I.Tổng quan về cạnh tranh thuế
1.Khái niệm cạnh tranh thuế:
Cạnh tranh thuế tồn tại khi các chính phủ được khuyến khích để giảm gánh nặng tài
chính hoặc khuyến khích dòng chảy của nguồn lực sản xuất hoặc ngăn cản sự di cư của
các nguồn tài nguyên. Thường thì điều này có nghĩa là một chiến lược của Chính phủ
trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài , đầu tư gián tiếp nước ngoài (đầu tư tài
chính), và nguồn nhân lực có giá trị cao bằng cách giảm thiểu mức thuế tổng thể hoặc
đưa ra các ưu đãi về thuế, ưu đãi đặc biệt, tạo ra một lợi thế so sánh .
2.Các quan điểm xung quanh vấn đề cạnh tranh thuế
a.Quan điểm về lợi ích cho người lao động hay cho chủ đầu tư
• Một số nhà quan sát cho rằng sự cạnh tranh thuế là một phần trung tâm của một
chính sách của chính phủ để cải thiện rất nhiều về vấn đề lao động bằng cách tạo ra
công ăn việc làm được trả lương cao (thường ở các nước hoặc khu vực có triển vọng
nghề nghiệp rất hạn chế).
• Người khác lại cho rằng nó có lợi chủ yếu cho các nhà đầu tư.Nhiều nhà kinh tế
cho rằng việc cạnh tranh thuế sẽ đem lại nguồn thu thuế tăng thêm do khi giảm thuế sẽ
kích thích đầu tư, tăng trưởng kinh tế.
b.Quan điểm ủng hộ cạnh tranh thuế và phản đối cạnh tranh thuế
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một cách thu hút doanh nghiệp đến đầu tư là giảm
thuế, đặc biệt là thuế thu nhập. Xu hướng cạnh tranh thuế quốc tế đang tăng lên do tính
lưu động ngày càng cao của vốn và lao động. Có nhiều ý kiến ủng hộ cũng như chỉ
trích xu hướng này.
• Phe ủng hộ giảm thuế thường lấy Ireland làm ví dụ. Quốc gia 3,8 triệu dân này
có thuế thu nhập công ty chỉ 10% và trong vài năm qua nhận được đầu tư trực
tiếp nước ngoài nhiều hơn cả Nhật hay Ý. Thu nhập bình quân đầu người của
Ireland đã nhanh chóng bắt kịp với các nước còn lại ở châu Âu. Có ba lập luận
thường được đưa ra. Thứ nhất, một nước có thuế thấp sẽ thu hút nhiều doanh
nghiệp. Thứ hai, thuế thấp sẽ làm giảm mất mát vô ích do đánh thuế. Cuối cùng,
cạnh tranh thuế làm cho các chính phủ mất thế độc quyền và buộc phải trở nên
hiệu quả hơn. Ngoài ra nó cũng đã được lập luận rằng cũng giống như cạnh
tranh là tốt cho các doanh nghiệp, cạnh tranh là tốt cho các chính phủ vì nó thúc
hội nhập và cạnh tranh thuế quốc tế.
1.Những thay đổi hệ thống thuế Việt Nam sau khi gia nhập ASEAN
a.Thuế thu nhập doanh nghiệp
Điểm nổi bật đáng nói đến nhất chính là việc thay đổi từ thuế lợi tức sang thuế thu
nhập doanh nghiệp.Trước khi gia nhập ASEAN thì VN sử sụng Thuế Lợi Tức. Đến
0/5/1997, Quốc hội đã thông qua luật thuế TNDN, có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/01/1999.
Cụ thể:
• Theo quy định của luật thuế TNDN năm 2008 thì thuế thu nhập doanh
nghiệp chỉ điều tiết vào thu nhập của các tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ, không còn điều tiết thu nhâp của cá nhân có thu nhập
từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (đã được xác định là đối
tượng chịu thuế thu nhập cá nhân).Tức là đã có sự đổi mới tách bạch trong việc
tính thuế TNDN và thuế TNCN
• Về căn cứ tình thuế
Thuế lợi tức : căn cứ tính thuế là tổng lợi tức chịu thuế cả năm (không
phân biệt hoạt động chính, hoạt động phụ, thường xuyên, không thường
xuyên) và thuế suất.
