy về, tiêu diệt một bộ phận sư đoàn 18, đánh chiếm Xuân
Lộc, áp sát Biên Hòa. Khống chế sân bay Biên Hòa thì không quân mất tác dụng,
địch ở Sài Gòn hoang mang to”. Quán triệt tinh thần đó, Thị ủy Long Khánh đã hạ
quyết tâm “Dùng ba mũi chính trị, binh vận, kết hợp với vũ trang và cơ sở mật bên
trong để bức hàng, bức rút các đồn, bót địch ở vùng ven, tạo điều kiện cho Quân
đoàn 4 tấn công tiêu diệt địch”. (Trích từ tài liệu giáo khoa “Xây dựng và triển
khai nội dung giáo dục địa phương trong hệ thống trường học tỉnh Đồng Nai” –
bậc THPT – môn Lịch sử - lớp 12 – bài 3 “Chiến thắng Xuân Lộc trong tổng tiến
công nổi dậy xuân 1975”).
GV: Chu Thị Hằng
Trang 22
Sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Long Thành
Từ những chỉ thị thể hiện quyết tâm cao độ giải phóng miền Nam thì quân
dân Đồng Nai đã cùng quân dân cả nước nỗ lực làm nên thắng lợi cuối cùng trong
sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Việc sử dụng tài liệu văn kiện
cho HS thấy được bước chuyển của cách mạng cả nước nói chung và Đồng Nai nói
riêng trong đầu năm 1975. Tùy vào thời lượng tiết học, phương pháp lựa chọn
trong tiết học và đối tượng HS, mỗi GV có thể lựa chọn những tư liệu văn kiện phù
hợp để việc tích hợp có hiệu quả nhất.
CHƯƠNG III
GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
GIÁO ÁN 1
Bài 21: Xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và
chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 – 1965)
Bài này gồm 5 mục lớn (I,II,III,IV,V) chia làm 03 tiết trong PPCT (tiết 36,37,38)
Tiết 37
III. Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm, giữ gìn và phát triển
lực lượng cách mạng, tiến tới Đồng Khởi (1954-1960).
IV. Miền Bắc xây dựng bước đầu CSVC – KT của CNXH (1961 – 1965).

- Phiếu học tập (Đề cương bài học).
- Máy chiếu, màn chiếu.
- Lược đồ, tranh ảnh minh họa cho bài giảng.
- Tài liệu lịch sử khác về phong trào Đồng khởi ở miền Nam và Đồng Nai.
2. Học sinh: Hoàn thành phiếu học tập (bản đề cương bài học) theo yêu cầu
của GV trước bài học.
ĐỀ CƯƠNG
III. Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mĩ - Diệm. Giữ gìn và phát triển
lực lượng cách mạng, tiến tới “Đồng khởi” (1954-1960)
1)Đấu tranh chống chế độ Mĩ - Diệm, giữ gìn phát triển lực lượng cách
mạng (1954-1959) – đọc thêm.
2) Phong trào “Đồng khởi” (1959-1960).
a. Điều kiện lịch sử:
- Chính sách của Mĩ – Diệm từ 1957-1959:

- Chủ trương của Đảng ta: Tháng 1/1959,
b. Diễn biến của phong trào “Đổng khởi”:
- Từ tháng 2 đến tháng 8/1959:
* Phong trào Đồng khởi ở Đồng Nai: Trận tập kích Nhà Xanh 7/7/1959:
+ Hoàn cảnh:
+ Diễn biến:
+ Kết quả:
+ Ý nghĩa:

- Ngày 17/1/1960,

- 20/12/1960,
c. Ý nghĩa:
Trong giai đoạn 1954 – 1959, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, nhân dân
miền Nam tiến hành đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm dưới hình thức hòa bình
để giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng. Nhưng từ phong trào “Đồng khởi”
năm 1959 – 1960 trở đi, cách mạng miền Nam đã hoàn toàn chuyển từ thế giữ gìn
lực lượng sang thế tiến công. Vậy phong trào Đồng khởi đã diễn ra như thế nào,
quân dân Nam bộ nói chung và quân dân Đồng Nai nói riêng đã giành được những
thắng lợi ra sao? Tiết học hôm nay chúng ta sẽ cùng đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi
đó.
3. Tổ chức hoạt động dạy và học ở trên lớp:
- Nội dung tích hợp: Trận tập kích Nhà Xanh ngày 07/7/1959 ở Biên Hòa – Đồng
Nai.
- Hình thức: Tích hợp bộ phận (diễn biến và ý nghĩa của trận đánh).
- Phương pháp: Sử dụng CNTT; tường thuật.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS KIẾN THỨC HS CẦN GHI NHỚ
Hoạt động 1: Cá nhân
Bước 1: GV nêu tình huống có vấn đề và yêu
III. MIỀN NAM ĐẤU
TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ MĨ –
DIỆM. GIỮ GÌN VÀ PHÁT
TRIỂN LỰC LƯỢNG CÁCH
MẠNG, TIẾN TỚI “ĐỒNG
KHỞI” (1954-1960).
1.Đấu tranh chống chế độ Mĩ -
Diệm, giữ gìn phát triển lực lượng
cách mạng (1954-1959)
(Hướng dẫn học sinh đọc thêm)
GV: Chu Thị Hằng
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status