Lợi tức chịu thuế bằng tổng số doanh thu trừ (-) các khoản chi phí kinh
doanh hợp lệ, hợp lý của cơ sở kinh doanh có liên quan đến lợi tức chịu
thuế trong kỳ cộng (+) các khoản lợi tức khác
Thuế TNDN : căn cứ tính thuế TNDN là số thuế TNDN phải nộp = thu
nhập tính thuế x thuế suất
Thu nhập chịu thuế
=
Doanh thu -
Chi phí hợp lý
được trừ
+
Thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được
DN đầu tư vào Việt Nam
Tuy nhiên vs việc áp dụng mức thuế suất thấp khiến nguồn thu từ NSNN sẽ bị
giảm
• Về ưu đãi thuế
So với thuế lợi tức , luật thuế TNDN đã thực hiện nhiều ưu đãi
- Ưu đãi về thuế suất
- Ưu đãi về thừi gian miễn , giảm thuế
- Chuyển lỗ
- Trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp
với việc ưu đãi nhiều hơn sẽ khuyến khích các DN đầu tư , nâng cao cạnh tranh
thuế
Cụ thể về ưu đãi thuế TNDN
Chương 3: luật thuế TNDN
Ðiều 13. Ưu đãi về thuế suất
1. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự
án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ,
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm
phần mềm được áp dụng thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm.
2. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa,
thể thao và môi trường được áp dụng thuế suất 10%.
3. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn được áp dụng thuế suất 20% trong thời gian mười năm.
4. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân được áp dụng thuế suất
20%.
5. Ðối với dự án cần đặc biệt thu hút đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao thì thời
gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài thêm, nhưng thời gian kéo dài thêm không
quá thời hạn quy định tại khoản 1 điều này.
6. Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi quy định tại điều này được tính từ năm đầu tiên
doanh nghiệp có doanh thu.
1. Doanh nghiệp được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam
được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và
công nghệ của doanh nghiệp.
2. Trong thời hạn năm năm, kể từ khi trích lập, nếu Quỹ phát triển khoa học và công
nghệ không được sử dụng hoặc sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng không đúng mục
đích thì doanh nghiệp phải nộp ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp
tính trên khoản thu nhập đã trích lập quỹ mà không sử dụng hoặc sử dụng không đúng
mục đích và phần lãi phát sinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó.
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp dùng để tính số thuế thu hồi là thuế suất áp dụng
cho doanh nghiệp trong thời gian trích lập quỹ.
Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ không sử dụng hết là lãi suất
trái phiếu kho bạc loại kỳ hạn một năm áp dụng tại thời điểm thu hồi và thời gian tính
lãi là hai năm.
Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ sử dụng sai mục đích là lãi
phạt chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế và thời gian tính lãi là khoảng thời
gian kể từ khi trích lập quỹ đến khi thu hồi.
3. Doanh nghiệp không được hạch toán các khoản chi từ Quỹ phát triển khoa học và
công nghệ của doanh nghiệp vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
trong kỳ tính thuế.
4. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp chỉ được sử dụng cho đầu
tư khoa học và công nghệ tại Việt Nam.
Dưới đây là bảng số liệu tình hình thu hút vốn FDI sau khi Việt Nam gia nhập
ASEAN :
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1991 -
2006Số dự án
Tổng vốn đăng
ký (Triệu đô la
2003
791 3191.2 2650.0
2004
811 4547.6 2852.5
2005
970 6839.8 3308.8
2006
987 12004.0 4100.1
Nhìn chung do nhiều yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế trong đó có ảnh hưởng từ việc cải
cách thuế nhằm cạnh tranh thuế mà tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nhìn
chung là tăng đều trong các năm từ 1995 đến 2006.Có thể nói từ khi chuyển từ thuế lợi
tức sang thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân tuy ban đầu có gây ra sự
sụt giảm nhất định cho ngân sách nhà nước tuy nhiên ngay sau đó nguồn thu ngân sách
các năm sau đó đã tăng mạnh nhờ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân thông
qua sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước cũng như sự gia tăng của các khoản
đầu tư FDI vào Việt Nam
b.Thuế xuất nhập khẩu
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được nhà nước ta ban hành vào năm 1951,thời điểm
này thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ để nhà nước thực hiện chức năng quản
lý việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá giữa vùng tự do và vùng bị tạm chiếm, bảo vệ
và phát triễn kinh tế vùng tự do, xúc tiến việc giao lưu các loại hàng hoá là nhu yếu
phẩm cần thiết cho quân đội và nhân dân. Phương châm đấu tranh kinh tế với địch là
đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ nhập khẩu các loại hàng hoá cần thiết cho kháng chiến,
sản xuất và đời sống nhân dân. Do đó, nhà nước miễn thuế xuất khẩu cho tất cả các
loại hàng hoá của vùng tự do. Mặt khác, hạn chế nhập khẩu hàng hoá từ vùng địch.
Thuế suất áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu là từ 30 % trở lên.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch được Quốc hội nước ta ban hành
ngày 29 -12 -1987. Ðạo luật này chỉ điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế phát sinh từ hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu hàng mậu dịch. Do đó có sự phân biệt trong áp dụng chế độ
thu thuế giữa hàng hoá mậu dịch với các loại hàng hoá phi mậu dịch khác.
thực hiện giảm thuế với thuế suất cuối cùng là 0-5% vào năm 2006.
Đồng thời, các bước giảm sau khi đưa vào IL phải được thực hiện chậm
nhất là 2-3 năm một lần và mỗi lần giảm không ít hơn 5%.
Các mặt hàng thuộc danh mục SL sẽ bắt đầu giảm thuế từ 1/1/2004 và
kết thúc vào 1/1/2013 với thuế suất cuối cùng là 0-5%. Riêng mặt hàng
đường vào năm 2010 :0-5%.
Các mặt hàng đã đưa vào chương trình giảm thuế và được hưởng nhượng
bộ thì phải bỏ ngay các quy định về hạn chế số lượng (QRs) và bỏ dần
các biện pháp hạn chế phi quan thuế khác (NTBs) 5 năm sau đó.
Danh mục giảm thuế (IL) bao gồm những mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế quan
để đến khi hoàn thành CEPT sẽ có thuế suất 0-5%. Ngay sau khi ký CEPT, mỗi
nước ASEAN phải đưa ra IL của mình để bắt đầu giảm thuế quan từ năm 1993.
Trên thực tế, không phải mặt hàng nào trong IL cũng thực sự phải giảm thuế
quan, vì có những mặt hàng trước khi đưa vào IL đã có thuế suất dưới 5%, thậm
chí bằng 0%.
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) bao gồm những mặt hàng chưa đưa vào giảm
thuế quan ngay, do các nước thành viên ASEAN phải dành thêm thời gian để
điều chỉnh sản xuất trong nước thích nghi với môi trường cạnh tranh quốc tế gia
tăng.
Sau ba năm kể từ khi tham gia CEPT, các nước ASEAN phải bắt đầu chuyển
dần các mặt hàng từ TEL sang IL, tức là bắt đầu giảm thuế quan đối với những
mặt hàng này. Quá trình chuyển từ TEL sang IL được phép kéo dài trong 5 năm,
mỗi năm phải chuyển được 20% số mặt hàng. Điều đó có nghĩa là đến hết năm
thứ tám thì IL đã mở rộng bao trùm toàn bộ TEL, và TEL không còn tồn tại.
Khi đưa mỗi mặt hàng vào IL, các nước đồng thời phải chỉ ra lịch trình giảm
thuế quan của mặt hàng đó cho đến khi hoàn thành CEPT.
Ví dụ: Khi tham gia CEPT vào năm 1993, IL của nước A bao gồm 50 mặt hàng,
TEL của nước này có 100 mặt hàng. Từ năm 1996, nước A phải bắt đầu chuyển
TEL sang IL. Nếu mỗi năm chuyển đều 20% thì năm 1996, IL của nước này có
50 + (100*20%) = 70 mặt hàng và TEL giảm đi còn 100 - (100*20%) = 80 mặt
tại Việt Nam từ ngày 1/1/2003. Tuy nhiên, ngày 10/1/2003, Bộ Tài chính đã thông báo
việc cắt giảm đó sẽ được thực hiện lùi lại 7 tháng, vào ngày 1/7.
Đến ngày 1/7, 1.416 mặt hàng thuộc TEL được chuyển sang IL. Đa số đó là những mặt
hàng hiện đang được bảo hộ với mức thuế suất rất cao (30-100%), hoặc đang được
quản lý bằng hạn ngạch như xi măng , giấy , hàng điện tử, điện gia dụng , cơ khí, vật
liệu xây dựng
Chính nhờ những chính sách cải cách về thuế XNK đã đem lại những thay đổi tích cực
đáng kể cho kim nghạch xuất nhập khẩu Việt Nam cùng những sự thay đổi trong nền
kinh tế quốc dân :
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào ASEAN: 1995: 1,1 tỷ USD ; 1996: 1,136 tỷ
USD; 1997: 1,9 tỷ USD; 1998: 2,3 tỷ USD; 1999: 2,4 tỷ USD; 2000: 2,6 tỷ USD;
2001: 2,5 tỷ USD; 2002: 2,42 tỷ USD; 2003: 2,9 tỷ USD; 2004: 3,87 tỷ USD.
Về đầu tư: tháng 6-1995, các nước ASEAN đầu tư vào Việt Nam gần 200 dự án với
tổng số vốn pháp định trên 2 tỷ USD, chiếm 15% FDI vào Việt Nam thời điểm đó. Đến
năm 2004, ASEAN đã đầu tư trên 600 dự án với tổng số vốn đăng ký trên 10 tỷ USD,
chiếm 27% FDI vào Việt Nam, đứng đầu là Singapore với 8 tỷ USD.
Các khu công nghiệp của ASEAN tại Việt Nam: Khu công nghiệp Việt Nam •
Singapore (Bình Dương), Khu công nghiệp Việt Nam Thái Lan AMATA (Đồng Nai),
Khu công nghiệp Việt Nam Malaysia (Khu chế xuất Đà Nẵng), Khu công nghiệp Việt
Nam Malaysia (Nội Bài, Hà Nội)
2.Những thay đổi hệ thống thuế Việt Nam sau khi gia nhập WTO
a.Thuế thu nhập doanh nghiệp
Những thay đổi đáng kể nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam từ năm
2007 có thể được thấy rõ như sau :
• Sau khi gia nhập WTO để có thể thu hút được vốn đầu tư từ nước ngoài FDI
chính phủ đã có 1 số quyết định giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng thêm
ưu đãi kể từ ngày 1/1/2009, thuế TNDN sẽ chính thức áp dụng mức mới là 25%,
giảm 3% so với mức cũ. Mức thuế mới này đã được Quốc hội thông qua ,vì
mục đích khuyến khích hoạt động đầu tư, sản xuất. Mặc dù mức giảm trước mắt
có thể khiến ngân sách nhà nước giảm thu mỗi năm chừng hơn 5.000 tỉ đồng
doanh nghiệp có tổng số lao động sử dụng thường xuyên bình quân 2012 trên
300 người, chưa kể lao động có hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng.Ngoài ra còn
các ưu đãi về đầu tư khác được quy định cụ thể trong luật thuế thu nhập doanh
nghiệp.
Những tác động tới nền kinh tế Việt Nam thông qua thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
:
• Theo số liệu của Bộ Tài chính giai đoạn 2007 - 2012, thu thuế luôn chiếm tỷ
lệ rất cao trong tổng ngân sách. Tỷ lệ bình quân giai đoạn 2007 - 2011 là
81,5%. Riêng năm 2012, tỷ lệ này được kỳ vọng là 91,14%. Trong tổng 12
nguồn thu từ các loại thuế, thu nhập doanh nghiệp và VAT chiếm tỷ trọng
cao nhất qua các năm (bình quân trên 30% mỗi loại). Tỷ lệ nguồn thu từ thuế
trên tổng GDP hiện cũng rất cao, bình quân lên tới 23% một năm.
• Sau 6 năm giảm sút nghiêm trọng (1999- 2004), làn sóng FDI thứ hai được
bắt đầu từ năm 2005 có bước đột phá trong năm 2007-2008 với mức tăng
trưởng khá cao. Cụ thể, năm 2006 vốn thực hiện là 4,1 tỷ USD và vốn đăng
ký là 12 tỷ USD thì đến năm 2007 các con số tương ứng là 8,03 tỷ USD và
và 21,34 tỷ USD, rồi lên tới 11,6 tỷ USD và 64 tỷ USD trong năm 2008.
• Theo số liệu thống kê của Cục đầu tư nước ngoài , FDI năm 2009 giảm khá
nhiều so với năm trước đó (vốn thực hiện và vốn đăng ký lần lượt là 19,7 tỷ
USD và 9 tỷ USD tính đến 11/2009 ). Dù vậy, đây vẫn là kết quả đáng khích
lệ trong điều kiện FDI quốc tế sụt giảm nhiều và FDI của nhiều nước trong
khu vực giảm 20- 30%. Thực trạng đó phản ánh độ tin cậy của các nhà đầu
tư nước ngoài đối với Việt Nam khá cao.
Có được thành công này cũng là một phần do chính sách giảm thuế để thu
hút vốn đầu tư từ nước ngoài.Các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam
cũng được hưởng chính sách ưu đãi nhưu là miễn thuế trong những năm đầu
, giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp để nâng cao sản xuất trong một
só lĩnh vực mà Việt Nam còn chưa phát triển
b.Thuế xuất nhập khẩu.
Những điểm đổi mới về thuế xuất nhập khẩu từ khi Việt Nam gia nhập
cuối lộ
trình
Mức
giảm so
với thuế
MFN
hiện
hành
Mức cắt giảm TS tại
vòng Uruguay
Nước PT Nước đang
PT
Sản phẩm
nông
nghiệp
23,5 25,2 21,0 10,6 40 30
Sản phẩm
công
nghiệp
16,6 16,1 12,6 23,9 37 24
Chung
toàn biểu
17,4 17,2 13,4 23,0
Nguồn: Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế
-Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế
(chiếm 35,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng
3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc theo mức thuế trần – cao
hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế),
chủ yếu là đối với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số phương
tiện vận tải.
ngành hàng như: nông thổ sản, rau quả tươi, cà phê… với mức giảm từ 1-7%, trong đó,
đa số các mặt hàng có mức giảm 2-3%.
Theo lộ trình, năm 2009, chính phủ tiếp tục cắt giảm 1.770 dòng thuế trong 337 nhóm
mặt hàng với mức giảm dao động trong khoảng từ 1-10%. Năm 2010, số dòng thuế
được giảm là trên 1.650 với mức giảm thêm từ 1-6%.
-Năm vừa qua đã cắt giảm 924 dòng thuế, mức cắt giảm cao nhất là 10% như xì gà từ
120% xuống 110%, giảm thấp nhất là 1%, còn lại chủ yếu là từ 1-3%. Đặc biệt, thực
hiện kiên định mục tiêu đã đề ra, năm 2011, Việt Nam tiếp tục giữ các mức thuế suất
trần theo cam kết WTO đối với một số nhóm hàng có mức thuế cao và mang tính chất
nhạy cảm như thuế thuốc lá 135%, xì gà 110%, ô tô nguyên chiếc 82% và 77% với
rượu, bia.
-Nhìn chung các cam kết về thuế được thực hiện tuân thủ đầy đủ các cam kết trong
WTO theo đúng lộ trình. Mức thuế bình quân giản đơn của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
năm 2011 là 10,47% và trong một số trường hợp, mức thuế suất áp dụng đã được quy
định thấp hơn so với mức cam kết để phù hợp với mục tiêu điều hành kinh tế vĩ mô và
khuyến khích sản xuất kinh doanh trong nước, thúc đẩy xuất khẩu, trong đó chủ yếu là
nhóm hàng vật tư, nguyên nhiên vật liệu, linh kiện phục tùng và máy móc, thiết bị
trong nước không sản xuất được…
-Đặc biệt, năm 2012 là năm có sự thay đổi lớn, theo đó, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
năm 2012 gồm 9.558 dòng thuế, tăng 1.258 dòng thuế. Trong số 9.558 dòng thuế này
thì phải cắt giảm 945 dòng thuế theo cam kết WTO cho năm 2012 với mức cắt giảm
chủ yếu từ 1-3%, gồm các mặt hàng thủy hải sản, hoa quả, thực phẩm chế biến, bánh
kẹo, rượu, thuốc lá…
Có thể nói, Thông qua việc thực hiện các cam kết với WTO, Việt Nam cũng đã từng
bước củng cố, cải cách kinh tế quốc gia ở các lĩnh vực, trong đó, dịch vụ tài chính và
thuế quan là những lĩnh vực chủ chốt đã có những thay đổi đáng kể.
Tiêu cực:Bên cạnh những mặt tích cực, việc gia nhập WTO cũng đặt ra những
thách thức mới. Có thể kể đến một số mặt:
+Thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh gia tăng, kể cả trên thị trường trong nước do
ta từng bước phải mở cửa thị trường cho các DN nước ngoài.Rõ ràng khi các rào cản
thương mại từng bước được tháo bỏ,đồng nghĩa với cơ hội cho các DN nước ngoài
xâm nhập vào thị trường trong nước thì sức ép dành cho các DN trong nước ngày một
tăng lên.DN trong nước không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh với DN nước
ngoài lớn mạnh và đầy kinh nghiệm trên thương trường.
+Thứ hai, do đã liên thông với thị trường quốc tế nên những biến động của thế giới tác
động vào Việt Nam nhanh hơn, mạnh hơn.Nếu chúng ta không có biện pháp dự phòng
thì chắc chắn rủi ro sẽ rất lớn.
+ Thứ ba là “từ sông suối ra biển lớn”, các DN Việt Nam sẽ không khỏi bỡ ngỡ, sơ hở,
thua thiệt.Việc phải cạnh tranh trong một môi trường rộng lớn và khắc nghiệt như
WTO khi mới chập chững bước vào khiến DN VN không khỏi lo sợ.Từ trình độ tổ
chức quản lý đến vấn đề khoa học công nghệ chúng ta đều thua thiệt.Tuy vậy đây cũng
là cơ hội để chúng ta tự hoàn thiện bản thân cũng như học hỏi từ những đối thủ cạnh
tranh của mình.
III.Những giải pháp đề xuất cải cách thuế Việt Nam trong thời gian tới nhằm tích
cực phát huy những lợi thế đạt được từ cạnh tranh thuế.
Là một công cụ của chính sách quản lý kinh tế, chính sách thuế phải hướng vào thực
hiện các mục tiêu tổng thể của chính sách kinh tế mà Đại hội Đảng lần thứ XI của VN
đề ra: “Đưa đất nước ta đi lên; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại . Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu
hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta
trên trường quốc tế được nâng cao”.
Tuy nhiên, với tư cách là một công cụ trọng tâm của chính sách tài chính quốc gia,
liên quan đến việc huy động và phân bổ các nguồn lực tài chính của xã hội, nên vấn đề
xuyên suốt của chính sách thuế là phải thực hiện các mục tiêu có tính đặc thù của